Một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy hoạt động Xuất khẩu hàng súc sản tại Tổng Công ty Chăn nuôi Việt Nam - Pdf 14

lời mở đầu
Trong giai đoạn phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
theo định hớng xã hội chủ nghĩa, với cơ chế thị trờng mở rộng của nớc ta
nh kích thích mọi thành phần kinh tế phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu. Nền kinh tế đó, cùng với cơ chế quản lý, điều hành và các chính sách
ban hành đúng đắn của Đảng và Nhà nớc ta đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp phát triển.
Trong quá trình đi lên của nền kinh tế đất nớc, hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu nh là một cầu nối liên kết giữa nền kinh tế nớc ta với
nền kinh tế các nớc trong khu vực và thế giới. Các doanh nghiệp kinh
doanh xuất nhập khẩu đã không ngừng lớn mạnh và đã đạt đợc những thành
tựu đáng kể nh mang lại nguồn ngoại tệ to lớn về cho đất nớc, góp phần
đáng kể vào nguồn thu của ngân sách Nhà nớc. Tuy nhiên, các doanh
nghiệp xuất kinh tế cũng đứng trớc không ít khó khăn do cơ chế thị trờng
gây ra, sức mua đồng tiền trong nớc giảm, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các
doanh nghiệp cũng nh một số vấn đề bức xúc đặt ra trớc các nhà doanh
nghiệp là: làm thế nào tìm hiểu và áp dụng đợc những kỹ thuật nghiệp vụ
thích hợp để tiếp cận và tạo lập đợc thị trờng trong sản xuất kinh doanh.
Tổng Công ty chăn nuôi Việt Nam cũng không nằm ngoài các doanh
nghiệp đó.
Sau đợt thực tập thực tế và đã nắm bắt đợc một số tình hình cụ thể
tại Tổng Công ty chăn nuôi Việt Nam, em mạnh dạn chọn đề tài "Một số
giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy hoạt động xuất khẩu hàng súc sản
tại tổng Công ty Chăn nuôi Việt Nam". Vì đây là một đề tài thú vị, mang
tính cấp thiết và đặc biệt quan trọng đối với Tổng Công ty Chăn nuôi Việt
Nam hiện nay.
Từ lý luận và thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng
Công ty chăn nuôi Việt Nam, cùng với một số sách báo, tài liệu tham khảo,
kết hợp với những phơng pháp nghiên cứu truyền thống của khoa học kinh
tế chính trị, ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phơng pháp khác nh: Thống
kê, xử lý số liệu, tổng hợp, phân tích đối chiếu, so sánh lô gíc,

bán trên phạm vi quốc tế. Xuất khẩu, đó là việc bán sản phẩm hàng hoá
trong nớc ra nớc ngoài nhằm thu ngoại tệ, tăng tích luỹ cho ngân sách Nhà
nớc, đồng thời phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống nhân
dân. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trong một không gian vô cùng rộng lớn,
đồng tiền thanh toán là ngoại tệ mạnh, hàng hoá đợc vận chuyển ra ngoài
biên giới quốc gia (trừ một số trờng hợp đặc biệt).
Do vậy, các quốc gia khi tham gia vào hoạt động buôn bán giao dịch
quốc tế đều phải tuân theo các thông lệ quốc tế hiện hành.
2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu hàng hoá của một quốc gia đợc thực hiện bởi
các đơn vị kinh tế của các quốc gia đó mà phần lớn là thông qua các doanh
nghiệp ngoại thơng. Do vậy, thực chất của hoạt động xuất khẩu hàng hoá
của quốc gia là hoạt động xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp.
Hoạt động xuất khẩu không chỉ có vai trò quan trọng đối với nền
kinh tế quốc dân mà còn đối với bản thân các doanh nghiệp tham gia.
a) Đối với nền kinh tế quốc dân.
Là một nội dung chính của hoạt động ngoại thơng và là hoạt động
đầu tiên trong hoạt động thơng mại quốc tế, xuất khẩu có vai trò đặc biệt
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng nh trên
toàn thế giới. Nó là một trong những nhân tố cơ bản để thúc đẩy sự tăng tr-
ởng và phát triển kinh tế quốc gia:

Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
ở các nớc kém phát triển, một trong những vật cản chính đối với sự
tăng trởng kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn. Vì vậy, nguồn vốn huy động từ
nớc ngoài đợc coi là nguồn chủ yếu của họ cho quá trình phát triển. Nhng
mọi cơ hội đầu t hoặc vay nợ từ nớc ngoài và các quốc gia chỉ tăng lên khi
các chủ đầu t va ngời cho vay thấy đợc khả năng xuất khẩu của nớc đó, vì
đây là nguồn chính để đảm bảo nớc này có thể trả đợc nợ.

- Một cách nhìn nhận khác lại cho rằng, chỉ xuất khẩu những sản
phẩm hàng hoá thừa trong tiêu dùng nội địa:
Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản
xuất về cơ bản cha đủ tiêu dùng. Nếu chỉ thụ động chờ sự thừa ra của sản
xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong một phạm vi hẹp và tăng trởng chậm,
do đó các ngành sản xuất không cơ cơ hội phát triển.
Thứ ba, xuất khẩu có tác động tích cực đối với việc giải quyết công
ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân.
Đối với việc giải quyết công ăn việc làm: Xuất khẩu thu hút hàng
triệu lao động thông qua sản xuất hàng xuất khẩu, tạo thu nhập ổn định cho
ngời lao động.
Mặt khác, xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá,
đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú và đa dạng của nhân dân.
Thứ t, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ
kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có sự tác
động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là một loại hoạt
động cơ bản, là hình thức ban đầu của kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các
mối quan hệ khác nh du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế...
phát triển theo.
Ngợc lại, sự phát triển của các ngành này lại tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
b) Đối với doanh nghiệp.
Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp có vai trò to lớn đối với
bản thân các doanh nghiệp tham gia vào thơng mại quốc tế.
Thứ nhất, thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nớc có điều
kiện tham gia vào các cuộc cạnh tranh trên thị trờng thế giới về giá
cả, chất lợng... Những yếu tố này đòi hỏi các doanh nghiệp phải hình thành
một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trờng.
Thứ hai, sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đợc
nhiều lao động, tạo ra thu nhập ổn định cho họ, tạo nguồn ngoại tệ để nhập

thức trực tiếp thông thờng có hiệu quả kinh doanh cao hơn các hình thức
xuất khẩu khác. Bởi vì các doanh nghiệp có thể mua đợc những hàng hoá
có chất lợng cao, phù hợp với nhu cầu của mình cũng nh của khách hàng
với giá cả mua vào thấp hơn. Tuy nhiên, đây là hình thức xuất khẩu có độ
rủi ro lớn, hàng hoá có thể không bán đợc do những thay đổi bất ngờ của
khách hàng, của thị trờng dẫn đến ứ đọng vốn và đôi khi bị thất thoát hàng
hoá.
Khi tiến hành theo hình thức xuất khẩu trực tiếp, doanh nghiệp
ngoại thơng có thể căn cứ vào nguồn hàng, vào khách hàng, đó là:
- Doanh nghiệp có thể tiến hành thu gom hàng hoá trớc sau khi tiến
hành ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng hoá với khách hàng. Cách này chỉ
nên áp dụng cho trờng hợp nguồn hàng khó khăn và đầu ra chắc chắn.
- Doanh nghiệp có thể tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng
hoá với khách hàng nớc ngoài trớc, sau đó tiến hành thu gom hàng tại các
đơn vị chân hàng trong nớc. Nói chung đây là cách các doanh nghiệp thờng
thực hiện vì đầu ra hiện nay khó khăn và khả năng tài chính của các đơn vị
còn hạn chế.
2. Hoạt động xuất khẩu uỷ thác:
Hoạt động xuất khẩu uỷ thác là một hình thức dịch vụ thơng mại,
theo đó doanh nghiệp ngoại thơng đứng ra với vai trò là trung gian thực
hiện việc xuất khẩu hàng hoá cho các đơn vị có hàng hoá uỷ thác. Trong
hình thức này hàng hoá trớc khi kết thúc quá trình xuất khẩu vẫn thuộc sở
hữu của đơn vị uỷ thác. Doanh nghiệp ngoại thơng chỉ còn nhiệm vụ làm
các thủ tục về xuất khẩu hàng hoá, kể cả việc vận chuyển hàng hoá và đợc
hởng một khoản tiền gọi là phí uỷ thác mà đơn vị uỷ thác trả.
Hình thức xuất khẩu này có u điểm là dễ thực hiện độ rủi ro thấp,
doanh nghiệp ngoại thơng không phải là ngời chịu trách nhiệm cuối
cùng về hàng hoá và cũng không phải tự bỏ vốn ra để mua hàng. Tuy nhiên,
phí uỷ thác mà doanh nghiệp nhận đợc thờng nhỏ nhng đợc thanh toán
nhanh.

