TRƯỜNG..........................
KHOA…………………… BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Một số biện pháp đẩy mạnh
xuất khẩu hàng may mặc ở
Tổng Công ty Dệt May Việt
Nam
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG I: Một số vấn đề lý luận về xuất khẩu và vai trò của
xuất khẩu hàng may mặc trong doanh nghiệp
8
I. Khái niệm, các hình thức xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu
8
II. Vai trò của xuất khẩu hàng may mặc đối với Việt Nam.
14
III. Thị trường cho hàng may mặc và xu hướng nhập khẩu
3
LỜI MỞ ĐẦU
Đặc trưng quan trọng của tình hình thế giới ngày nay là xu hướng quốc tế
hoá. Nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, mỗi nước dù lớn hay nhỏ đều
phải tham gia vào sự phân công lao động khu vực và quốc tế. Ngày nay không
một dân tộc nào có thể phát triển đất nước mình mà chỉ bằng tự lực cánh sinh.
Đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì việc nhận thức đầy
đủ những đặc trưng quan trọng này và ứng dụng vào tình hình thực tế đất nước
có tầm quan trọng hơn bao giờ hết. ở nước ta, Khi xác định những quan điểm
lớn về công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm
kỳ khoá VII của Đảng đã khẳng định “kiên trì chiến lược hướng mạnh về xuất
khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản xuất có
hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh của đất nước cũng như của từng vùng, từng
nghành, từng lĩnh vực trong từng thời kỳ, không ngừng nâng cao sức mạnh
cạnh tranh trên thị trường trong nước, thị trường khu vực và thị trường thế
giới” .
Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, trong những
năm qua thương mại Việt Nam đã đạt được những thành tựu bước đầu quan
trọng, góp phần tạo nên những biến đổi sâu sắc nền kinh tế - xã hội nước ta và
vị thế mới trên thị trường quốc tế. Việt Nam đã thiết lập được nhiều mối quan
hệ ngoại giao với nhiều nước, tiếp tục mở rộng hoạt động ngoại thương theo
hướng đa dạng hoá, đa phương hoá, tích cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới,
tham gia các tổ chức thương mại quốc tế như ASEAN, AFTA, APEC . .. Điều
này đã đạc biệt làm cho lĩnh vực xuất nhập khẩu ngay càng trở nên sôi động.
Trong số 10 mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việt
Nam, phải kể đến hàng dệt may. Tuy đứng ở vị trí thứ hai, nhưng đây là mặt
hàng có nhiều lợi thế so sánh và có khả năng phát triển cao. Hơn nữa, với điều
kiện tình hình nước ta hiện nay, tập trung phát triển hàng dệt may là hoàn toàn
phù hợp.
I. KHÁI NIỆM, CÁC HÌNH THỨC XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA
XUẤT KHẨU
1. Khái niệm :
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế.
Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ
mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm
bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ, qua
đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế oỏn định
từng bước nâng cao mức sống nhân dân.
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu
tiên của một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi doanh
nghiệp đã đa dạng hoá hoạt động kinh doanh của mình.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá
của một quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với
tiêu dùng của nước này với nước khác. Nền sản xuất xã hội phát triển như thế
nào phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động kinh doanh này.
2. Các hình thức xuất khẩu thông dụng ở Việt Nam
a/ Xuất khẩu uỷ thác
Trong phương thức này, đơn vị có hàng xuất khẩu là bên uỷ thác giao cho
đơn vị xuất khẩu gọi là bên nhận uỷ thác tiến hành xuất khẩu một hoặc một số
lô hàng nhất định với danh nghĩa của mình (bên nhận uỷ thác) nhưng với chi
phí của bên uỷ thác. Về bản chất, chi phí trả cho bên nhận uỷ thác chính là tiền
6
thu lao trả cho đại lý. Theo nghị định 64-HĐBT, chi phí uỷ thác xuất khẩu
không cao hơn 1% của tổng số doanh thu ngoại tệ về xuất khẩu theo điều kiện
FOB tại Việt Nam.
