Những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001-2005 ở Việt Nam - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỉ XXI đã đến,nền kinh tế Việt Nam buớc vào thế kỷ mới ,với nhiều
thách thức và cơ hội phát triển. Trong thời gian tới, 2001-2005, nhiệm vụ
xây dựng phát triển kinh tế trong bối cảnh nền kinh tế thế giới nhiều biến
động ,đã đặt toàn Đảng toàn dân ta trước những khó khăn và thử thách
mới. Trước tình hình đó, vai trò của công tác Kế hoạch hoá trong nền
kinh tế thị trường,ngày nay là không thể phủ nhận.Kế hoạch chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành giai đoạn 2001-2005,là một bộ phận trong kế hoạch
5 năm phát triển kinh tế xã hội 2001-2005.Giai đoạn này ,chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế không chỉ là yêu cầu của nội bộ nền kinh tế Việt Nam,
mà đó còn là yêu cầu đặt ra về phía quốc tế khi chúng ta tham gia hội
nhập vào thị trường quốc tế.
Làm thế nào để có được một cơ cấu kinh tế phù hợp với định hướng
phát triển kinh tế xã hội theo con đường XHCN của Đảng và Nhà
nước,và phù hợp với xu thế phát triển của thế giới.Đó là câu hỏi đặt ra
cho nền kinh tế Việt Nam.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên,được sự giúp đỡ của
Thầy giáo-Tiến sĩ Ngô Thắng Lợi,em xin mạnh dạn thực hiện đề tài
“Những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế thời kỳ 2001-2005 ở Việt Nam” nhằm sáng tỏ rõ hơn
vai trò quan trọng của công tác kế hoạch hoá chuyển dịch cơ cấu trong
nền kinh tế, và các giải pháp nhằm thực hiện được cơ cấu ngành kinh tế
phù hợp với tình hình mới.Ngoài phần mở đầu và kết luận,kết cấu của đề
án bao gồm 3 chương:
Chương I :Những lý luận cơ bản vê chuyển dịch cơ cấu kinh tế .
Chương II:Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 1996-
2000 và năm 2001.
ChươngIII: Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế giai đoạn 2001-
2005.
Em xin chân thành cảm ơn Thầy giáo-Tiến sĩ Ngô Thắng Lợi đã tận tình

Các ngành-các yếu tố cấu thành nền kinh tế quốc dân.
• Số lượng,tỷ trọng của các nhóm ngành và các hệ
thống cấu thành.
• Các mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các nhóm
ngành, các yếu tố...hướng vào các mục tiêu đã xác định.
Về vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế có thể xem xét như sau:
Cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu
tố hợp thành cơ cấu kinh tế không cố định .Đó là sự thay đổi về số lượng
các ngành,tỷ trọng các ngành,các vùng các thành phần...và tốc độ tăng
trưởng giữa các yếu tố cấu thành là không đồng đều.Sự thay đổi của cơ
cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác cho phù hợp với môi
trường phát triển được gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Đó không phải
đơn thuần là sự thay đổi vị trí,mà là sự thay đổi cả về lượng và chất trong
nền kinh tế.Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa trên một cơ cấu
hiện có,do đó nội dung của chuyển dịch cơ cấu là cải tạo cơ cấu cũ lạc
hậu,để nhằm biến cơ cấu cũ thành cơ cấu mới hiện đại phù hợp. Như vậy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế thực chất là sự điều chỉnh trên ba mặt của cơ
cấu như trên nhằm hướng sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo mục
tiêu kinh tế xã hội đã định trong từng thời kỳ phát triển.
2-Phân loại cơ cấu kinh tế:
Như trên đã đưa ra - cơ cấu kinh tế là một phạm trù kinh tế ,để nắm
vững bản chất và thực thi các giải pháp một cách hiệu quả trong chuyển
dịch cơ cấu kinh tế ,cần phân loại cụ thể.Và có một số loại cơ bản như
sau:
Cơ cấu ngành kinh tế: Là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan
tỷ lệ,biểu hiện các mối liên hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế quốc
dân.Nó phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội của nền
kinh tế ,và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.Thông thường phân
tích theo ba nhóm ngành chính
• Nhóm ngành Nông nghiệp:bao gồm các ngành nông ,

II-CÁC LÝ THUYẾT CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ.