- Bù trừ theo nghĩa thực của nó.
- Bù trừ trớc.
- Bù trừ song hành.
-Trong nghiệp vụ chuyển giao nghĩa vụ :Bên nhập khẩu hàng
chuyển khoản nợ về tiền hàng cho một bên thứ 3. Nghiệp vụ này bảo đảm
cho các công nghiệp khi nhận hàng đối lu không phù hợp với lĩnh vực kinh
doanh của mình có thể bán hàng đó đi.
Nghiệp vụ buôn bán đối lu này doanh nghiệp ngoại thơng có thể sử
dụng để nhập khẩu những loại hàng hoá mà thị trờng trong nớc đang rất cần
hoặc có thể xuất khẩu sang một nớc thứ ba.
-Trong giao dịch bồi hoàn : Ngời ta đổi hàng hoá hoặc dịch vụ lấy
những dịch vụ và u huệ (nh u hệ trong đầu t hoặc giúp đỡ bàn sản phẩm).
Giao dịch bồi hoàn hiện nay chiếm gần 1/4 số hợp đồng buôn bán
đối lu. Nó thờng xảy ra trong lĩnh vực buôn bán những kỹ thuật quân sự đắt
tiền trong việc giao những chi tiết và cụm chi tiết trong khuôn khổ hợp tác
công nghiệp.
4. Đấu giá quốc tế:
4.1. Khái niệm.
Đấu giá quốc tế là một phơng thức bán hàng đặc biệt đợc tổ chức
công khai ở một nơi nhất định, tại đó sau khi xem trớc hàng hoá, những ng-
ời đến mua tự do cạnh tranh giá cả và cuối cùng, hàng hoá sẽ đợc bán cho
ngời nào trả giá cao nhất.
4.2.Cách thức tiến hành.
- Chuẩn bị đấu giá, bao gồm:
+ Chuẩn bị hàng hoá: hàng đợc phân thành từng lô căn cứ theo chất
lợng, kích cỡ của chúng.
+ Xây dựng thể lệ đấu giá: trong đó, ngời ta thờng quy định về trách
nhiệm của ngời mua phải xem hàng trớc (ngời bán không chịu trách nhiệm
về phẩm chất hàng), về khoản tiền ký quỹ khi tham dự đấu ta, về mức mặc
cả đặt giá...

