Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn/ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM LÊ THỊ THOA
TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2012
TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP
Ở HUYỆN KIM SƠN, TỈNH NINH BÌNH
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2012
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Phƣơng Chi
Thái Nguyên, 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả các thầy cô giáo
trong Khoa Lịch sử, đặc biệt là những thầy cô giáo ở chuyên ngành Lịch sử
Việt Nam, những người đã giảng dạy và động viên tôi trong suốt hai năm học
vừa qua giúp tôi hoàn thành nghiên cứu và hoàn thiện nghiên cứu đề tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Chi,
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Qua đây, cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những người
đã luôn ở cạnh tôi trong những lúc khó khăn nhất và giúp tôi có được thành
quả ngày hôm nay.
Luận văn này là kết quả bước đầu của quá trình nghiên cứu khoa học
song do điều kiện năng lực và thời gian còn hạn chế, đề tài nghiên cứu không
tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp, bổ sung của
các thầy cô và các bạn để công trình thêm hoàn thiện
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2014
Tác giả luận văn Lê Thị Thoa
iii
MỤC LỤC
Trang
yếu từ năm 1986 đến năm 1996 37
2.2.3. Một số nghề tiểu thủ công nghiệp ở huyện Kim Sơn 42
2.2.4. Các làng nghề tiêu biểu 46
Tiểu kết 49
Chƣơng 3. TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN KIM SƠN TỪ NĂM
1996 ĐẾN NĂM 2012 51
3.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về TTCN và sự vận dụng
của chính quyền địa phương từ năm 1996 – 2012 51
3.2. Số lượng, cơ sở sản xuất, sản phẩm lao động 58
3.3. Về chất lượng sản phẩm 63
3.4. Về thị trường tiêu thụ sản phẩm 66
3.5. Về mối quan hệ trong sản xuất 67
3.5.1. Quan hệ giữa cơ sở sản xuất với quản lý Nhà nước 67
3.5.2. Mối quan hệ giữa chủ, thợ trong sản xuất 69
3.6. Tác động của tiểu thủ công nghiệp đối với sự phát triển kinh tế – xã hội 70
3.6.1. Đối với kinh tế 70
3.6.2. Đối với xã hội 72
3.6.3. Đối với du lịch 81
3.7. Những hạn chế của tiểu thủ công nghiệp ở huyện Kim Sơn 82
Tiểu kết 84
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1: Thống kê lao động trong độ tuổi theo cơ cấu ngành nghề 18
vùng nông thôn Việt Nam. Trong xu hướng đổi mới nền kinh tế nông thôn
thì sự phát triển của các nghề tiểu thủ công nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đồng thời vẫn giữ
gìn và phát triển các giá trị truyền thống của làng quê Việt Nam. Cùng với
sự phát triển của tiểu thủ công nghiệp thì làng nghề cũng phát triển và ngày
càng mở rộng, đã góp phần giải quyết việc làm cho nông thôn, đặc biệt là
tạo cơ hội việc làm cho những người trong độ tuổi và người khuyết tật.
Chính vì những tác dụng to lớn mà ngành tiểu thủ công nghiệp đưa lại nên
việc duy trì và phát triển tiểu thủ công nghiệp luôn được nhà nước và các
cấp chính quyền địa phương quan tâm.
