MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH KINH TẾ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN Ở
VIỆT NAM
3.1. Một số quan điểm và định hướng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế ngành trong quá trình phát triển ở Việt Nam.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân trong nháng năm qua ở nước
ta về cơ bản là tích cực, đúng hướng. Song bên cạnh đó, vẫn tồn tại nhiều vấn đề
nổi cộm làm chậm quá trình chuyển dịch đó. Để đến năm 2020 về cơ bản nước ta
trở thành một nước công nghiệp tức là cơ cấu kinh tế ngành của ta lúc đó phải có
đặc điểm là: công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn (40%) và giá vai trò "đầu tầu" trong
nền kinh tế. Khi đó theo lý thuyết phát triển của Rostow thì Việt Nam đang ở giai
đoạn cất cánh hoặc giai đoạn trưởng thành. Để thực hiện được điều đó, chúng ta
cần tích cực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với chiến lược công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực tế hiện nay có một số định hướng và quan điểm
sau:
3.1.1. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải tiến tới một cơ cấu hợp
lý, đó là một cơ cấu đa ngành, trong đó hình thành các ngành trọng điểm mũi nhọn.
- Tập trung sức phát triển mạnh và toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hoá lớn, gắn liền với chế biến sản phẩm bằng công nghệ ngày
càng tiến bộ, hiện đại. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh diện tích
và sản lượng cây công nghiệp, cây ăn qu ả, từng bước công nghiệp hoá nông
nghiệp, nông thôn, đẩy nhanh thuỷ lợi hoá, từng bước cơ giới hoá, điện khi hoá và
ứng dụng rộng rãi khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Tăng thu nhập,
tăng sức mua của dân cư trên thị trường nông thôn, tạo cơ sở cho thị trường đầu ra
của công nghiệp phát triển với nhịp độ nhanh trong cơ cấu ngành kinh tế.
- Trong các ngành công nghiệp, nổi lên hàng đầu là vai trò của công nghiệp
chế tạo và chế biến phát triển nhanh một số ngành, một số lĩnh vực có lợi thế như:
chế biến lương thực, thực phẩm công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin, cơ khí
chế tạo.
- Phát triển mạnh các loại hình dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu đa dạng của sản
xuất và đời sống kinh doanh.
trọng điểm có thể là các ngành: điện lực, than, trồng lúa, chăn nuôi, lâm nghiệp, du
lịch, lắp ráp sản xuất ô tô - xe máy, xi măng, hoá chất cơ bản, cơ khí, sản xuất thép,
các ngành chế biến lương thực, thực phẩm (như: mía, chè, cà phê, bánh kẹo...)
- Ngành mũi nhọn là ngành đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
+ Là ngành có ý nghĩa quan trọng, sự phát triển của nó tác động mạnh mẽ đến
sự phát triển các ngành khác của nền kinh tế quốc dân.
+ Là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế.
+ Là ngành có tốc độ tăng trưởng vượt trội các ngành khác.
+ Là ngành có hiệu quả kinh tế - xã hội cao, thể hiện ở hệ số ICOR thấp, tỷ lệ
lợi nhuận cao, giải quyết đựoc nhiều việc làm.
+ Là ngành phát huy lợi thế so sánh của đất nước, là ngành đại diện cho tiến
bộ khoa học - công nghệ.
+ Là ngành tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách.
+ Là ngành hướng về xuất khẩu và có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Điều kiện công nhận ngành mũi nhọn khó khăn hơn so với ngành trọng điểm.
Nên kinh tế phải phát triển đến một trình độ nào đó mới có ngành kinh tế mũi
nhọn. Xung quanh vấn đề đã hình thành ngành kinh tế mũi nhọn ở nước ta chưa?
và nháng ngành nào là ngành kinh tế mũi nhọn ở nước ta, hiện nay ý kiến còn khác
nhau. Theo một số chuyên gia kinh tế giai đoạn 2000-2010 các ngành kinh tế sau
đây có thể được chọn là ngành mũi nhọn: công nghiệp điện tử và tin học, công
nghiệp dệt may, khai thác và chế biến thuỷ sản, khai thác và lọc dầu.
3.2. Một số giải pháp.
Xuất phát từ kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một số nước trong
khu vực và các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình
phát triển. Theo em, cần tập trung vào một số vấn đề sau đây nhằm thúc đẩy quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
3.2.1. Cần lựa chọn mô hình phát triển hợp lý, nâng cao chất lượng các chiến
lược, quy hoạch phát triển ngành.
- Gắn chiến lược phát triển ngành với chiến lược sản phẩm và chiến lược thị
trường của các doanh nghiệp thuộc ngành.
không cần thiết; ngược lại, giảm hoặc miễn thuế đối với những ngành nghề, dịch
vụ thực sự có ích cho nền kinh tế quốc dân, phục vụ đắc lưc cho quá trình chuyển
đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
3.2.7. Về quan hệ quốc tế:
Phát triển kinh tế đối ngoại trên tất cả các ngành và lĩnh vực: thương mại, đầu
tư, hợp tác với các nước và tổ chức quốc tế, nhằm mở rộng thị trường, thu hút vốn,
khoa học công nghệ mới và kinh nghiệm phục vụ yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nước ta.