tiền: nớc tái xuất trả tiền nớc xuất khẩu và thu tiền cả nớc nhập khẩu.
- Chuyển khẩu, trong đó hàng hoá đi thẳng từ nớc xuất khẩu sang n-
ớc nhập khẩu. Nớc tái xuất trả tiền cho nớc nhập khẩu và thu tiền của nớc
nhập khẩu.
5.3. Ký kết hợp đồng tái xuất.
Ngời kinh doanh tái xuất thờng ký một hợp đồng nhập khẩu và một
hợp đồng xuất khẩu. Hai hợp đồng này về cơ bản không khác những hợp
đồng xuất nhập khẩu thông thờng, song chúng có liên quan mật thiết với
nhau. Chúng thờng phù hợp với nhau về hàng hoá, bao bì, mẫu hiệu, nhiều
khi cả về thời gian giao hàng và các chứng từ hàng hoá. Việc thực hiện hợp
đồng nhập khẩu phải tạo cơ sở đầy đủ và chắc chắn cho việc thực hiện hợp
đồng xuất khẩu.
Về mặt thanh toán, nhiều hợp đồng tí xuất quy định dùng phơng
thức th tín dụng giáp lng (back to back L/C). Ngời tái xuất thờng có dàn
xếp để chậm trả tiền hàng nhập và nhanh chóng thu tiền hàng xuất.
Nhờ những biện pháp đó, ngời tái xuất thu đợc cả lợi tức về tiền hàng trong
khoảng thời gian chênh lệch.
Nh vậy, có thể có rất nhiều các hình thức xuất khẩu khác nhau. Các
doanh nghiệp ngoại thơng nên lựa chọn thực hiện các hình thức xuất khẩu
phù hợp với doanh nghiệp mình. Chủ trơng là tận dụng tối đa khả năng sẵn
có cũng nh tăng khả năng đó để da dạng hoá các loại hình xuất khẩu hàng
hoá.
III. Nội dung của hoạt động xuất khẩu ở các doanh nghiệp.
Xuất khẩu là hoạt động hết sức phức tạp và chịu ảnh hởng của nhiều
nhân tố khác nhau. Hoạt động xuất khẩu phải trải qua nhiều khâu ràng
buộc lẫn nhau, đòi hỏi nhà kinh doanh phải hết sức thận trọng, linh hoạt để
nắm bắt đợc thời cơ, giảm rủi ro và thu đợc lợi nhuận cao nhất. Tuỳ theo
các loại hình xuất khẩu khác nhau mà số bớc thực hiện cũng nh các bớc
tiến hành có những nét đặc trng riêng. song trong kinh doanh xuất khẩu
hàng hoá thì nộ dung cơ bản có thể đợc thực hiện theo các bớc sau.

Dung lợng thị trờng là không cố định, nó thay đổi do tác động tổng
hợp của nhiều nhân tố trong những giai đoạn nhất định. Các nhân tố làm
cho dung lợng thị trờng thay đổi có thể chia ra làm 3 loại sau:
Loại 1: Là các nhân tố làm cho dung lợng thị trờng biến động có
tính chất chu kỳ. Đó là sự khủng hoảng có tính chất chu kỳ của kinh tế t
bản chủ nghĩa và tính chất thời vụ trong sản xuất, lu thông và phân phối
hàng hoá.
Loại 2: Là nhân tố tiến bộ khoa học - kỹ thuật, các biện pháp chính
sách của Nhà nớc và các tập đoàn t bản lũng đoạn, thị hiếu, tập quán của
ngời tiêu dùng, khả năng sản xuất hàng thay thế.
Loại 3: Là các nhân tố ảnh hởng tạm thời đối với dung lợng thị tr-
ờng nh hiện tợng đầu cơ gây ra những đột biến về cung cầu, các yếu tố tự
nhiên nh thiên tai, bão lụt và hạn hán, động đất, các yếu tố về chính trị - xã
hội nh đình công...
a.3 Lựa chọn đối tợng giao dịch.
Trong thơng mại quốc tế, bạn hàng hay khách hàng nói chung là
những ngời có quan hệ giao dịch với ta nhằm thực hiện các quan hệ hợp
đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ, các hoạt động hợp tác kinh tế, khoa học
kỹ thuật liên quan đến cung cấp hàng hoá.
Việc lựa chọn thơng nhân để giao dịch dựa trên cơ sở nghiên cứu:
Tình hình sản xuất kinh doanh của hãng, lĩnh vực và phạm vi kinh
doanh để thấy đợc khả năng cung cấp lâu dài, thờng xuyên, khả năng đặt
hàng và liên kết kinh doanh.
Khả năng về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cho phép ta thấy đợc
những u thế trong thoả thuận giá cả, điều kiện thanh toán.
Thái độ và quan điểm kinh doanh là vơn tới chiếm lĩnh thị trờng hay
độc quyền về kinh doanh. Tìm hiểu uy tín và quan hệ trong kinh doanh
cũng là một điều kiện quan trọng cho phép đi đến những quyết định trong
mua bán một cách nhanh chóng và cơ hiệu quả hơn. Lựa chọn thơng nhân
giao dịch tốt nhất nên chọn những ngời xuất nhập khẩu trực tiếp, hạn chế