1-Khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế:
Khái niệm về cơ cấu ngành của một nền kinh tế-theo quan điểm của
lý thuyết hệ thống có thể đưa ra một định nghĩa sau:
''Cơ cấu ngành của một nền kinh tế là tập hợp tất cả các ngành
hình thành lên nền kinh tế và các mối quan hệ tương đối ổn định giữa
chúng.''
Xuất phát từ khái niệm-để đánh giá cơ cấu ngành và mối quan hệ
giữa chúng,thông thường qua các loại chỉ tiêu như định tính - tỷ trọng các
ngành so với tổng thể của nền kinh tế.Các chỉ tiêu định lượng mô tả một
phần nào mối quan hệ giữa các ngành,đó là các hệ số trong bảng cân đối
liên ngành (của hệ MPS), hay bảng I-O của hệ SNA.Trong công nghiệp
các hệ số về liên hệ phía ''thượng nguồn'' và ''hạ nguồn'' cũng là loại chỉ
tiêu đánh giá này.
Về khái niệm chuyển dịch cơ cấu ngành có thể được phát biểu như
sau:
''Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình tạo nên sự biến
đổi của cơ cấu ngành kinh tế từ dạng này sang dạng khác phù hợp
với sự phát triển phân công lao động xã hội của lực lượng khoa học
công nghệ kỹ thuật và xu thế hội nhập quốc tế.''
Trong xu thế phát triển chung của toàn xã hội là xu thế khách
quan,chuyển dịch cơ cấu mang tính khách quan thông qua những nhận
thức chủ quan của con người.Khi có sự tác động của con người,trong quá
trình chuyển dịch đã hình thành nên các khái niệm như sau
Điều chỉnh cơ cấu:Đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu trên cơ sở
thay đổi một số mặt,một số yếu tố cơ cấu,làm cho nó thích ứng với đièu
kiện khách quan qua từng thời kỳ,không tạo ra sự đột biến tức thời.
Cải tổ cơ cấu:Đó là quá trình chuyển dịch cơ cấu đem tính thay đổi
về bản chất so với thực trạng cơ cấu ban đầu nhanh chóng tạo ra sự đột
biến.

dùng.
2.2.Lý thuyết các giai đoạn phát triển của W.Rostow:
Theo W.Rostow,nhìn chung quá trình phát triển của một đất nước có
thể chia làm 5 giai đoạn:xã hội truyền thống;chuẩn bị cất cánh ;cất
cánh;trưởng thành,và mức tiêu dùng cao.Việc xem xét như trên tập trung
làm rõ các nội dung :
• Dưới tác động nào mà xã hội truyền thống bắt đầu quá
trình công nghiệp hoá.
• Những lực lượng nào đẫ thúc đẩy qua trình tăng
trưởng .
• Những đặc trưng cơ bản của từng giai đoạn.
• Những lực lượng nào tác động đến mối quan hệ giữa
các khu vực trong quá trình tăng trưởng.
Xã hội truyền thống: Đặc trưng chủ yếu trong giai đoạn này là sản
xuất nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu trong hoạt động kinh tế.Năng suất
lao động thấp do sản suất chủ yếu bằng công cụ thủ công-khoa học kỹ
thuật chưa phát triển mạnh.Hoạt động chung của xã hội kém linh
hoạt,nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp,sản xuất háng hoá chưa phát
triển
Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Đây là giai đoạn quá độ giữa xã hội
truyền thống và sự cất cánh .Trong giai đoạn này những điều kiện cần
thiết cho sự cất cánh đã xuất hiện.Đó là khoa học tiến bộ đã đuợc áp dụng
vào sản xuất cả trong nông nghiệp và công nghiệp.Nhu cầu đầu tư tăng
cao, thúc đẩy hoạt động của ngân hàng-các tổ chức huy động vốn,gia lưu
hàng hoá trong và nước thúc đẩy giao thông và thông tin liên lạc phát
triển.Tuy nhiên xã hội truyền thống vẫn tồn tại song song với các hoạt
động kinh tế hiện đại đang phát triển.
