Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Ninh Bình từ năm 1992 đến nay Kinh nghiệm và Giải pháp (tóm tắt + toàn văn) - Pdf 22



1

Bộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạoBộ giáo dục và đào tạo
Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học kinh tế quốc dân



Nguyễn chí bínhQUá TRìNH CHUYểN DịCH CƠ CấU NGàNH KINH Tế
TRONG CÔNG NGHIệP HóA, HIệN ĐạI HóA ở TỉNH NINH BìNH Từ
NĂM 1992 ĐếN NAY: KINH NGHIệM Và GIảI PHáP

Chuyên ngành: lịch sử kinh tế
M số: 62310101
Lun ỏn s c bo v trc Hi ng chm lun ỏn cp Nh nc,
hp ti Trng i hc Kinh t Quc dõn,
Vo hi gi, ngy thỏng nm 201 Cú th tỡm hiu lun ỏn ti
- Th vin Quc gia
-
Th vin Trng i hc Kinh t Quc dõn
3

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (CCNKT) là một trong những nội dung
chủ yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) trên phạm vi
từng nước và từng địa phương. Thực tế cho thấy, việc tạo lập cơ cấu kinh tế hợp
lý, trong đó có CCNKT, có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển
bền vững của một nền kinh tế và của địa phương. Do vậy, việc xây dựng
CCNKT hợp lý đã và đang là vấn đề được các nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới, CCNKT cả nước và ở từng địa
phương đã có chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH. Tuy nhiên, cho đến nay,
những yếu kém cơ bản về CCNKT ở nước ta vẫn chưa được khắc phục. Nền
kinh tế chủ yếu vẫn dựa vào các ngành có lợi thế về tài nguyên và lao động chi
phí thấp. Tỷ trọng các loại dịch vụ có giá trị gia tăng cao trong tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) như tài chính, ngân hàng, giáo dục, y tế, bảo hiểm còn thấp,
tỷ trọng công nghiệp chế biến tăng chậm trong khi tỷ trọng ngành nông-lâm-ngư
nghiệp và khai khoáng còn cao. CCNKT địa phương và vùng lãnh thổ cũng tồn
tại nhiều bất cập. Trên thực tế, chính quyền cấp tỉnh còn ít chú trọng đến việc
xây dựng một CCNKT tối ưu và thường theo đuổi các mô hình phát triển và
CCNKT tương tự nhau. Các địa phương cũng ít chú trọng đến việc xây dựng
một CCNKT dựa trên các lợi thế tương đối và lợi thế cạnh tranh của địa phương
mình trên cơ sở định hướng phát triển cả nước và các vùng liên quan. Điều này
dẫn đến tình trạng các địa phương cạnh tranh nhau trong huy động các nguồn
lực cho chuyển dịch CCNKT, làm cho việc sử dụng các nguồn lực này trên cả
nước và ở từng địa phương trở nên kém hiệu quả.
Từ khi tái lập tỉnh (1992) đến nay, cùng với thực hiện CNH, HĐH, quá
trình chuyển dịch CCNKT của tỉnh Ninh Bình đã có sự thay đổi theo hướng tích
cực, phù hợp với động thái phát triển kinh tế của địa phương trong CNH, HĐH.
Điều đó tạo thêm nhiều ngành nghề mới, việc làm mới, gia tăng giá trị hàng hóa

đã chỉ ra một sự lựa chọn hợp lý về dạng CCNKT tương ứng với mỗi giai đoạn
phát triển nhất định của mỗi quốc gia.
Lý thuyết nhị nguyên của Lewis (1954) giải thích quá trình và cơ chế
chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế từ khu vực nông nghiệp với năng suất thấp
và dư thừa lao động sang khu vực công nghiệp có năng suất cao và có khả năng
tự tích lũy. Về cơ bản lý thuyết này đã phản ánh được một số quy luật khách
quan của sự chuyển dịch giữa nông nghiệp và công nghiệp, giữa nông thôn và
thành thị, giữa chuyển dịch dân cư và đô thị hóa trong quá trình phát triển kinh
tế của các nước đang phát triển. Tuy nhiên, mô hình này đã có một số hạn chế
do các giả thuyết đưa ra không phù hợp với thực tế của các nước đang phát triển
hiện nay.
Lý thuyết phát triển cân đối của Nurkse và Rosentein-Rodan không sắp
xếp thứ tự mức độ quan tâm đến các ngành trong nền kinh tế mà cho rằng phải
phát triển đồng đều ở tất cả các ngành kinh tế để chuyển dịch CCKT một cách
nhanh chóng. Lý thuyết này phù hợp với các nước đang phát triển thực hiện
CNH theo hướng nội hoặc thay thế nhập khẩu. Tuy nhiên khi áp dụng vào thực
tế thì đã bộc lộ nhiều nhược điểm, nhất là trong quá trình hội nhập và toàn cầu
hóa đang diễn ra mạnh mẽ.
Akamatsu đã đưa ra lý thuyết phát triển theo mô hình “đàn nhạn bay” để
giải thích sự bắt kịp của các nước đang phát triển đối với các nước phát triển và
nhấn mạnh chuyển dịch CCKT có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình đuổi
kịp này. Nghiên cứu này cũng chỉ ra những ngành nào cần thúc đẩy trong mỗi
giai đoạn CNH. Cho đến đầu thập niên 1990, hầu hết các nhà nghiên cứu kinh
tế đều cho rằng áp dụng lý thuyết đàn nhạn bay để giải thích sự lan tỏa của công
nghiệp tại các nước Đông Á là có cơ sở. 6
2.2. Tổng quan nghiên cứu thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Ngô Đình Giao (1994) với công trình “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