ngời mua hay bán.
Cạnh tranh giữa ngời bán với nhau xảy ra khi lợng cung trên thị tr-
ờng cao hơn lợng cầu, kết quả là giá sẽ giảm xuống.
Cạnh tranh giữa ngời mua với nhau xảy ra khi lợng cầu trên thị tr-
ờng cao hơn lợng cung, kết quả là làm cho giá tăng lên.
- Nhân tố cung cầu: Nếu cung vợt quá cầu thì sẽ thúc đẩy xu hớng
giảm giá và ngợc lại.
- Nhân tố lạm phát: Trên thị trờng thế giới, giá cả đợc biểu hiện
bằng đồng tiền của những nớc có vị trí quan trọng trong mậu dịch quốc tế.
Giá cả của những đồng tiền này cũng luôn thay đổi và việc thay đổi ấy gắn
liền với lạm phát.
- Nhân tố thời vụ: Là nhân tố luôn tác động với xu hớng biến động
giá, nhất là những loại hàng hoá có tính chất sản xuất hoặc tiêu dùng mang
tính thời vụ.
2. Tổ chức thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu.
Cơ sở để thực hiện thu gom hàng xuất khẩu là hợp đồng kinh tế giữa
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu với các chân hàng.
Những loại hợp đồng kinh tế thờng đợc sử dụng để huy động hàng xuất
khẩu là:
a) Thu mua tạo nguồn theo đơn đặt hàng kết hợp với ký hợp đồng:
Đơn đặt hàng là văn bản yêu cầu về mặt hàng, quy cách, cỡ loại, có
ghi rõ số lợng, thời gian giao hàng.
Lập đơn hàng phải đảm bảo chính xác về số lợng, thời gian giao
hàng. Muốn lập đợc đơn hàng, phải xác định đợc nhu cầu của khách hàng,
phải nắm đợc khả năng sản xuất của các đơn vị có nguồn hàng.
b) Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu theo hợp đồng:
Đây là hình thức đợc áp dụng rộng rãi trong quan hệ mua bán trao
đổi hàng hoá. Sau khi các bên đạt đợc những thoả thuận về mặt hàng, chất
lợng, số lợng, giá cả, phơng thức thanh toán, thời gian giao hàng... thì các
bên ký kết hợp đồng kinh tế. Đây là cơ sở ràng buộc trách nhiệm của các

mua bán.
- Đại lý đặc biệt: Là đại lý chỉ đợc giao một số quyền mua một lô
hàng, một mặt hàng.
- Tổng đại lý: Là ngời đợc uỷ quyền làm một phần việc nhất định
của ngời uỷ thác.
- Đại lý thu uỷ: Là ngời đợc chỉ định để hành động thay cho ngời uỷ
thác, với danh nghĩa và chi phí của ngời uỷ thác.
- Đại lý hoa hồng: Là ngời đợc uỷ thác tiến hành hoạt động với
danh nghĩa của mình, nhng với chi phí của ngời uỷ thác.
- Đại lý kinh tiêu: Là ngời đại lý hoạt động với danh nghĩa và chi
phí của mình, thù lao của ngời này là khoản chênh lệch giữa giá bán và giá
mua.
f) Hợp đồng nhận uỷ thác xuất khẩu:
Đơn vị ngoại thơng nhận hàng thay mặt cho đơn vị có hàng xuất
khẩu, ký kết hợp đồng xuất khẩu những mặt hàng đợc uỷ thác và trên cơ sở
đó nhận một khoản thù lao, gọi là phí uỷ thác xuất khẩu.
3. Đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu.
a) Đàm phán hợp đồng xuất khẩu:
Đàm phán là việc bàn bạc trao đổi với nhau các điều kiện mua bán
giữa các nhà doanh nghiệp xuất nhập khẩu để đi đến thống nhất ký kết hợp
đồng. Thờng ngời ta dùng các hình thức sau:
- Đàm phán qua th tín.
- Đàm phán qua điện thoại.
- Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp.
b) Ký két hợp đồng xuất khẩu:
Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể của hợp đồng kinh tế ngoại thơng có
thể thực hiện bằng một trong các hình thức sau:
- Hai bên ký kết vào một hợp đồng mua bán (một văn bản).
- Ngời xác nhận bằng văn bản là ngời mua đã đồng ý với các điều
khoản của th chào hàng tự do nếu ngời mua viết đúng thủ tục cần thiết.