Ưu nhược điểm của xuất khẩu uỷ thác:
-Ưu điểm: Công ty uỷ thác xuất khẩu không phải bỏ vốn vào kinh doanh,
tránh được rủi ro trong kinh doanh mà vẫn thu được một khoản lợi nhuận là
hoa hồng cho xuất khẩu. Do chỉ thực hiện hợp đồng uỷ thác xuất khẩu nên tất
Gia công hàng xuất khẩu là một phương thức kinh doanh trong đó một bên
(gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của
một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho
bên đặt gia công và nhận thù lao ( gọi là chi phí gia công). Tóm lại, gia công
xuất khẩu là đưa các yếu tố sản xuất (chủ yếu là nguyên vật liệu) từ nước ngoài
về để sản xuất hàng hoá theo yêu cầu của bên đặt hàng, nhưng không phải để
tiêu dùng trong nước mà để xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch do hoạt động gia
công đem lại. Vì vậy, suy cho cùng, gia công xuất khẩu là hình thức xuất khẩu
lao động, nhưng là loại lao động dưới dạng được sử dụng(được thể hiện trong
hàng hoá) chứ không phải dưới dạng xuất khẩu nhân công ra nước ngoài.
Gia công xuất khẩu là một phương thức phổ biến trong thương mại quốc tế.
Hoạt động này phát triển sẽ khai thác được nhiều lợi thế của hai bên: bên đặt
gia công và bên nhận gia công.
3.Vị trí, vai trò của hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc
tế. Nó không phải là hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan
hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài
nhằm bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ,
qua đó có thể đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh
tế ổn định từng bước nâng cao mức sống nhân dân. Do vậy, xuất khẩu là hoạt
động kinh tế đối ngoại để đem lại những hiệu quả đột biến cao hoặc có thể gây
thiệt hại vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà chủ
8
thể trong nước tham gia xuất khẩu không dễ dàng khống chế được.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá
của một quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với
tiêu dùng của nước này với nước khác. Nền sản xuất xã hội phát triển như thế
nào phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động kinh doanh này.
Đối với nước ta, nền kinh tế đang bước đầu phát triển, cơ sở vật chất kỹ
thuật còn thấp kém, không đồng bộ, dân số phát triển nhanh nên việc đẩy mạnh
Để xuất khẩu được, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu phải lựa chọn
được những ngành nghề, mặt hàng có tổng chi phí (chi phí sản xuất và chi phí
xuất khẩu) nhỏ hơn giá trị trung bình trên thị trường thế giới. Họ phải dựa vào
những ngành hàng, những mặt hàng khai thác được các lợi thế của đất nước cả
về tương đối và tuyệt đối. Ví dụ như trong các mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn
của ta thì dầu mỏ, thuỷ sản, gạo, than đá là những mặt hàng khai thác lợi thế
tuyệt đối nhiều hơn (vì chỉ một số nước có điều kiện để sản xuất các mặt hàng
này). Còn hàng may mặc khai thác chủ yếu lợi thế so sánh về giá nhân công rẻ.
Tuy nhiên, phân biệt lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh chỉ mang ý nghĩa tương
đối.
Hoạt động xuất khẩu vừa thúc đẩy thai thác các lợi thế của đất nước vừa
làm cho việc khai thác đó có hiệu quả hơn vì khi xuất khẩu, các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu có ngoại tệ để nhập máy móc, thiết bị tiên tiến đưa năng suất
lao động lên cao. Các lợi thế cần khai thác ở nước ta là nguồn lao động dồi
dào, cần cù, giá thuê rẻ, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và địa thế địa
lý đẹp.
Thứ ba: Hoạt động xuất khẩu góp phần làm chuyển dịch cơ cấu sản
xuất, định hướng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Chúng ta biết rằng có hai xu hướng xuất khẩu: xuất khẩu đa dạng và xuất
khẩu mũi nhọn.
10
Xuất khẩu đa dạng là có mặt hàng nào xuất khẩu được thì xuất khẩu nhằm
thu được nhiều ngoại tệ nhất, nhưng với mỗi mặt hàng thì lại nhỏ bé về quy
mô, chất lượng thấp (vì không được tập trung đầu tư) nên không hiệu quả.
Xuất khẩu hàng mũi nhọn: Tuân theo quy luật lợi thế so sánh của David
Ricardo tức là tập trung vào sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà mình có
điều kiện nhất, có lợi thế so sánh hay chính là việc thực hiện chuyên môn hoá
và phân công lao động quốc tế. Khi đó, nước ta có khả năng chiếm lĩnh thị
trường, trở thành "độc quyền" mặt hàng đó và thu lợi nhuận siêu ngạch. Xuất
khẩu mũi nhọn có tác dụng như đầu của một con tàu, tuy nhỏ bé nhưng nó có
ngành nghề cần nhiều lao động như ngành may mặc. Với một đất nước hơn 70
triệu dân, tỷ lệ thất nghiệp tương đối cao thì đây là một vấn đề có ý nghĩa rất
lớn trong điều kiện nước ta hiện nay.