sâu phân tích, đánh giá, nghiên cứu các động thái chuyển dịch CCKT ở cả
ngành kinh tế, thành phần kinh tế và khu vực kinh tế. Đặc biệt là việc đề xuất
các giải pháp cũng như kiến nghị về phương hướng nhằm chuyển dịch CCKT
thủ đô Hà Nội giai đoạn 2000 – 2005 có chú ý gắn với đặc thù của thủ đô.
Công trình nghiên cứu của Nghiêm Xuân Đạt (2005) đã đưa ra những
luận cứ khoa học thực hiện chuyển dịch CCKT thủ đô Hà Nội giai đoạn 2006 -
2010. Nội dung chủ yếu của công trình này là nghiên cứu việc chuyển dịch
CCKT thủ đô Hà Nội giai đoạn 2006 - 2010 hướng đến kỷ niệm đại lễ 1000
năm Thăng Long - Hà Nội với những luận cứ khoa học thuyết phục. 7
Qua tổng hợp các công trình nghiên cứu cho thấy đến nay chưa có công
trình nào nghiên cứu sâu về quá trình chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH ở
tỉnh Ninh Bình. Bên cạnh đó, các công trình cũng chưa đi sâu vào nghiên cứu
quá trình và động thái chuyển dịch CCNKT cũng như sự gắn kết giữa chuyển
dịch CCNKT với quá trình thực hiện CNH, HĐH ở một địa phương vụ thể. Do
vậy, nghiên cứu này sẽ giải quyết những khoảng trống mà các nghiên cứu trước
đây chưa đi sâu vào nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm hướng đến giải quyết các mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa và làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về
chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH;
- Đánh giá thực trạng chuyển dịch CCNKT ở tỉnh Ninh Bình từ năm 1992
đến 2012 trên cả khía cạnh động thái chuyển dịch và gắn với quá trình CNH,
HĐH; từ đó rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân;
- Rút ra những bài học kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn về
chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH ở Ninh Bình trong thời gian qua;
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm góp phần thúc
đẩy chuyển dịch CCNKT Ninh Bình trong CNH, HĐH theo hướng hiệu quả

CCNKT và CNH, HĐH.
- Phương pháp lịch sử: Miêu tả, trình bày diễn biến của quá trình chuyển
dịch CCNKT và cơ cấu nội bộ từng ngành một cách đầy đủ, chi tiết, khách quan
ở Ninh Bình từ 1992 đến 2012.
- Phương pháp logic: Từ diễn biến của quá trình chuyển dịch CCNKT
tìm ra những bản chất và đặc trưng của chuyển dịch CCNKT và rút ra những
đánh giá, nhận định về xu hướng chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH ở
Ninh Bình.
- Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng các chỉ tiêu số tuyệt đối, số tương
đối, số bình quân để tính toán và mô tả quá trình chuyển dịch CCNKT, từ đó đưa
ra những đánh giá về chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH ở Ninh Bình.
- Phương pháp thống kê so sánh: Bằng các số liệu và chỉ tiêu (tuyệt đối,
tương đối, tốc độ) về chuyển dịch CCNKT để đưa ra so sánh chuyển dịch
CCNKT giữa các thời kỳ ở Binh Bình, so sánh giữa chuyển dịch CCNKT của
Ninh Bình với các địa phương khác.
- Phương pháp chuyên gia: Trao đổi, xin tư vấn các nhà quản lý, các nhà
hoạch định chính sách của địa phương về quá trình chuyển dịch CCNKT của
Ninh Bình.
6. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài nghiên cứu và đóng góp của luận án
- Góp phần làm phong phú hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về
chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH. Cụ thể, luận án đã làm rõ hơn nội hàm,
các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch CCNKT trong
quá trình CNH, HĐH.
- Đánh giá toàn diện quá trình chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH
của Ninh Bình trong giai đoạn 1992-2012. Từ đó, rút ra được những thành
công, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và bài học kinh nghiệm về chuyển
dịch CCNKT trong CNH, HĐH tại Ninh Bình.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy
chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH của tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới
.

yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản
xuất xã hội với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định trong một khoảng
thời gian nhất định.
1.1.2. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Theo quan điểm chung nhất, chuyển dịch CCNKT là quá trình vận động,
phát triển của các ngành kinh tế làm thay đổi trong tổng thể, trong tỷ trọng và
trong mối quan hệ của các ngành trong một nền kinh tế phù hợp với sự phát
triển của phân công lao động xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất.
1.1.3. Các lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Lý thuyết về chuyển dịch CCNKT được luận giải trong các lý thuyết của
Max, Lý thuyết về các giai đoạn phát triển của Rostow; Lý thuyết nhị nguyên
(hai khu vực phát triển) của Athus Lewis; Lý thuyết cân đối liên ngành; Lý
thuyết "cực tăng trưởng" hay phát triển không cân đối; Lý thuyết chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của Moshe Syrquin; Lý thuyết cơ cấu kinh tế mới của Justin Lin.
1.2. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa
1.2.1. Khái niệm và đặc trưng của CNH, HĐH
CNH luôn gắn chặt với HĐH tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội
của một quốc gia. CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các
hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội quan việc sử
dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động
cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự 10
phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học và công nghệ, tạo ra năng suất
lao động xã hội cao.
Quá trình CNH, HĐH ở từng nước có những nét riêng biệt, nhưng nếu xét
một cách tổng quát quá trình này có những đặc trưng chung mang tính phổ biến
sau: (i) CNH, HĐH là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ cho tất cả các

- Ba là, kết hợp cả hai cách ở trên. Theo cách này, sẽ phát huy được
những ưu điểm và khắc phục được những nhược điểm của hai cách ở trên.
1.2.4. Vai trò của chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH
- Chuyển dịch CCNKT đóng góp và đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH.
- Chuyển dịch CCNKT góp phần giải quyết những mất cân đối trong quá
trình thực hiện CNH, HĐH. 11
- Chuyển dịch CCNKT làm thay đổi cơ cấu đầu tư và loại hình doanh
nghiệp trong CNH.
- Chuyển dịch CCNKT là phương thức hiệu quả để rút ngắn quá trình
thực hiện CNH với các quốc gia đi trước.
1.2.5. Các tiêu chí và chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH
1.2.5.1. Các tiêu chí và chỉ tiêu phản ánh động thái chuyển dịch CCNKT trong
CNH, HĐH
- Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế: Tiêu chí này được đo lường bằng tỷ lệ
phần trăm GDP của các ngành (nhóm ngành nông - lâm - ngư nghiệp; nhóm
ngành công nghiệp và xây dựng; và nhóm ngành dịch vụ).
- Chuyển dịch trong nội bộ ngành: Tiêu chí này được đo lường bằng việc
tính và so sánh tỷ trọng về giá trị sản lượng của các ngành nhỏ trong tổng giá trị
sản lượng của cả ngành.
- Tốc độ chuyển dịch CCNKT: được xác định cho một ngành cụ thể (có
thể ở ngành cấp I hoặc cấp II) và được tính dựa trên so sánh sự thay đổi cơ cấu
theo GDP của ngành đó giữa các năm.
1.2.5.2. Các tiêu chí và chỉ tiêu phản ánh trình độ chuyển dịch CCNKT trong
CNH, HĐH
- Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế
- Cơ cấu xuất khẩu theo ngành kinh tế
- Tỷ trọng giá trị các ngành công nghiệp hiện đại so với toàn bộ ngành

cung cấp các đầu vào cho quá trình sản xuất, từ đó, có tác động rất lớn tới
chuyển dịch CCNKT.
- Cơ chế và chính sách: Chuyển dịch CCNKT của nền kinh tế nhanh hay
chậm, đúng hướng hay không phụ thuộc lớn vào cơ chế, chủ trương và chính
sách nhà nước.
1.3. Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp
hóa, hiện đại hóa
1.3.1. Chuyển dịch CCNKT trong các mô hình CNH trên thế giới
1.3.1.1. Chuyển dịch CCNKT trong mô hình CNH cổ điển
Đặc điểm về chuyển dịch CCNKT ở mô hình CNH cổ điển thể hiện sự
chuyển dịch tuần tự, từ từ từng bước từ công nghiệp nhẹ sang công nghiệp
nặng, giao thông vận tải, bưu điện, nông nghiệp, cuối cùng là lĩnh vực dịch vụ.
1.3.1.2. Chuyển dịch CCNKT trong mô hình CNH theo "kế hoạch hoá tập
trung”
Chuyển dịch CCNKT theo mô hình CNH theo cơ chế kế hoạch tập trung
có những đặc trưng sau đây: (i) Ngay từ đầu đã coi phát triển công nghiệp nặng
là cơ sở và nền tảng nên cơ cấu đầu tư chủ yếu tập trung cho công nghiệp nặng;
(ii) Mối quan hệ cân đối giữa các ngành, các vùng, các khu vực trong nền kinh
tế được tính toán và thể hiện thông qua các cân đối hiện vật, thông qua các kênh
phân phối sản phẩm theo những kế hoạch xác định; (iii) Quá trình chuyển dịch
CCNKT được tập trung và đẩy nhanh bằng cách áp dụng nhiều biện pháp
cưỡng bức, phi kinh tế, nhiều khi mang nặng yếu tố chủ quan và duy ý chí của
Nhà nước.
1.3.1.3. Chuyển dịch CCNKT trong mô hình CNH thay thế nhập khẩu
Chuyển dịch CCNKT trong mô hình CNH “thay thế nhập khẩu” có nhiều
điểm tương đồng với mô hình CNH “kế hoạch hoá tập trung”: (i) phát triển hầu
hết mọi ngành công nghiệp thiết yếu tự đáp ứng các nhu cầu thay vì phải nhập
khẩu; (ii) cơ cấu đầu tư được dàn trải trong tất cả các ngành công nghiệp và sau
đó chú ý đến phát triển nông nghiệp để đảm bảo lương thực, thực phẩm; (iii) Cơ
cấu lao động có sự chuyển dịch từ nông thôn ra thành thị và từ khu vực nông