Giai đoạn cất cánh: Đây là giai đoạn trung tâm của sự phân tích các
giai đoạn phát triển của W.Rostow.Cất cánh là giai đoạn mà lực cản của
xã hội truyền thống và các thế lực chống đối với sự phát triển đã bị đẩy

chống lại chủ nghĩa thực dân.
Tuy nhiên,thực tế phát triển đã cho thấy những yếu điểm rất lớn của
lý thuyết này như sau:
Thứ nhất :Việc phát triển một cơ cấu kinh tế cân đối hoàn chỉnh,đã
đưa nền kinh tế đến chỗ khép kín và tách biệt với thế giới bên ngoài.Điều
này đi ngược lại với xu thế chung của mọi nền kinh tế trong điều kiện hội
nhập.Và trong lúc ngăn ngừa các tác động tiêu cực của thị trường vào nền
kinh tế nó đã gạt bỏ các tác động tích cực có lợi cho phát triển từ bên
ngoài mang lại.
Thứ hai:Các nền kinh tế chậm phát triểnkhông đủ khả năng nhân tài
vật lực để thực hiện các mục tiêu đặt ra.
Cả hai nhân tố này đều góp phần làm cho công tác chuyển dịch cơ
cấu ngành theo hướng công ngiệp hoá gặp khó khăn vỳ nó làm phân tán
nguồn lực quốc ,gia không trọng tâm.Do vậy sau một thời kỳ tăng trưởng
các nền kinh tế theo đuổi mô hình này đều rơi vào tình trạng thiểu năng-
Phát triển không đầy đủ,không cân đối,kém phát triển.
2.4.Lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối (hay các cực
tăng trưởng)
Ngược lại với quan điểm phát triển nền kinh tế theo cơ cấu khép
kín,lý thuyết phát triển cơ cấu ngành kinh tế không cân đối cho
rằng,không thể và không nhất thiết phải bảo đảm tăng trưởng bền vững
bằng cách duy trì cơ cấu cân đối liên ngành đối với mọi quốc gia.Lý luận
như sau:
Với việc phát triển cơ cấu không cân đối gây nên áo lực,tạo ra
kích thích đầu tư. Trong mối quan hệ giữa các ngành mà cung bằng cầu
thì sẽ không có động lực khuyến khích đầu tư nâng cao năng lực sản
xuất. Nếu có những dự án đầu tư lớn hơn vào một số lĩnh vực thì áp lực
đâu tư sẽ xuất hiện bởi cầu lớn hơn cung lúc đầu và lớn hơn ở một số lĩnh
vực.Và trong các giai đoạn phát triển của thời kỳ công ngiệp hoá,vai trò
của ''cực tăng trưởng'' của các ngành trong nền kinh tế là khác nhau.Do

động trong nông nghiệp sang các ngành khác mà không làm giảm sản
lượng nông nghiệp.Mặt khác luợng cầu về tư liệu lao động và hàng tiêu
dùng trong khu vực nông nghiệp tăng lên làm kích thích hoạt động trong
sản xuất phi nông nghiệp.Qúa trình này dần dần phá vỡ nền kinh tế tự
nhiên để hình thành nền kinh tế hàng hoá và thị trường dân tộc.
Thứ hai-Trên phương diện trang bị lại kỹ thuật cho sản
xuất,chuyển dịch cơ cấu ngành trong mô hình cổ điển diễn ra theo trình
tự:công nghiệp nhẹ công nghiệp nặng,giao thông vận tải và bưu điện
nông nghiệp cuối cùng là lĩnh vực lưu thông .
Thứ ba-Do tuân thủ trình tự trang bị kỹ thuật nêu trên,công
cuộc công nghiệp hoávà chuyển dịch cơ cấu ngành đã diễn ra nột
cách,tiệm tiến và phải kéo dài hàng trăm năm.
Xét nhịp độ tăng trưởng của các nước này so với các nước NICs
sau Thế chiến II luôn thấp hơn.Sự gia tăng kiểu này không gây ra những
mất cân đối trầm trọng và áp lực tích luỹ không lớn.Như vậy có thể nói
chuyển dịch theo mô hình này diễn ra ''như một quá trình lịch sử tự
nhiên'' để lại chuẩn mực cho các nước đi sau trong công nghiệp hoá.