Thứ năm: Hoạt động xuất khẩu nâng cao uy tín nước ta trên thị trường
thế giới tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại.
Hoạt động xuất khẩu đem lại ngoại tệ, góp phần làm cân bằng cán cân
thanh toán, là một trong bốn điều kiện đánh giá nền kinh tế của một nước:
GDP, lạm pháp, thất nghiệp và cán cân thanh toán. Cao hơn nữa là xuất siêu,
tăng tích luỹ ngoại tệ, luôn đảm bảo khả năng thanh toán với đối tác, tăng được
tín nhiệm. Qua hoạt động xuất khẩu, hàng hoá Việt Nam được bầy bán trên thị
trường thế giới, khuyếch trương được tiếng vang và sự hiểu biết.
Hoạt động xuất khẩu làm cho các quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn, làm tiền đề
thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại khác như dịch vụ du lịch, ngân hàng,
đầu tư, hợp tác, liên doanh ....
Tóm lại : phát triển hoạt động xuất khẩu là một chiến lược để phát triển
nền kinh tế nước ta.
II. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC ĐỐI VỚI VIỆT
NAM.
Trước khi tìm hiểu vai trò của xuất khẩu chúng ta phải xác định được
12
nhiệm vụ của chúng đó là:
- Phải biết khai thác có hiệu quả lợi thế của đất nước, kích thích các
ngành kinh tế phát triển.
- Phải góp phần tăng tích luỹ, mở rộng sản xuất tăng thu nhập cho nền
kinh tế quốc dân.
- Xuất khẩu là cải thiện đời sống nhân dân thông qua việc tạo công ăn
việc làm, tạo nguồn thu nhập.
- Phải biết khai thác những thị trường hiện có và quan tâm tới thị trường
chưa được khai thác.
- Lợi dụng khối lượng mua hàng lớn lao của nước ngoài.
- Khai thác các tiềm năng, phát huy các lợi thế của đất nước, kích thích
các ngành lts phát triển cả về quy mô lẫn chiều sâu. Đặc biệt là sự tác động
đến sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế theo hướng ngày càng sử dụng có hiệu
quả các lợi thế đất nước. Phát triển các ngành công nghiệp, áp dụng kỹ
thuật tiên tiến giúp có thêm nguồn lức công nghiệp mới, tăng năng suất lao
động, tiết kiệm chi phí lao động xã hội.
- Tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá của quốc gia.
- Đẩy mạnh xuất khẩu còn có vai trò tăng cường sự hợp tác quốc tế giữa
các nước, nâng cao địa vị và uy tín của Việt Nam trên thương trường quốc
tế. Nhờ có những hàng xuất khẩu mà nhiều Công ty nước ngoài biết đến
năng lực của ta và sẵn sàng thiết lập quan hệ buôn bán và đầu tư.
Như vậy, xuất khẩu nó không chỉ đóng vai trò xúc tác, hỗ trợ phát triển mà
nó có thể thành yếu tố bên trong của sự phát triển; trực tiếp tham gia vào việc
giải quyết các vấn đề bên trong của nền kinh tế quốc dân như vốn, kỹ thuật,
lao động, nguyên liệu, thị trường...
14
III. THỊ TRƯỜNG CHO HÀNG MAY MẶC VÀ XU HƯỚNG NHẬP
KHẨU HÀNG MAY MẶC TRÊN THẾ GIỚI.
1. Về thị trường may mặc Việt Nam.
1.1. thị trường EU:
Thị trường EU với dân số 340 triệu là nơi tiêu thụ lớn và đa dạng các loại
quần áo. Mức tiêu thụ thị trường này là khá cao: 17 kg / người / năm. Ở đây,
người ta có thấy đủ loại hàng hoá từ các nước như Mỹ, Trung Quốc, Nhật,
Hồng Kông, Đài Loan. Hàng năm EU nhập khoảng 63 tỷ USD quần áo vừa
qua hạn ngạch mà EU dành cho công nghệ là 22 nghìn tấn hàng dệt may giá trị
khoảng 450 triệu USD và hiệp định ký cho giai đoạn tới 1998-200 giá trị sẽ
tăng 40% và so với giá trị hiệp định cũ (chi giai đoạn 1993-1997). Đây là thị
trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam và EU ký hiệp định buôn bán dệt may
từ năm 1992 trong đó có hạn ngạch gia công thuần tuý (TPP). Có nghĩa là
khách hàng gửi nguyên phụ liệu từ một nước thứ ba thuê gia công tại Việt
trường này như:
- Không được mua bán, chuyển nhượng hạn ngạch để xuất khẩu các mặt
hàng có xuất xứ từ các nước khác vào EU.