phát triển hợp lý các ngành có công nghệ cao.
1.3.2.3. Kinh nghiệm của Vĩnh Phúc
Các kinh nghiệm chính bao gồm: (i) Khai thác thế mạnh và tiềm năng nổi
trội của tỉnh; (ii) Thực hiện tốt công tác xây dựng quy hoạch phát triển các
ngành; (iii)Lấy phát triển công nghiệp làm nền tảng để thực hiện chuyển dịch
CCNKT; (iv) Có chính sách hợp lý nhằm thu hút đầu tư vào tỉnh; (v) Thực hiện
các chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
1.3.2.4. Một số bài học kinh nghiệm rút ra về chuyển dịch CCNKT trong CNH,
HĐH của một số địa phương
Qua nghiên cứu quá trình chuyển dịch CCNKT của các tỉnh Thanh Hóa, Hải
Phòng và Vĩnh Phúc có thể rút ra được một số bài học kinh nghiệm sau đây:
- Trong quá trình chuyển dịch CCNKT cần thiết phải dựa trên tiềm năng
và lợi thế so sánh để lựa chọn ra được các ngành mũi nhọn hoặc ngành chủ lực
có vai trò tạo ra bước phát triển đột phá hoặc dẫn dắt, thúc đẩy các ngành khác
phát triển.
- Chuyển dịch CCNKT theo hướng CNH, HĐH cần đầu tư phát triển,
nhưng ngành công nghiệp và dịch vụ cần phát triển nhanh hơn cả về tỷ trọng
của sản phẩm và đóng góp vào GDP.
- Hình thành và phát triển các vùng kinh tế trọng điểm dựa trên tiềm
năng, lợi thế của tỉnh gắn với nhu cầu của thị trường. 14
- Chuyển dịch CCNKT cần gắn với quá trình hình thành các trung tâm
kinh tế thương mại, gắn liền với quá trình đô thị hoá.
- Trong quá trình chuyển dịch CCNKT cần tranh thủ tốt nguồn lực đầu tư
nước ngoài và sự hỗ trợ của Chính phủ cũng như sự hợp tác với các địa phương
trong vùng và cả nước để tập trung phát huy lợi thế của địa phương.
- Chuyển dịch CCNKT theo hướng CNH, HĐH không chỉ vì mục tiêu tăng
trưởng kinh tế đơn thuần mà phải vì mục tiêu phát triển xã hội và bền vững.

triển công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ để tạo ra sự chuyển dịch về CCKT
theo hướng CNH, HĐH. 15
2.2. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa,
hiện đại hóa tỉnh Ninh Bình giai đoạn 1992-2012
2.2.1. Chủ trương và chính sách của Ninh Bình về chuyển dịch CCNKT
trong CNH, HĐH
2.2.1.1. Chủ trương chung về chuyển dịch CCNKT
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII (1992) đã chỉ rõ: “ tập trung sức khai
thác mọi tiềm năng, thế mạnh, nhất là lao động và trí tuệ, ruộng đất và tài
nguyên, vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng CCKT nông nghiệp - công
nghiệp - dịch vụ và du lịch gắn với xuất, nhập khẩu lấy sản xuất nông nghiệp
toàn diện bao gồm cả nông - lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến
làm nhiệm vụ quan trọng hàng đầu ”
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII (1996) đã xác định: “đẩy mạnh CNH,
HĐH, chuyển đổi cơ cấu, nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế Mục tiêu đến
năm 2000 hình thành CCKT với nông nghiệp (chiếm 30% GDP), công nghiệp
(chiếm 35% GDP), dịch vụ (chiếm 35% GDP) và xây dựng Ninh Bình thành
tỉnh công nghiệp - nông nghiệp - du lịch”.
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (2001) chủ trương: “ Đẩy mạnh
chuyển đổi cơ cấu và tăng trưởng kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp toàn
diện, theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng nhanh nhịp độ tăng trưởng công
nghiệp và dịch vụ, thực hiện CNH, HĐH ”
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần XV (2006) đã chủ trương: “ Tập trung rà soát,
bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quản lý chặt chẽ quy hoạch,
huy động mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển, lấy chuyển đổi CCKT là khâu
đột phá để phát triển kinh tế; nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh
của các sản phẩm hàng hóa ”