Đây là trình tự những công việc chung nhất, cần tiến hành để thực
hiện hợp đồng xuất khẩu. Tuy nhiên, trên thực tế tuỳ theo thoả thuận giữa
hai bên trong hợp đồng có thể bỏ qua một vài công đoạn.
a) Xin giấy phép xuất (nhập) khẩu:
Khi đối tợng hợp đồng thuộc phạm vi phải xin giấy phép xuất
(nhập) khẩu, doanh nghiệp phải trình những hồ sơ gồm:
- Hợp đồng xuất (nhập) khẩu.
- Phiếu hạn ngạch (nếu hàng thuộc diện quản lý bằng hạn ngạch).
- Hợp đồng uỷ thác xuất nhập khẩu (nếu là trờng hợp xuất nhập
khẩu uỷ thác).
- Giấy báo trúng thầu của Bộ Tài chính (nếu là hàng xuất khẩu trả
nợ nớc ngoài)...
b) Chuẩn bị hàng để giao:
Để thực hiện cam kết, chủ hàng phải tiến hành chuẩn bị hàng xuất
theo ba khâu chủ yếu sau:
- Thu gom tập trung thành từng lô hàng xuất khẩu. Chủ hàng phải
chủ động tìm kiếm và thu gom các nguồn hàng để đợc những lô hàng cần
thiết phục vụ cho việc thực hiện hợp đồng đã ký.
- Đóng gói bao bì hàng xuất khẩu. Chủ hàng phải lựa chọn bao bì
đóng gói phù hợp với hàng hoá vật t, phù hợp với các quy cách đã cam kết
trong hợp đồng. Lựa chọn bao bì phải tính đến những điều kiện về khí hậu,
Giao hàng
lên tàu
Mua bảo
hiểm
Làm thủ
tục hải
quan
Kiểm tra

bán (nếu là CIF hoặc C and F) phải thuê tàu. Tàu thuê có thể là tàu chợ hay
tàu chuyến nhng đều phải ký hợp đồng vận tải. Chủ hàng xuất khẩu cũng
có thể uỷ thác việc thuê tàu lu cớc cho một công ty hàng hải, khi đó hợp
đồng uỷ thác thuê tàu phải đợc thiết lập.
e) Mua bảo hiểm.
Do hợp đồng quy định mà ngời mua hay ngời bán phải mua bảo
hiểm. Hiện nay trên thế giới ngời ta áp dụng rộng rãi điều khoản bảo hiểm
Luân Đôn (áp dụng từ ngày 01/01/1982), gồm: Điều kiện A (ICCA), B
B(ICCB), C(ICCC), điều kiện bảo hiểm chiến tranh, điều kiện bảo hiểm
đình công. Việt Nam chỉ áp dụng ba điều kiện A,B,C.
Việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm phải dựa vào các căn cứ sau:
- Điều khoản hợp đồng: Chẳng hạn khi bán CLF, chúng ta chỉ mua
bảo hiểm theo điều kiện "C".
- Tính chất hàng hoá.
- Tính chất bao bì và phơng thức xếp hàng.
- Loại tàu chuyên chở.
- Tình hình chính trị xã hội...
Tuỳ theo kế hoạch chuyên chở mà mua bảo hiểm năm hay chuyến,
trả tiền và lấy giấy bảo hiểm cho phù hợp.
f) Làm thủ tục hải quan:
f.1 Làm thủ tục xuất khẩu về mặt giấy tờ tại cơ quan hải quan
địa phơng.
Chủ hàng xuất khẩu làm giấy khai hải quan gồm: Giấy phép xuất
khẩu; bản sao hợp đồng hoặc L/C; Hoá đơn để tính thuế; bảng kê chi tiết
hàng hoá.
f.2 Kê khai tại kho hàng:
Chủ hàng phải sắp xếp hàng hoá thuận tiện cho kiểm tra cung cấp
nhân công và dụng cụ đóng mở hàng hoá.
Hải quan phải đối chiếu hàng hoá khai trên giấy tờ với thực tế.
f.3 Quyết định xử lý của hải quan.