- Các doanh nghiệp Việt Nam không được lợi dụng thuế ưu đãi, giá nhân
công trong nước rẻ để bán hàng rẻ hơn mức giá hiện hành gây bất lợi cho
các nhà sản xuất cùng loại hàng đó hoặc các mặt hàng trực tiếp bị cạnh
tranh của EU. Có thể sẽ bị áp dụng quy định cụ thể đã được hai bên thoả
thuận.
- Các doanh nghiệp Việt Nam không được phép bán hàng cho nước thứ
ba để tái xuất vào EU.
- Đối với hàng gia công tại Việt Nam khi xuất sang EU phải ghi rõ phí
gia công, giá trị nguyên vật liệu mua tại Việt Nam để làm căn cứ giảm thuế
nhập khẩu vào EU.
Trong hiệp định cũng quy định rõ danh mục hàng hoá và kim ngạch mà
Việt Nam đưa vào EU ( tổng cộng 151 nhóm mặt hàng với 108 nhóm thoe hạn
ngạch và 43 nhóm tự do). Hạn ngạch năm trước không dùng hết có thể chuyển
16
sang năm sau. Đặc biệt trong hiệp định này còn quy định hàng năm Việt Nam
và EU sẽ xem xét khả năng xuất khẩu của Việt Nam để nới lỏng hạn ngạch cấp
cho Việt Nam. Bởi vậy, đây là thị trường tiềm năng lớn, các doanh nghiệp của
ta cần tuân thủ tốt các quy định này, tránh làm tổn hại đến quan hệ buôn bán
giữa nước ta và cộng đồng kinh tế Châu Âu.
1.2. Thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là một thị trường nhập khẩu may mặc lớn thứ ba thế giới và đây
là thị trường phi hạn ngạch. Nhưng đây cũng là một thị trường khó tính với
những đòi hỏi khắt khe cả về chất lượng và giá cả, họ thường yêu cầu kiểm tra
chất lượng chi tiết và quan tâm nhiều tới mẫu mốt. Ví dụ như:
- Đồ lót, tất: mốt chiếm 70,5%
- Quần áo nữ: 56,4%là mốt; 37,5% là giá và còn lại là phẩm chất.
- Comple nam: 50% là phẩm chất; 43,7% là mốt và còn lại là giá cả.
Most Favourel Nation) cho hàng nhập khẩu từ Mỹ vào Việt Nam. Đây cũng là
điều kiện chìa khoá để xâm nhập thị trường Mỹ.
Phải nói rằng, thị trường may mặc Bắc Mỹ là một miếng mồi béo bở, hấp
dẫn ngay bởi mức cầu lơn, tính thời trang, mẫu mốt và thị hiếu thể hiện rất rõ
phong cách của người Mỹ; đó là sự phong phú và khác biệt. Song với Việt
Nam sự lạc quan đó vẫn nằm trong nỗi ô âu vì Mỹ chưa dành cho Việt Nam
MFN và như vậy hàng may Việt Nam qua Mỹ phải chịu thuế nhập khẩu còn rất
cao, từ 40-49% giá trị nhập khẩu. Trong khi Trung Quốc và một số nước khác
được hưởng quy chế này chỉ phải chịu thuế 25%. Ưu thế cạnh tranh đã không
tthuộc về các doanh nghiệp Việt Nam. Mặt khác, ngân hàng hai nước chưa có
mối quan hệ bạn hàng bang giao chặt chẽ nên việc thanh toán còn là một vấn
đề bất cập. Trường hợp này đã có thực tế khi có một Công ty Mỹ muốn trả
tiền cho Công ty may Phương Đông, họ không thể mở L/C từ Mỹ mà phải
sang tận Việt Nam yêu cầu Vietcombank Thành phố Hồ Chí Minh cho phép
vừa mở vừa nhận tiền và họ phải trả bằng tiền mặt.