2.2.2.1. Thực trạng về động thái và tốc độ chuyển dịch CCNKT
Nếu xét vào năm 1992 (năm tái lập tỉnh), CCNKT mang nặng tính chất
của kinh tế truyền thống với GDP nông nghiệp chiếm trên 60%. Từ khi đẩy
nhanh thực hiện CNH từ năm 1992 đến 2012, quá trình chuyển dịch CCNKT
theo GDP ở Ninh Bình từ đã diễn ra tương đối rõ nét và tích cực. Biểu đồ 2.1
cho thấy CCNKT đã có sự chuyển biến rõ rệt theo hướng tăng tỷ trọng nhóm
ngành công nghiệp - xây dựng và ngành dịch vụ; giảm tỷ trọng nhóm ngành
nông, lâm và thủy sản. Cụ thể, tỷ trọng theo GDP của ngành công nghiệp và
xây dựng đã tăng nhanh từ 15,43% năm 1992 lên 46,16% năm 2012. Tỷ trọng
theo GDP của ngành dịch vụ cũng có sự gia tăng khá từ 21,65% lên 38,61%,
trong khi đó tỷ trọng của ngành nông nghiệp-lâm-thủy sản đã giảm mạnh từ
62,92% xuống chỉ còn 15,23%. Với cơ cấu của các ngành như vậy cho thấy
CCNKT của Ninh Bình đã chuyển dịch theo hướng vừa phù hợp với quy luật
chung, vừa chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH được đề ra tại các Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ tỉnh.
0
10
20
30
40
50
60
70
1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
NLNN CN-XD DV

Biểu đồ 2.1: Xu hướng chuyển dịch CCNKT của tỉnh Ninh Bình
Nguồn: Tính toán từ niên giám thống kê Ninh Bình qua các năm
Quá trình và động thái chuyển dịch CCNKT ở tỉnh Ninh Bình có thể chia
thành hai giai đoạn. Giai đoạn 1992-2002, chuyển dịch CCNKT chưa liên tục.

Trong nhóm ngành này, công nghiệp chế biến và chế tạo có tỷ trọng lớn
nhất và có xu hướng tăng dần; từ 34,5% năm 1992 lên đến 61,8% năm 2005 và
54,4% năm 2012. Tuy nhiên so với cả nước thì tỷ trọng của ngành công nghiệp
chế biến và chế tạo trong ngành công nghiệp và xây dựng của Ninh Bình vẫn
còn thấp hơn. Tiếp sau ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành xây dựng.
Ngành xây dựng đã có sự phát triển mạnh về quy mô và số lượng. Tỷ trọng của
ngành xây dựng cũng có xu hướng tăng dần, từ 21,4% năm 1992 lên 28,3%
năm 2005 và 37,5% năm 2012. Ngành công nghiệp khai thác trong thời kỳ
1992-2012 đã đóng góp vào sự phát triển kinh tế của Ninh Bình nhưng chiếm tỷ
trọng nhỏ và có xu hướng giảm trong tổng giá trị GDP toàn ngành công nghiệp
và xây dựng. Tỷ trọng ngành công nghiệp khai thác giảm từ 5% năm 1992 giảm
xuống 2,8% năm 2005 và 1,3% năm 2012. Công nghiệp khai thác phần lớn là
khai thác đá xây dựng, khai thác than Ngành sản xuất và phân phối điện có
giá trị GDP tăng dần qua các năm. Tuy nhiên, do tốc độ tăng trưởng chậm hơn
các ngành khác nên tỷ trọng của ngành này trong ngành công nghiệp và xây
dựng có xu hướng giảm xuống từ 39,08% năm 1992 xuống còn 3,03% năm
2009, sau đó có sự tăng lên nhưng vẫn ở mức thấp, khoảng 6% giai đoạn 2010-
2012. Ngành cung cấp nước, quản lý nước và nước thải chiếm tỷ trọng thấp
nhất và thường có tỷ trọng dưới 1%. 18

*Chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong giai đoạn 1992-2012, tỷ trọng ngành nông nghiệp tuy vẫn giữ vai
trò chi phối trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp nhưng có xu hướng giảm dần.
Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 98,6% năm 1992 xuống còn 86,5% năm
2012. Trong ngành nông nghiệp, ngành trồng trọt vẫn chiếm vị trí chi phối
nhưngi tỷ trọng giảm dần từ 73,6% năm 1992 xuống 64,1% năm 2005 và 62%
năm 2012; ngành chăn nuôi chiếm từ 1/4 đến 1/3 giá trị sản xuất toàn ngành và