- Nếu hợp đồng quy định thanh toán bằng phơng thức nhờ thu thì
ngay sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu phải hoàn thành việc lập chứng từ và
xuất trình cho ngân hàng để uỷ thác cho ngân hàng việc đòi tiền. Chứng từ
thanh toán cần lập hợp lệ, chính xác và nhanh chóng giao cho ngân hàng
nhằm thu hồi vốn nhanh.
i) Khiếu nại và giải quyết khiếu nại (nếu có):
Khi thực hiện hợp đồng, nếu chủ hàng xuất khẩu bị khiếu nại đòi
bồi thờng thì cần có thái độ nghiêm túc, thận trọng trong việc xem xét yêu
cầu của khách hàng. Việc giải quyết phải khẩn trơng, kịp thời và có tình có
lý. Nếu khiếu nại của khách hàng là có cơ sở thì nhà xuất khẩu có thể giải
quyết bằng cách: Giao hàng tốt thay thế hàng kém chất lợng; sửa chữa hàng
hỏng; giao bù hàng thiếu.
Nếu việc khiếu nại không đợc giải quyết thoả đáng, hai bên có thể
kiện nhau ra hội đồng trọng tài hoặc toà án kinh tế... là kết quả xác nhận
các bớc thực hiện hợp đồng nên rất có ý nghĩa trong việc thanh, quyết toán,
trong việc giải quyết tranh chấp khiếu nại.
IV- Các nhân tố tác động đến hoạt động xuất khẩu.
1. Các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô.
a) Thuế quan:
Thuế xuất khẩu là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất khẩu, nó
làm tăng tơng đối giá của hàng xuất khẩu so với giá quốc tế nên đem lại bất
lợi cho sản xuất kinh doanh trong nớc. Nhìn chung, công cụ này chỉ đợc
các nớc áp dụng đối với một số ít các mặt hàng xuất khẩu bổ sung cho
nguồn thu của ngân sách Nhà nớc.
b) Các công cụ phi thuế quan:
Chính phủ sử dụng công cụ phi thuế quan xuất khẩu là nhằm quản
lý hoạt động kinh doanh hang xuất khẩu có hiệu quả.
Hơn thế nữa có thể bảo hộ sản xuất trong nớc về tài nguyên thiên
nhiên và cải thiện cán cân thanh toán.
- Hạn ngạch là quy định của Nhà nớc về số lợng cao nhất của một