Do những hạn chế nêu trên, kim ngạch hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu
sang Mỹ mới chỉ là mức tương đối. Năm 1994 đạt 2 triệu USD, năm 1995 đạt
18
5 triệu, năm 1996 đạt 25 triệu và năm 1997 đạt trên 30 triệu USD. Đây mới chỉ
là những con số rất nhỏ bé so với nhu cầu của thị trường Mỹ và khả năng xuất
khẩu của ta. Vậy chúng ta phải làm gì để tích cực xâm nhập được vào thị
trường đầy triển vọng này đang là câu hỏi đặt ra là hết sức cấp bách cho nhiều
nhà quản lý và cả phía doanh nghiệp.
1.4. Thị trường SNG và một số nước Đông Âu
Trong những năm trước khi các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu tan vỡ thì
tỷ trọng kim ngạch của ta vào thị trường này chiếm vị trí khá lớn và đóng vai
trò quan trọng, xuất khẩu theo những hiệp định hàng đổi hàng. Qua thời gian
dài đó nhà xuất khẩu của ta phần nào nắm bắt được thị hiếu, nhu cầu của người
tiêu dùng ở khu vực này và người tiêu dùng cũng đã phần nào quen với hàng
may mặc của ta. Tuy nhiên, kể từ khi các nước XHCN Đông Âu tan vỡ thì kim
khoảng trống sau lưng mình đó là thị trường nội địa. Hiện nay, dân số Việt
Nam trên 75 triệu người, chỉ tính khiêm tốn sức mua cũng vào khoảng 750
triệu USD/năm (10 USD/người/năm). Đây là con số không nhỏ có sức hấp dẫn
đối với bất kỳ nhà đầu tư nào.
Thực tế trên thị trường Việt Nam còn nhiều mặt hàng second-hand của
nước ngoài, chứng tỏ rằng nhu cầu đã vượt khả năng cung cấp trong nước. Do
vậy, các doanh nghiệp Việt Nam một mặt tăng cường sản xuất hàng xuất khẩu,
một mặt phải chú ý đến sản xuất hàng phục vụ nhu cầu nội địa. Nhà nước chỉ
có biện pháp như giao chỉ tiêu cho một số doanh nghiệp sản xuất hàng may
mặc đáp ứng tiêu dùng trong nước. Tránh bỏ trống thị trường ngay trong tầm
tay.
Trên đây là một số thị trường lớn mà chúng ta đã và đang có được. Cần
phải có biện pháp và định hướng đúng đắn để khai thác nó một cách triệt để.
Mặt khác phải tăng cường mở rộng và tìm kiếm những thị trường đang bị bỏ
ngỏ, đây cũng là mục tiêu mà chúng ta đang đặt ra. Chẳng hạn sẽ tìm cách tiếp
cận thị trường Trung Cận Đông và Mỹ La Tinh là một ví dụ.
2. Xu hướng nhập khẩu hàng may mặc trên thế giới.
Thị trường thế giới sau nhiều năm vận hành độc lập nay đã trở nên có tổ
20
chức và đang hoạt động trong sự ràng buộc chặt chẽ các thể chế sau:
- Các định chế kinh tế như WTO. GSP. MFA, các công ước về lao động,
về sở hữu trí tuệ...
- Các thể chế về khu vực: EU, NAPTA, ASEAN...
- Các thể chế về tài chính: WB,IMF, ADB và các hiệp định liên ngân
hàng.
- Các hiệp định về hàng hoá như về cao su thiên nhiên, cà phê, dầu mở ,
hàng dệt may...
- Các trung tâm giao dịch: Sỏ giao dịch hàng hoá ở Luân Đôn, Paris,
Singapore, Chicago...
- Các công hội vận tải biển, tổ chức hàng không quốc tế (ICAO), tổ chức
khủng hoảng kinh tế ở Châu Á vừa qua làm ảnh hưởng nặng nề tới việc tiêu
thụ cũng như khả năng sản xuất trên thị trường các mặt hàng nói chung và
hàng may mặc nói riêng.
+ Trước đây khách hàng EU tập trung vào thuê gia công áo Jacket ba
lớp (cat 21) và sơ mi (cat 8) tại Việt Nam. Thời gian tới xu hướng chung là
giảm cat 21 và cat 8, đi vào một số cat khác như quần (cat 78), áo (cat 161).
+ Xí nghiệp may không ngừng cải tiến trang thiết bị, máy móc nâng cao
năng suất lao động. Bên cạnh đó một số xí nghiệp liên doanh sản xuất hàng
may mặc đã đi vào hoạt động.