tăng 32,3%. Nếu xét về tỷ trọng GDP của ngành du lịch so với tỷ trọng GDP
toàn tỉnh, thì dịch vụ du lịch dần chiếm vị trí quan trọng và góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đến năm 2012, GDP du lịch chiếm 9,5%
GDP toàn tỉnh. Tuy nhiên, ngành du lịch phát triển chưa thực sự tương xứng 19
với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh (chưa đạt được mức 15% GDP như mục
tiêu đặt ra). Do vậy, du lịch chưa thực sự là ngành kinh tế có bước đột phá tạo
bước chuyển dịch cơ cấu mạnh tại Ninh Bình.
Ngành vật liệu xây dựng
Ngành sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) duy trì tốc độ tăng trưởng và
chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong toàn bộ giá trị sản xuất toàn tỉnh và trong
ngành công nghiệp và xây dựng. Ngành sản xuất VLXD biến động rõ nét nhất
qua 2 giai đoạn. Giai đoạn 1992-2005, tỷ trọng về giá trị sản xuất của ngành
VLXD trong toàn ngành công nghiệp và xây dựng và GDP toàn tỉnh tương ứng
trong khoảng từ 8,5% đến 13,7% và từ 3% đến 4,2%. Giai đoạn 2006-2012, tỷ
trọng về giá trị sản xuất của ngành này trong ngành công nghiệp từ 21,8% đến
26,8% và trong GDP toàn tỉnh từ 14,7% đến 16%.
Ngành thép
Từ năm 1992 đến năm 2002, tỷ trọng của ngành sản xuất thép trong toàn
ngành công nghiệp và xây dựng và so với toàn tỉnh tương ứng trong khoảng từ
1,8% đến 7,8% và 0,4% đến 2,3%. Như vậy, về quy mô và tỷ trọng của ngành
sản xuất thép chiếm tỷ trọng thấp trong ngành công nghiệp và xây dựng. Sự
biến động của ngành thép có thể chia thành 2 giai đoạn. Trong giai đoạn 2003-
2005, tỷ trọng của ngành thép trong ngành công nghiệp và xây dựng tăng mạnh
và đạt đến mức 27%; tỷ trọng trong GDP toàn tỉnh tăng từ 8,3% lên 11,6%, Tuy
nhiên, giai đoạn 2006-2012 tỷ trọng ngành thép có xu hướng giảm dần cả trong
ngành công nghiệp và xây dựng và so với toàn tỉnh.
Ngành viễn thông

nhanh và tỉnh đã khai thác các mặt hàng xuất khẩu cả truyền thống và mới và
chủ động tích cực mở rộng thị trường. Xét về sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất
khẩu, mặt hàng xuất khẩu chính của Ninh Bình vẫn là hàng công nghiệp chế
biến và tiểu thủ công nghiệp với tỷ trọng dao động từ 56,8% đến 98,7% tổng
kim ngạch xuất khẩu. nhóm sản phẩm công nghiệp chế biến - chế tạo (điện tử,
dệt may, giày dép) hiện chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu, song hầu hết là gia
công và lắp ráp. Cơ cấu xuất khẩu của mặt hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản
dao động thất thường, giai đoạn 1995-2000 tỷ trọng có sự gia tăng mạnh và đạt
43,5% năm 1997 nhưng chuyển sang giai đoạn 2001-2008 lại giảm mạnh xuống
còn mức dưới 5%/năm. Đến năm 2009-2010 lại có sự tăng lên. Điều này cho
thấy cơ cấu hàng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Ninh Bình chịu ảnh hưởng
rất lớn của diễn biến kinh tế thế giới.
2.3. Đánh giá chung về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Ninh Bình
2.3.1. Kết quả đạt được
Dựa trên kết quả đã phân tích về chuyển dịch CCNKT tại Ninh Bình theo
3 khu vực, xét cả tổng thể và chi tiết trong nội bộ từng ngành, Ninh Bình đã đạt
được nhiều kết quả về chuyển dịch CCNKT thể hiện qua khía cạnh sau:
- CCNKT đã chuyển dịch nhanh theo hướng CNH, HĐH.
- Cơ cấu nội bộ từng ngành kinh tế cũng đã có sự chuyển dịch tích cực
theo hướng CNH, HĐH.
- Cơ cấu lao động theo ngành đã chuyển phù hợp với CCNKT và theo
hướng CNH, HĐH.
- Quá trình chuyển dịch CCNKT thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu vùng
kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế theo hướng CNH, HĐH.
- Các nguồn lực xã hội phục vụ cho quá trình chuyển dịch CCNKT đã được
huy động.
- Quá trình chuyển dịch CCNKT đã có tác động sâu sắc đến phát triển
kinh tế - xã hội ở tỉnh.
- Chuyển dịch CCNKT đã có tác động làm thay đổi tư duy kinh tế mới về