Trong bối cảnh hiện nay, các ngành sản xuất phi nông nghiệp như tiểu
thủ công nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, ngày càng phát triển. Ở Kim Sơn, nền
2
kinh tế nông nghiệp có thế mạnh chủ yếu “Với đất đai phì nhiêu, chủ yếu do
phù sa bồi tụ, hệ thồng thuỷ lợi phát triển nên Kim Sơn là huyện có năng suất
lúa cao của tỉnh Ninh Bình; cây cói phát triển mang lại nghề thủ công truyền
thống chế biến cói với số lượng lớn, xuất khẩu cói giá trị kinh tế cao…” [4;
15]. Bên cạnh đó, tiểu thủ công nghiệp ở đây cũng được chú trọng bởi nó
cũng đã tác động đến đời sống của nhân dân.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cũng như các cấp chính
quyền địa phương, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật nên tiểu thủ
công nghiệp ở Kim Sơn luôn tăng trưởng mạnh và có nhiều đột phá, đã đóng
góp lớn cho sự phát triển kinh tế của huyện làm thay đổi đời sống nhân dân và
diện mạo xã hội. Chính vì lý do trên tôi đã chọn đề tài “Tiểu thủ công nghiệp
ở huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình từ năm 1986 đến năm 2012” làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Các công trình nghiên cứu của PGS-TS Đào Tố Uyên như: Công cuộc
khẩn hoang thành lập huyện Kim Sơn 1829 (Luận án Tiến Sĩ khoa học Lịch
sử, 1991) ); Ấp Thủ Trung huyện Kim Sơn – tỉnh Ninh Bình ở nửa đầu thế kỷ
XIX (Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3, Hà Nội, tháng 12/2008);
Những điểm tương đồng và khác biệt giữa nông thôn Việt Nam và nông thôn
Hàn Quốc qua khảo sát các làng ấp ở Kim Sơn – Ninh Bình thế kỷ XIX (Hội
nghị quốc tế Việt – Hàn, Hà Nội, tháng 1/2009). Đây là những tài liệu quý
được nghiên cứu rất công phu và đầy tâm huyết của PGS-TS Đào Tố Uyên,
qua đây chúng ta hiểu được cụ thể về quá trình khai hoang lập ra huyện Kim
Sơn và những nét đặc trưng về cách thức tổ chức làng ấp và việc phân bố
ruộng đất ở huyện Kim. Ngoài ra, còn phải kể đến cuốn “Công cuộc khẩn
hoang thành lập huyện Kim Sơn”, tác giả Đào Tố Uyên, Nguyễn Cảnh Minh,
năm 2012. Cuốn sách này đã thể hiện một cách đầy đủ và khoa học về quá
trình hình thành huyện Kim Sơn giúp người đọc hình dung được huyện Kim
4
Sơn trước khi thành lập cho đến khi hình thành nên một khu vực hành chính
mới vào cuối năm 1829.
Bên cạnh đó còn có một số bài viết về nghề sản xuất cói và chiếu cói ở
Kim Sơn như: Những giải pháp chủ yếu phát triển nghề đan cói ở Kim Sơn,
Ninh Bình, tác giả Bùi Văn Tiến, Đinh Văn Đãn, Tạp chí Khoa học và Phát
triển (2008), Tập VI, số 4. Qua bài viết này hai tác giả đã phân tích những khó
khăn của nghề đan cói ở Kim Sơn và đưa ra các giải pháp cho ngành đan cói
ở Kim Sơn. Một số bài viết trên báo điện tử như: Cây cói và nghề cói ở Kim
Sơn, tác giả Trần Hữu, Báo điện tử Ninh Bình, đăng ngày 19/7/2010; Cói mỹ
nghệ Kim Sơn ,tác giả Ngân Hà, Báo ảnh Việt Nam, đăng ngày 07/09/2012.
Các công trình này đều đề cập đến sự phát triển kinh tế của huyện Kim
Sơn, nhưng về tiểu thủ công nghiệp hầu như chưa được nghiên cứu cụ thể, và
3.4. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu về tình hình tiểu thủ công nghiệp
huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1986 - 2012. Đây là giai đoạn phát
triển của tiểu thủ công nghiệp ở Kim Sơn nói riêng và cả nước nói chung nhờ
vào những chính sách đổi mới của Nhà nước.
- Phạm vi không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu về tiểu thủ công
nghiệp ở huyện Kim Sơn.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Để nghiên cứu về vấn đề tiểu thủ công nghiệp ở huyện Kim Sơn giai
đoạn 1986 - 2012, tác giả dựa vào một số nguồn tư liệu sau:
- Các Nghị quyết của Đảng bộ huyện Kim Sơn
- Nguồn tư liệu thành văn gồm các sách viết về huyện Kinh Sơn đã
xuất bản như: Lịch sử Đảng bộ huyện Kim sơn; Công cuộc khai hoang thành
lập huyện Kim Sơn (Kỷ sửu 1829).
- Các sách chuyên khảo;
- Các bài viết công bố trên tạp chí khoa học;
6
- Tư liệu điền dã.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Tác giả sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp
lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic.
- Vì đặc trưng của đề tài tại địa phương nên tác giả sử dụng phương
pháp điền dã.
- Ngoài ra tác giả sử dụng phương pháp : phân tích, thống kê.
5. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ thống về ngành tiểu
1.1.1. Vị trí địa lý
Ninh Bình là một vùng đất có truyền thống lâu đời, đã sinh ra nhiều anh
hùng dân tộc, đã từng là cố đô của hai triều đại Đinh, Tiền Lê trong khoảng
nửa thế kỷ, đây là niềm tự hào lớn của nhân dân Ninh Bình. Nằm ở phía nam
đồng bằng sông Hồng, có vị trí giao thông huyết mạch của đất nước chạy từ
Bắc vào Nam, có nhiều nguồn tài nguyên rừng quý hiếm và nhiều danh lam
thắng cảnh nổi tiếng như: Vườn quốc gia Cúc Phương, khu Tam Cốc Bích
Động, khu du lịch sinh thái Tràng An, chùa Bái Đính linh thiêng, chùa Đồng
Đắc, nhà thờ Đá Phát Diệm (Kim Sơn)…
Kim Sơn là huyện đồng bằng ven biển nằm ở phía đông nam tỉnh Ninh
Bình, phía bắc giáp huyện Yên Khánh, huyện Yên Mô (Ninh Bình), phía
đông giáp huyện Nghĩa Hưng (Nam Định), phía tây giáp huyện Nga Sơn
(Thanh Hoá). Có gần 20 km đường biển, hàng năm được sông Hồng và sông
Đáy bồi đắp với lượng phù sa lớn.
Khi chưa có cuộc khẩn hoang của nhà Nguyễn thì Kim Sơn còn là một
vùng bãi bồi mênh mông, hoang sơ, thuộc phủ Trường Yên với diện tích khá
rộng khoảng hơn 300 mẫu. Vào cuối thập kỷ thứ 3 của thế kỷ XIX, trước sự
cấp bách của việc giải quyết hậu quả của các cuộc khởi nghĩa nông dân đặc
biệt là cuộc khởi nghĩa nông dân do Phan Bá Vành lạnh đạo “cuộc khởi nghĩa
Phan Bá Vành và những ảnh hưởng to lớn về chính trị, xã hội của nó như một
tiếng chuông cảnh tỉnh, làm nảy sinh trong bộ phận giai cấp thống trị một xu
hướng tỉnh táo và thực tiễn hơn, chủ trương rằng để bảo vệ chế độ, dập tắt
triệt để phòng trào khởi nghĩa nông dân thì riêng một biệt pháp bằng vũ lực
thôi không đủ, cần có biện giả quyết yêu cầu ruộng đất…”[42; 37].
8
Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ là một vị quan thanh liêm, tài giỏi,
ông đã lập nhiều công lớn cho triều đình nhà Nguyễn. Ông đặc biệt quan tâm
Bắc của tổ quốc. Và các tuyến đường do huyện quản lý các tuyến đường này
9
tạo điều kiện cho việc giao thông đi lại trong huyện để nhân dân trao đổi buôn
bán những mặt hàng nông phẩm và các sản phẩm thủ công nghiệp.
Cuối thế kỷ XIX, Kim Sơn có các chợ lớn đó là chợ Hồi Thuần, Quy
Hậu, Phú Vinh, Đồng Đắc. Sau năm 1945, trung tâm huyện chuyển về thị trấn
Phát Diệm, chợ Nam Dân trở thành chợ huyện có quy mô lớn thu hút cư dân
các vùng lân cận như Thanh Hoá, Nam Định sang trao đổi buôn bán nông sản,
hải sản và hàng thủ công. Chợ hoạt động suốt ngày trong tháng, nên việc trao
đổi buôn bán diễn ra rất sầm uất. Hiện nay, trên địa bàn huyện có 12 chợ gồm:
Chợ Xuân Thiện, Chính Tâm, Chất Bình, Quy Hậu, Nam Dân,Văn Hải….chợ
ở đây vừa là nơi trao đổi buôn bán các mặt hàng thiết yếu trong đời sống sinh
hoạt của nhân dân đặc biệt là các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp, vừa là nơi
thể hiện sõ mức sống của người dân trong thời kỳ phát triển kinh tế hiện nay.
Với vị trí địa lý và có các tuyến giao thông thuận tiện cho việc di
chuyển sang các vùng phụ cận. Điều này sẽ tạo điều kiện cho huyện giao lưu,
trao đổi buôn bán và giao lưu văn hoá giữa Kim Sơn với các huyện khác. Kim
Sơn còn là một huyện trẻ có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế và là một trong
những vùng trọng điểm về phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Ninh Bình.
1.1.2. Điều kiện tự nhiên
1.1.2.1. Địa hình
Địa hình Kim Sơn tương đối bằng phẳng, không có đồi núi, độ cao thấp
dần ra phía biển, nghiêng theo hướng tây - bắc, đông - nam. Độ cao trung
bình so với mực nước biển là 0,9 cho đến 1,2m, điểm thấp nhất là ở Cồn Thoi
khoảng 0,4m so với mực nước biển. Tổng diện tích đất tự nhiên là 215.370
km
2
cao nhất là 36 - 39
0
c, còn mùa đông nhiệt độ có thể hạ thấp từ 8 - 10
o
c. Nền
nhiệt này đã có ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp cũng như tác
động mạnh đến các ngành tiểu thủ công nghiệp vì nhiệt độ có thể ảnh hưởng
đến việc làm khô các sản phẩm làm ảnh hưởng đến năng suất lao động.