1.2.Mô hình cơ cấu công nghiệp hoá theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung:
Mô hình này có những đặc trưnh như sau:
Tập trung ưu tiên cao độ cho sự phát triển công nghiệp nặng ngay
trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá:
Sự ưu tiên phát triển công nghiệp nặng dựa trên những đánh giá về
điều kiện cần và đủ như sau.Theo quan điểm truyền thống và xuất phát từ
điều kiện lịch sử của từng quốc gia trên thế giới thì đôí với bên ngoài,chỉ
có công nghiêp nặng hiện đại mới đảm bảo được nền kinh tế độc lập tự
chủ,chống lại hình thức nô dịch của chủ nghĩa thực dân.Còn bên trong,đó
là cơ sở duy trì sự ổn định của nền kinh tế,nhanh tróng xoá bỏ nghèo
nàn,lạc hậu đuổi kịp trình độ của thế giới.
Các chỉ tiêu hiện vật được xem là cơ sở quan trọng nhất của việc
duy trì tính cân đối giữa các ngành của công nghiệp hoá.

Với những chính sách trên,hầu hết các quốc gia đang phát triển theo
mô hình này đã đạt được tốc độ tăng trưởng công nghiệp tương đối cao
trong giai đoạn đầu.Tuy nhiên điều đó không duy trì được lâu,các nước
tuỳ theo điều kiện lịch sử mà lần lượt rời bỏ mô hình của mình, do không
vượt qua những giới hạn của nền kinh tế đặt ra.Các lý do cơ bản như sau:
Yêu cầu mọi ngành công nghiệp tự sản xuất tất cả các loại sản phẩm
tiêu dùng-điều này không thể đáp ứng được,bởi nền kinh tế kém phát
triển do quá tải về vốn đầu tư,khả năng công nghệ kỹ thuật và quản
lý.Một số quốc gia còn vấp phải giới hạn hiệu quả về quy mô.
Do trình độ kỹ thuật kém,đầu tư hạn chế nên quá trình thay thế nhập
khẩu chỉ bắt đầu từ những sản phẩm phục vụ tiêu dùng.Những sản phẩm
công nghệ cao phải nhập khẩu,mà ngoại tệ đang thiếu hụt...
Qúa trình sẽ hình thành nên những doanh nghiệp liên doanh giữa các
công ty nước ngoài và nước bản địa,do họ không xuất khẩu hàng hoá mà
sản xuất tại nước bản địa - làm như vậy họ tránh được thuế nhập khẩu và
độc quyền bán hàng tại nước bản địa. Kết quả là không có sức ép nào
buộc phải tăng cường cải tiến kỹ thuật tăng năng suất và chất lượng sản
phẩm.
Hậu quả mặt tiêu cực của chính sách hạn chế nhập khẩu,khi khan
hiếm hàng ngoại nhập trong nước .Khi đó với đủ mọi cách các nhà nhập
khẩu hàng hoá nước ngoài có được hạn ngạch nhập khẩu-tiêu cực phát
sinh từ đó...
1.4.Mô hình cơ cấu công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu.
Chính sách này được biết đến với với sự tăng trưởng thần kỳ của một
số nước đặc biệt là nhóm NICs.Cách tiếp cận cơ cấu kinh tế trong mô
hình công nghiệp hoá này có những đặc trưng:
Qúa trình được bắt đầu từ việc tập trung khai thác thế mạnh của nền
kinh tế tạo ra những những lính vực phát triển có lợi thế so sánh trên thị
trường quốc tế.Tuỳ theo điều kiện lịch sử của mỗi quốc gia mà có những
lợi thế riêng.

mục tiêu chuyển dịch cơ cấu sao cho phù hợp với các dấu hiệu có liên
quan để xác định các chính sách,giải pháp để thúc đẩy quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế hợp lý.
2.Yêu cầu và vị trí của kế hoạch hoá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế.
Yêu cầu đặt ra là chúng ta phải lựa chọn một dạng cơ cấu ngành
kinh tế phù hợp.Căn cứ vào các dấu hiệu,nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu
ngành (thị trường…).
Kế hoạch năm 2010 ,Nông nghiệp 16-17%,Công nghiệp 40-
41%,dịch vụ thương mại 42-43%.