phức tạp; trong ngành dịch vụ thì lao động chủ yếu tập trung ở các ngành bán
buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô còn lao động làm việc trong những ngành đòi hỏi
trình độ cao thì không nhiều. Nhìn chung trình độ quản lý của cán bộ và tay
nghề của người lao động chưa đáp ứng được yêu cầu trong tiến trình CNH,
HĐH. Tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt 34% và đặc biệt thiếu nhiều chuyên
gia giỏi và thiếu nhiều lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao.
- Trình độ khoa học công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật còn hạn chế: so với
mặt bằng cả nước và vùng ĐBSH, trình độ khoa học công nghệ, trang thiết bị
kỹ thuật của Ninh Bình thấp hơn. Điều này có thể thấy những hạn chế của Ninh
Bình trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất, kinh doanh để phát
triển sản xuất công nghiệp, dịch vụ và nông lâm nghiệp; áp dụng công nghệ
sinh học để nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng, vật nuôi; sử dụng công
nghệ hiện đại trong chế biến sản phẩm, phù hợp với tiêu chuẩn thị trường yêu
cầu, đặc biệt đối với hành hoá nông sản chủ lực Công nghệ tiên tiến, hiện đại
mới chỉ tập trung vào một số lĩnh vực như sản xuất xi măng, đồ điện Chuyển
giao công nghệ ở Ninh Bình chưa thực sự trở thành hoạt động quan trọng trong
sản xuất công nghiệp. Trong thời kỳ CNH, quy mô và tốc độ chuyển giao công
nghệ phát triển còn chậm do đầu tư mới từ nguồn vốn trong nước và vốn đầu tư
trực tiếp của nước ngoài còn hạn chế. 22
- Cơ chế chính sách và các giải pháp cụ thể chưa theo kịp với định hướng
và mục tiêu đã đặt ra cho chuyển dịch CCNKT: Nhiều chủ trương chính sách
chưa được ban hành kịp thời và rõ ràng nên chưa thực sự tạo động lực và bước
đột phá trong phát triển các ngành và các sản phẩm chủ lực tại Ninh Bình. Ví
dụ như các chính sách về phát triển các ngành có lợi thế so sánh như sản xuất
vật liệu xây dựng hay cơ chế chính sách liên quan đến sử dụng công nghệ máy
móc hiện đại như trong ngành sản xuất thép hay viễn thông tại Ninh Bình.
- Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu: Hệ thống kết cấu

không chỉ là sự biến đổi đơn thuần về tỷ trọng trong GDP mà cần tập trung tạo
ra chất lượng của sự chuyển dịch.
- Chuyển dịch CCNKT phải có lộ trình, bước đi phù hợp và có những
chính sách, giải pháp phù hợp tác động vào quá trình đó. 23
- Chú trọng hiện đại hoá cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật nhằm đáp ứng
yêu cầu chuyển dịch CCNKT.
- Chủ động thúc đẩy chuyển dịch CCNKT theo hướng hiện đại, chú trọng
tập trung phát triển các ngành thương mại và dịch vụ mũi nhọn với chất lượng cao.
- Coi trọng huy động nguồn vốn và nguồn nhân lực cho mục tiêu tăng
trưởng và chuyển dịch CCNKT.
- Chú trọng phát triển KHCN nhằm thúc đẩy chuyển dịch CCNKT của
địa phương.
- Chuyển dịch CCNKT cần gắn kết chặt chẽ với thị trường trong nước và
quốc tế.
3.2. Quan điểm và phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong
công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Ninh Bình
3.2.1. Quan điểm chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH ở tỉnh Ninh Bình
trong thời gian tới
Chuyển dịch CCNKT của Ninh Bình trong thời gian tới cần quán triệt
những quan điểm sau đây:
- Chuyển dịch CCNKT của Ninh Bình phải phù hợp với định hướng
CNH, HĐH của cả nước và vùng đồng bằng sông Hồng.
- Chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH của Ninh Bình phải trên cơ sở
phát huy tiềm năng và khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh.
- Chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH của Ninh Bình cần dựa trên cơ
sở phát huy cao độ nội lực đồng thời khai thác sức mạnh cả nước và tranh thủ
tích cực nguồn lực từ bên ngoài.

ngành, các thành phần kinh tế và ngành dịch vụ trở thành ngành kinh tế chủ lực
tại Ninh Bình; trong đó chú trọng phát triển du lịch, thương mại, tài chính ngân
hàng và bảo hiểm, bưu chính viễn thông…
3.3. Các giải pháp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Ninh Bình
3.3.1. Hoàn thiện công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Thực hiện rà soát và hoàn chỉnh lại những qui hoạch đã được xây dựng và
phê duyệt. Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch CCNKT và quy hoạch phát triển
các ngành có tính toàn diện và có tầm nhìn xa. Trong việc xây dựng quy hoạch,
cần xác định danh mục các ngành chủ lực, các sản phẩm chủ lực từng thời kỳ
để đưa ra kịp thời danh mục các ngành mũi nhọn, sản phẩm mũi nhọn làm căn
cứ cho phân bổ các nguồn lực. Xây dựng quy hoạch không chỉ dừng lại ở
những vấn đề sản xuất mà cần có thông tin định hướng, dự báo về đầu ra thị
trường, về các cân đối lớn và các giải pháp thực hiện khả thi. Kịp thời điều
chỉnh phù hợp với những diễn biến khó lường trong quá trình chuyển dịch
CCNKT…
3.3.2. Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
* Đối với việc huy động vốn: tạo môi trường kinh doanh thông thoáng,
cởi mở, công khai minh bạch để huy động nguồn vốn từ khu vực kinh tế tư
nhân; tăng cường quản lý chặt chẽ hệ thống thuế hiện hành nhằm thu đúng, thu
đủ và thu kịp thời các khoản thuế; tránh thất thu và ứ đọng thuế; thực hiện các
ứu đãi về đất đai, thuế, cải cách thủ tục hành chính, môi trường đầu tư để thu
hút FDI; chủ động xây dựng các chương trình, dự án và đề xuất với các cơ quan
Bộ ngành thu hút nguồn vốn ODA.
* Đối với việc sử dụng vốn: nguồn vốn ngân sách cần đầu tư xây dựng kết
cấu hạ tầng giao thông, đô thị trọng điểm, phục vụ sản xuất, đời sống; nguồn
vốn FDI cần hướng vào phát triển công nghiệp chủ lực tại các khu, cụm công
nghiệp, phát triển công nghiêp chế biến nông sản có chất lượng cao; Vốn tín
dụng ưu đãi cần tập trung vào phát triển kinh tế - xã hội ở những hoạt động có
khả năng cao trong việc hoàn trả cả gốc và lãi trong thời gian ngắn như chăn