2. Các quan hệ kinh tế quốc tế.
Đối với hoạt động kinh doanh quốc tế nói chung và hoạt động xuất
khẩu nói riêng, các mối quan hệ kinh tế quốc tế có tác động ảnh hởng cực
kỳ mạnh mẽ. Khi xuất khẩu hàng hoá sang một nớc nào đó, ngời nhập khẩu
thờng phải đối mặt với những rào cản thuế quan và các hàng rào phi thuế
quan. Các rào cản này lỏng hay chặt là phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ song
phơng giữa nớc xuất khẩu với nớc nhập khẩu.
Với xu hớng toàn cầu hoá nền kinh tế, các hiệp định thơng mại song
phơng và đa phơng giữa các nớc, các khối liên minh kinh tế liên tục đợc ký
kết với mục tiêu xoá bỏ, giảm bớt hàng rào thuế quan giữa các nớc tham
gia, giảm giá cả, thúc đẩy hoạt động thơng mại trong khu vực vào toàn thế
giới. Nếu một quốc gia tham gia vào những liên minh kinh tế và hiệp định
thơng mại ấy thì đó sẽ là tác nhân tích cực đảy mạnh hoạt động xuất khẩu
của quốc gia đó. Ngợc lại, nó sẽ trở thành rào chắn đối với việc thâm nhập
thị trờng nớc ngoài của hàng hoá nớc đó.
3. Các yếu tố khoa học công nghệ.
Cùng với sự phát triển nh vũ bão của công nghệ thông tin và sự ra
đời của thơng mại điện tử, hoạt động xuất khẩu hàng hoá ngày càng phát
triển và ngày càng hiệu quả hơn. Điều này thể hiện rất rõ ràng, chẳng hạn
nh các đơn vị ngoại thơng có thể giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng trực
tiếp với khách hàng thông qua mang Internet hay qua điện thoại, điện tín...
làm giảm bớt chi phí đi lại, chi phí giao dịch, đàm phán ký kết hợp
đồng và các chi phí khác. Bên cạnh đó, khoa học công nghệ còn tác động
vào các lĩnh vực nh vận tải hàng hoá, bảo quản hàng hoá, kỹ thuật nghiệp
vụ ngân hàng... Đó cũng là những nhân tố ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động
xuất khẩu.
4. Các nhân tố ảnh hởng bên trong doanh nghiệp.
Đây là nhân tố thuộc về bản than doanh nghiệp mà doanh nghiệp có
thể tác động làm thay đổi nó để phục vụ cho hoạt động xuất khẩu của mình.
Có thể kể đến các nhân tố sau:

điểm của mặt hàng này để bảo quản đạt kết quả cao. Nếu bảo quản không
đúng qui cách nó sẽ gây ra nhiều bệnh dịch lây lan hoặc không đảm bảo đ-
ợc nhu cầu tiêu dùng. Điều này có quan hệ rất lớn đến hoạt động xuất khẩu
hàng súc sản.
Vì thế khi kinh doanh xuất nhập khẩu mặt hàng súc sản xuất doanh
nghiệp cần đảm bảo đợc vệ sinh an toàn thực phẩm, nếu không đáp ứng đ-
ợc điều đó sẽ rất khó đứng đợc trên thị trờng xuất khẩu. Bởi hai lý do chính
sau:
- Do chính sách bảo hộ ngời tiêu dùng trong nớc của Chính phủ nớc
nhập khẩu.
- Mặc dù đã có kiểm dịch nhng tâm lý ngời tiêu dùng lo âu về bệnh
dịch sẽ lây lan của gia súc đối với họ.
2. Tình hình thị trờng thế giới về mặt hàng súc sản.
Mặt hàng súc sản là mặt hàng thực phẩm nên nó chịu rất nhiều tác
động của tình hình cung cầu trên thị trờng.
Nó chịu tác động của các yếu tố kinh tế khác nh tỷ giá hối đoái hạn
ngạch ,thuế quan,chính sách bảo hộ,kiểm dịch,môi trờng luật pháp,văn
hoá
Khi các nớc xuất khẩu mặt hàng súc sản này không lờng hết đợc
những biến động của thị trờng thờng gây nên hậu quả khó lờng làm ảnh h-
ởng đến hiệu quả kinh tế.
Nh trên thị trờng Thế giới vừa qua có cuộc khủng hoảng bò
điên,bệnh lỡ mồm long móng ở các đàn gia súc,nạn dịch lây lan giữa các
đàn gia súc đã dẫn đến những thiệt hại vô cùng to lớn của các nhà xuất
khẩu mặt hàng súc sản này.

Trích đoạn Tình hình thị trờng thế giới về mặt hàng súc sản Sơ lợc về Tổng công ty chăn nuôi Việt Nam Cơ cấu hàng súc sản xuất khẩu của Tổng công ty Nguồn hàng xuất khẩu của Tổng công ty Thị trờng xuất khẩu của Tổng công ty
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status