Cơ cấu kinh tế phải đảm bảo các yêu cầu(tăng trưởng nhanh,sử
dụng công nghệ hỗn hợp,đưa ra các chính sách giải pháp mang tính điều
tiết vĩ mô tốt,tăng cường xuất khẩu và hướng vào thị trường trong nước
tốt).
Vị trí của kế hoạch hoá mang tính cốt lõi trong hệ thống kế hoạch
phát triển kinh tế xã hội vì nó là kế hoạch một vấn đề mang tính bản chất
của phát triển và ngoài ra nó còn là một kế hoạch mang tính mục tiêu
,mang tính biện pháp.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1996-2000 VÀ GIAI ĐOẠN
2001-2002.
I.THỰC TRẠNG THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH
CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ VIỆT NAM 1996-2000.
I.Phương hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế việt nam 1996-
2000.
1.1 Mục tiêu nhiệm vụ chủ yếu.
Trong ''Phương hướng,nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã
hội 5 năm 1996-2000'' Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
của Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu rõ nhiệm vụ mục tiêu chủ yếu của

qua thuế và phí;kiềm chế bội chi ngân sách không quá 4.5% GDP.Tiếp
tục thực hiện mục tiêu kiềm chế kiểm soát lạm phát,giữ chỉ số tiêu dùng
dưới 10% năm.
Phát triển thị trường tiền tệ thị trường vốn,hình thành từng bước thị
trường chứng khoán.Tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam
thu hẹp việc sử dụng ngoại tệ trong nước,ổn định tỷ gía hối đoái.
. Mở rộng thị trường xuất nhập khẩu ,tăng khả năng xuất khẩu các mặt
hàng đã qua chế biến,tăng sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ.Kim
ngạch xuất khẩu tăng bình quân hằng năm 28% .Phát triển mạnh du lịch
và dịch vụ thu ngoại tệ.Kim ngạch xuất khẩu tăng hàng năm 24%.Tăng
khả năng tiếp nhận vốn đầu tư và công nghệ từ nước ngoài.
Giải quyết một số vấn đề xã hội . Thanh toán nạn mù chữ và hoàn
thành phổ cập tiểu học trong cả nước,phổ cập trung học cơ sở ở thành
phố.Số lao động qua đào tạo chiếm khoảng 22-25% tổng số lao động.Phát
triển, nâng cao năng lực hiệu quả nghiên cứu triển khai khoa học công
nghệ.Phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá thông tin y
tế .
Giảm nhịp độ phát triển dân số vào năm 2000 xuống dưới 1.8%.Xoá
nạn đói .Đến năm 2000 tỷ lệ người có thu nhập quá thấp xuống một nửa.
Giải quyết việc làm cho 6.5-7 triệu người, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở
thành thị xuống dưới 5%.Điều chỉnh tiền lương .Hình thành dần quỹ bảo
trợ thất nghiệp ở thành thị.Hoàn thành cơ bản định canh dịnh cư với đồng
bào các dân tộc ít người.
Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyến toàn vẹn lãnh thổ và an ninh tổ
quốc.Giữ vững ổn định chính trị và an toàn xã hội bảo đảm quốc phòng
an ninh vững mạnh sẵn sàng đối phó với mọi tình huống.
Tích cực chuẩn bị và tạo tiền đề vững chắc cho bước phát triển cao
hơn sau năm 2000. Chủ yếu là nguồn nhân lực nâng cao năng lực khoa
học và công nghệ,xây dựng kết cấu hạ tầng và một số công trình công
nghiệp then chốt hình thành đồng bộ cơ chế thị trườngcó sự quản lý của

triệu tấn dầu quy đổi,16 triệu tấn thô và 4 tỷ mét khối khí. Hoàn thành hai
công trình đường ống dẫn khí để sử dụng.Xây dựng nhà máy lọc dầu số 1
chuẩn bị xây dựng nhà máy lọc dầusố 2 xây dựng ngành hoá dầu.Xây
dựng thêm một số cơ sở phát điện lớn để tăng thêm khoảng 3000 MW
trong 5 năm tới.Sản lượng điện năm 2000 khoảng 30 tỷ KWh .
Phát triển ngành than hướng vào tăng công suất bằng phục hồi ..năm
2000 đạt khoảng 10 triệu tấn than sạch.