tạo, tuyển dụng, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác KHCN. Tạo điều kiện thuận
lợi cho các cán bộ nghiên cứu, giao lưu, chia sẻ kiến thức KHCN với các tổ
chức trong và ngoài nước. Phát triển công nghệ thông tin, tăng cường trao đổi
qua mạng nội bộ và hệ thống Internet để có được các thông tin nhanh chóng,
kịp thời, tin cậy phục vụ cho công tác quản lý, quy hoạch, kế hoạch… Đầu tư
các trang thiết bị hiện đại nhằm thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, liên
doanh liên kết với các tổ chức trong và ngoài nước…
3.3.6. Tăng cường đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng
Huy động tối đa các nguồn lực bao gồm cả nguồn lực nội tại, nguồn lực
bên ngoài và cần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vốn, lao động và tài
nguyên. Cần xác định đúng trọng tâm, trọng điểm đầu tư; quy hoạch hợp lý
cùng kiểm tra giám sát chặt chẽ các hoạt động phát triển kết cấu hạ tầng. Trong
quá trình phát triển kết cấu hạ tầng, cần chú trọng đến hệ thống giao thông; thủy
lợi; hạ tầng công nghiệp và dịch vụ, hạ tầng cho các công trình trọng điểm… 26
3.3.7. Hoàn thiện cơ chế, chính sách
Cơ chế chính sách cần được đổi mới để tạo ra những bước đột phá lớn
trong phát triển kinh tế - xã hội. Ninh Bình cần tập trung đổi mới cơ chế chính
sách vào ba khía cạnh: (i) quản lý, khai thác và phát triển nguồn tài nguyên như
tài nguyên đất đai, tài nguyên khoáng sản và tài nguyên du lịch; (ii) thu hút đầu
tư nước ngoài và nguồn vốn ngoài tỉnh cũng như nguồn vốn nhàn rỗi trong dân
cư; (iii) nâng cao năng suất lao động, hiệu suất đầu tư trên cơ sở hỗ trợ phát
triển nguồn nhân lực và áp dụng khoa học công nghệ mới; (iv) cải cách thủ tục
hành chính. KẾT LUẬN



27
chưa tạo được tiềm lực cho phát triển nền kinh tế vững chắc lâu dài. Các
nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình và tốc độ chuyển dịch CCNKT tại Ninh
Bình cũng được đưa ra.
Thứ ba, luận án đã rút ra các bài học kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn về chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH ở Ninh Bình. Các bài học
kinh nghiệm bao gồm: Cần có sự đột phá trong chuyển dịch CCNKT ở địa
phương với yêu cầu không chỉ là sự biến đổi đơn thuần về tỷ trọng trong GDP
mà cần tập trung tạo ra chất lượng của sự chuyển dịch; Chuyển dịch CCNKT
phải có lộ trình, bước đi phù hợp và có những chính sách, giải pháp phù hợp tác
động vào quá trình đó; Chú trọng hiện đại hoá cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật
nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch CCNKT; Chủ động thúc đẩy chuyển dịch
CCNKT theo hướng hiện đại theo hướng tập trung phát triển các ngành mũi
nhọn có gia trị gia tăng; Coi trọng huy động nguồn vốn, nguồn nhân và KHCN
lực cho chuyển dịch CCNKT; Chuyển dịch CCNKT cần gắn kết chặt chẽ với
thị trường trong nước và quốc tế.
Thứ tư, luận án đã đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy quá
trình chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH ở Ninh Bình. Các giải pháp bao
gồm: hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; huy
động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn; đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực; phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường ứng dụng khoa
học công nghệ; tăng cường đầu tư, xây dựng kết cấu hạ tầng; hoàn thiện cơ chế,
chính sách.
Chuyển dịch CCNKT trong CNH, HĐH là một vấn đề rộng lớn và phức tạp.
Nghiên cứu về chủ đề này tại Ninh Bình là một nghiên cứu mang tính lý luận và
thực tiễn cao. Hy vọng rằng các kết quả nghiên cứu này sẽ tạo cơ sở khoa học giúp
cho Ninh Bình đẩy nhanh quá trình chuyển dịch CCNKT đáp ứng theo chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội, CNH, HĐH của địa phương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status