Chế độ mưa có hai mùa rõ rệt, mùa mưa tương ứng với mùa hè, mùa ít mưa
là mùa đông. Tổng lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.800 - 1.900mm với
11
số ngày mưa trung bình là 135 - 145 ngày. Lượng mưa ở đây phụ thuộc vào
nhiều yếu tố gây mưa như bão, hội tụ nhiệt đới. Vì thế tổng lượng mưa phân
bố theo trong các tháng cũng thay đổi. Mức độ giao động của lượng mưa ảnh
hưởng mạnh đến phân bố sản xuất kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp, đòi hỏi
phải có các giải pháp phù hợp về thuỷ lợi đặc biệt là việc nạo vét kênh mương
luôn được chính quyền quan tâm thực hiện để phù hợp với những biến động
ngày càng khác nhiệt của tự nhiên.
Với khoảng 20 km bờ biển nên Kim Sơn thuộc miền khí hậu ẩm ướt,
thường xuyên có hiện tượng nồm ẩm ảnh hưởng lớn đến việc bảo quản hàng
nông phẩm và các sản phẩm thủ công nghiệp như chiếu cói, các sản phẩm làm
từ bèo tây. Độ ẩm biến đổi theo mùa, mùa ít mưa thì độ ẩm tương đối thấp,
mùa mưa thì độ ẩm có thể ở mức 70 - 90%.
Kim Sơn nằm trong vùng chịu ảnh hưởng của nhiều cơn bão từ biển
Đông đổ vào. Mùa bão bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 10, mỗi năm có từ 9 - 10
cơn bão với tốc độ gió từ 45 - 50m/s. So với các huyện khác ở Ninh Bình thì
Kim Sơn là vùng chịu nhiều ảnh hưởng của biến đổi khí hậu với các cơn bão
- Tài nguyên đất
Diện tích đất đai ở Kim Sơn được chia thành hai vùng rõ rệt, đó là vùng
đồng bằng và vùng ven biển; đất nông nghiệp chiếm 62,5%, đất lâm nghiệp
chiếm 4,4%, đất chuyên dùng chiếm 12,93% và đất ở chiếm 4,2%.
Thổ nhưỡng ở đây gồm hai loại chính là đất mặn và đất phù sa. Đất phù
sa được tạo thành do quá trình lắng đọng phù sa của sông Hồng và sông Đáy.
Thành phần cơ giớ đất biến động từ đất cát pha đến đất sét tuỳ thuộc vào điều
kiện bồi tụ vào địa hình. Phần lớn đất có tình dẻo cao, có hàm lượng các bon
hữu cơ, đạm, kali rất nhiều.
Đất mặn được hình thành chủ yếu do phù sa lắng đọng trong môi
trường nước mặn, nước lợ hoặc bị nhiễm mặn do thuỷ triều, một phần do hơi
nước mặn được gió đưa vào. Đất mặn ở đây được chia làm hai loại: đất mặn
điển hình và đất mặn trung bình. Đất mặn điển hình có thành phần cơ giới
13
chắc, giàu lân và kali, lượng các bon hữu cơ thấp, thuận lợi cho việc khai thác
nuôi trồng thuỷ sản. Diện tích đất mặn trung bình và ít có độ phì tiềm tàng lớn
có thể đầu tư thâm canh để trồng các giống lúa có năng suất cao, một phần
diện tích có thể trồng cói để lấy nguyên liệu cho sản xuất tiểu thủ công nghiệp
và cải tạo đất.
Với thành phần đất như trên đã tạo điều kiện cho Kim Sơn phát triển
trồng các loại cây trồng như lúa, ngô, phát triển các cây công nghiệp ngắn
ngày có giá trị kinh tế cao như cói, đay, đậu tương…Ngoài ra, ở Kim Sơn còn
có thế mạnh nuôi trồng thuỷ hải sản như tôm, cua, ngao, cá…Điều này đã tạo
điều kiện cho huyện phát triển một nền kinh tế đa dạng nhiều ngành nghề và
đa dạng về các hình thức sản xuất.