Tăng thêm công suất sản xuất phân lân đạt 1.2 triệu tấn năm
2000,phân đạm 60-80 vạn tấn /năm
Đưa vào sản xuất các nhà máy xi-măng,hoạt động ,xây dựng mới.Sản lượng
năm 2000 đạt khoảng 18- 20 triệu tấn .
Đầu tư hoàn chỉnh các dây truyền sản xuất thép năm 2000 đạt 2 triệu
tấn thép. Đổi mới thiêt bị và công nghệ để hiện đại hoá một bước các nhà
máy cơ khí hiện có.Trước mắt,hướng vào sản xuất thiết bị toàn bộ cho
công nghiệp chế biến nông sản,các loại phươqng tiện vận tải,thiêt bị cho
công nghiệp nặng...tăng khả năng sửa chữa ,phục hồi máy móc thiết bị
phát triển các dịch vụ sau khi bán sản phẩm.
Xây dựng và phát triển nhanh công nghiệp điện tử và công nghệ
thông tin.Phát triển dịch vụ tin học,phần mềm ứng dụng trong nghiên cứu
khoa học,sản xuất và đời sống.
Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng trong việc quy hoạch phát
triển các vùng kinh tế,các ngành công nghiệp.
1.2.2.Ngành Nông nghiệp:
Mục tiêu:Phát triển nông nghiệp toàn diện hướng vào bảo đảm an
toàn lương thực quốc gia, trong mọi tình huống tăng nhanh nguồn thực
phẩm cải thiện dinh dưỡng.Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn
có hiệu quả.Trên cơ sở bảo đảm vững chắc nhu cầu lương thực chủ yếu là
lúa.Mở rộng diện tích trồng cây công nghiệp,khai thác có hiệu quả tiềm
năng của nông nghiệp sinh thái,tăng nhanh sản lượng hàng hoá gắn với
công ghiệp chế biến và xuất khẩu,mở rộng thị trường nông thôn,tăng

1.2.3.Ngành dịch vụ thương mại:
Mục tiêu:Phát triển mạnh các loại dịch vụ,mở thêm những loại hình
mới đáp ứng nhu cầu đa dạng của sản xuất kinh doanh.
Tạo môi trương cạnh tranh lành mạnh trong dịch vụ nhất là đối với
các mặt hàng thiết yếu.
Nhiệm vụ:Phát triển thương nghiệp đảm bảo lưu thông hàng hoá
thông suốt ,dễ dàng trong cả nước nhất là vùng nông thôn,vùng sâu vùng
xa.Thương nghiệp quốc doanh được củng cố phát triển trong một số mặt
hàng thiết yếu đối với sản xuất đời sống.Từng bước tổ chức hợp tác xã và
mạng lưới đại lý để cùng thương nghiệp quốc doanh đủ sức ngăn ngừa
những biến động thất thường của thị trường.Tăng cường quản lý thị
trường,tăng cường vai trò quản lý vỹ mô của nhà nước,hoàn thiện hệ
thống dự trữ quốc gia,dự trữ lưu thông.Gía trị hành hoá bán ra trên thị
trường đến năm 2000 gấp 2.5 lần năm 1995 tăng trung bình hằng năm
20%.Tăng nhanh chất lượng số lượng trong vận tải hành khách hàng
hoá.Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tương xứng
với tiềm năng du lịch của đất nước.Xây dựng các chương trình,điểm du
lịch,kết hợp lịch sử văn hoá ,danh lam thắng cảnh.
Đẩy mạnh việc huy động vốn trong nước vào đầu tư khách sạn.Liên
doanh với nước ngoài xây dựng các khu du lịch các khách sạn lớn,đòi hỏi
nhiều vốn.
Phát triển các dịch vụ thông tin,tư vấn về công nghệ,pháp luật,tài
chính,kiểm toán,ngân hàng ,bảo hiểm.Mở rộng các loại hình dịch vụ đa
dạng đáp ứng nhu cầu của nhân dân.
2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
1996-2000.
2.1.Đánh giá chung toàn ngành.
Kế hoạch 5 năm 1996-2000 được xây dựng trong bối cảnh có nhiều
thuận lợi,hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1991-1996 đều
đạt được và vượt mức kế hoạch đề ra, nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status