+ Mọi năm các xí nghiệp có quota cat 21 thì bắt buộc các khách hàng
nước ngoài phải làm gia công ở xí nghiệp đó để tận dụng quota cat 21. Thời
gian tới, những xí nghiệp nào làm chất lượng tốt, đảm bảo thời gian giao
hàng đúng hạn thì khách hàng mới đặt hàng.
+ Giá cả sợi để dệt vải trên thế giới tăng cao đã ảnh hưởng tới giá thành
sản phẩm quần áo và liên quan tới gia công. Trong khi đó, giá cả sản phẩm
bán ra lại hạ mà giá gia công của Việt Nam nói chung thì ngày càng cao do
22
yêu cầu của đời sống và lượng thu nhập ngày càng tăng lên của nhân dân.
Nó đã tạo sự mâu thuẫn giữa phía Việt Nam và phí các khách hàng nước
ngoài.
+ Bộ Thương mại có chủ trương sắp tới bỏ hoạt động cấp quota cho các
doanh nghiệp sản xuất mà tổ chức đấu thầu quota. Thông tư liên bộ Thương
mại - Công nghiệp điều chỉnh cơ chế giao quyền sử dụng hạn ngạch hàng
dệt may xuất đi EU. Nhà nước cho phép các doanh nghiệp tự quyết định giá
cả.
+ Đặc biệt, Viện Mốt của Việt Nam đã đi vào hoạt động đang từng bước
nghiên cứu các kiểu mốt được thịnh hành trên các thị trường thế giới và
trong nước.
+ Hàng may mặc của Việt Nam xuất đi chủ yếu dưới hình thức gia công,
xuất khẩu trực tiếp còn rất thấp. Bên cạnh đó là sự yếu kém trong việc cung
kể. Năm 1997 có trên 400 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu dự kiến 1998 con
số này sẽ là gần 500 doanh nghiệp. Không những đội ngũ may xuất khẩu tăng
nhanh về số lượng doanh nghiệp mà quy mô doanh nghiệp công nghệ sản xuất,
chất lượng, đội ngũ công nhân lành nghề đang từng bước được nâng cao. Tất
cả những điều này đang là dấu hiệu tốt cho sự khởi sắc của ngành may Việt
Nam khi vươn ra thị trường thế giới.
Tuy nhiên, để làm tốt hơn nữa chứng từ xuất khẩu may mặc, phát huy hết
mọi sức mạnh tiềm tàng của đất nước thì bên cạnh các biện pháp chuyên môn
các nhà xuất khẩu Việt Nam cần phải thường xuyên học hỏi kinh nghiệm từ
các cơ sở may xuất khẩu trong nước và ngoài nước. Thường xuyên coi trọng
công tác tự đánh giá và rút ra những bài học chính mình để kịp thời điều chỉnh
những vấn đề còn yếu kém, tránh thua thiệt trong cạnh tranh, tránh xu hướng
đầu tư sai lầm mà trong thời gian ngắn khó có thể thay đổi được.. Cụ thể trong
thực tiễn hoạt động của chúng ta đang còn nổi cộm lên một số vấn đề lớn sau
và cần được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc.
Trong đầu tư mua sắc, chuyển giao máy móc công nghệ một số đơn vị do
nguồn vốn hạn hẹp phải mua thiết bị Second-hand đã để khách hàng nước
24
ngoài lợi dụng đưa thiết bị quá cũ, tân trang lại nên hiệu quả sử dụng rất hạn
chế ; nguy cơ là bãi thải công nghiệp với những cỗ máy lạc hậu tới hàng thế
kỷ. Bên cạnh đó công tác lập luận chứng đầu tư còn phiến diện, thiếu đồng bộ.
Có trường hợp khi mua thiết bị sợi về thấy thiếu thiết bị lạnh lại phải chờ lập
luận chứng mua thiết bị lạnh nên phải mất thêm 2 năm mới sử dụng được, hoặc
thiếu sự phối hợp giữa các khâu trong đầu tư dẫn đến máy móc thiết bị nhập về
rồi mới tính chất đào tạo công nhân. Tình trạng đã dẫn tới thời gian vay nợ kéo
dài nhiều khi ảnh hưởng lớn tới uy tín Công ty vì nguồn vốn vay đầu tư không
được trả đúng hạn thậm chí có trường hợp mất khả năng chi trả.
Khi giao nhận nguyên vật liệu và thành phẩm có trường hợp Công tylàm
hàng gia công trong nước do sơ xuất trong việc cụ thể hoá các chỉ tiêu như :
định mức tiêu hao vật liệu, kiểu cách kết hợ gam màu thời gian và địa điểm