- Tài nguyên nước
Kim Sơn có nguồn nước mặt phong phú, được phân bố ở hầu hết các
Kim Sơn có 431 chùa, đình, đền, miếu, phủ, từ đường, nhà thờ đạo
Thiên chúa. Nhiều di tích có tiềm năng lớn về du lịch tâm linh như: Đền thờ
nhà Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ - Người khai khẩn ra huyện Kim Sơn;
chùa Đồng Đắc, xã Đồng Hướng - Ngôi chùa được xây dựng đầu tiên ở
huyện; Đặc biệt là Nhà thờ Đá Phát Diệm - một công trình kiến trúc tiêu biểu
bằng đá, được xây dựng từ năm 1890 và hoàn thành vào năm 1924, đây là
một điểm đến hấp dẫn trong các tour du lịch Ninh Bình.
Tài nguyên văn hoá phi vật thể
Kết hợp với các di tích vật thể, Kim Sơn có nhiều lễ hội dân gian
truyền thống như: Lễ hội đền thờ Nguyễn Công Trứ; Hội vật; Lễ hội đua chải
mừng ngày 2/9…, các lễ hội này đã thể hiện được nét văn hoá riêng của vùng,
tái hiện được phong tục, tập quán đã được lưu giữ từ lâu đời. Bên cạnh đó văn
hoá ẩm thực cũng rất phong phú và đa dạng với nhiều món ăn ngon, hấp dẫn:
Gỏi nhệch, gỏi cá mòi, rươi, bún mọc Tố Như, mắm tép, nước mắm Kim Hải,
15
rượu nếp Lai Thành. Cùng với nhiều làng nghề truyền thống như: Nghề mộc,
dệt chiếu cói, nấu rượu đã tạo nên sức thu hút, hấp dẫn du khách đến với
Kim Sơn.
Với nguồn tài nguyên không được phong phú nhưng người dân Kim
Sơn với bản chất cần cù, thông minh, sáng tạo, đã biết phát huy các thế mạnh
về điều kiện tự nhiên để xây dựng và phát triển quê hương ngày càng giàu
mạnh và là một vùng trọng điểm kinh tế của Ninh Bình.
1.2. Khái quát về quá trình thay đổi địa giới hành chính
Kim Sơn là vùng bãi bồi có tốc độ bồi tụ nhanh, hàng năm mở ra biển
khoảng 80 - 100 m, làm tăng diện tích tự nhiên của huyện khoảng 1,2 - 1,5
km
2
huyện lúc này có 24 xã và hai thị trấn. Năm 1998, theo Nghị định số
108/1997/NĐ-CP ngày 07/11/1997 của Chính phủ, huyện Kim Sơn thành lập
thêm xã Kim Đông, tính đến năm 2012, huyện Kim Sơn có 25 xã và hai thị
trấn (Phát Diệm, Bình Minh).
Trải qua thời gian, cùng với sự thay đổi của lịch sử dân tộc, địa giới
hành chính của Kim Sơn cũng thay đổi để phù hợp với điều kiện chính trị.
Dù có thay đổi địa giới hành chính nhiều lần, nhưng nhân dân trong huyện
vẫn đoàn kết, gắn bó để phát triển kinh tế nhằm xây dựng quê hương ngày
càng giàu mạnh. Hiện nay, địa giới hành chính của huyện đã ổn định và có
quy hoạch khoa học để phù hợp với quy luật phát triển của xã hội.
1.3. Dân cƣ, nguồn lao động
Theo niên giám thống kê huyện Kim Sơn, tổng dân số toàn huyện năm
2012 là 167.654 người (tỷ số dân theo đạo Thiên Chúa chiếm 45,4%); mật độ
dân số đạt 778 người/ km
2
. Nhìn chung giai đoạn 2000 - 2012 việc tăng dân số
của huyện được kiểm soát, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trên địa bàn huyện có xu
hướng giảm. Năm 2012, tỷ lệ dân số nam là 84.275 người, dân số nữ là 83.379
người. Đến nay thì hiện tượng mất cân bằng giới tính cũng thể hiện rõ nét, điều
này có thể ảnh hưởng đến việc sản xuất và phát triển kinh tế của huyện.
17
Việc phân bố dân cư của huyện cũng khá chênh lệch giữa nông thôn và
thành thị. Vì là vùng có nền kinh tế thuần nông nên tỉ lệ dân số ở nông thôn
thường cao hơn ở thành thị, năm 2012 dân số ở nông thôn là 155.646 người
còn ở thành thị chỉ có 12.008 người (theo Niên giám thống kê huyện Kim
Sơn). Qua đây, chúng ta có thể nhận thấy tốc độ đô thị hoá ở huyện đang diễn
ra châm hơn so với một số huyện khác trong cả nước. Tỷ lệ lao động ở nông