LUẬN VĂN TỐT NGHIỆPMột số biện pháp đẩy mạnh xuất
khẩu hàng may mặc ở Tổng Công ty
Dệt May Việt Nam
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
6
CHƯƠNG I: Một số vấn đề lý luận về xuất khẩu và vai trò của
xuất khẩu hàng may mặc trong doanh nghiệp
8
I. Khái niệm, các hình thức xuất khẩu và vai trò của xuất
khẩu
8
II. Vai trò của xuất khẩu hàng may mặc đối với Việt Nam.
14
III. Thị trường cho hàng may mặc và xu hướng nhập khẩu
hàng may mặc trên thế giới.
16
CHƯƠNG II: Thực trạng kinh doanh xuất khẩu hàng may mặc
ở Tổng Công ty Dệt - May Việt Nam giai đoạn 1995-1998.
29
I. Những nét khái quát về Tổng Công ty Dệt-May Việt Nam.
29
II. Thực trạng xuất khẩu hàng may mặc của Tổng Công ty
Dệt- May thời kỳ 1995-1998.
phải tham gia vào sự phân công lao động khu vực và quốc tế. Ngày nay không
một dân tộc nào có thể phát triển đất nước mình mà chỉ bằng tự lực cánh sinh.
Đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam thì vi
ệc nhận thức
đầy đủ những đặc trưng quan trọng này và ứng dụng vào tình hình thực tế đất
nước có tầm quan trọng hơn bao giờ hết. ở nước ta, Khi xác định những quan
điểm lớn về công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nghị đại biểu toàn quốc giữa
nhiệm kỳ khoá VII của Đảng đã khẳng định “kiên trì chiến lược hướng mạnh
về xu
ất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước sản
xuất có hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh của đất nước cũng như của từng
vùng, từng nghành, từng lĩnh vực trong từng thời kỳ, không ngừng nâng cao
sức mạnh cạnh tranh trên thị trường trong nước, thị trường khu vực và thị
trường thế giới” .
Thực hiện đường l
ối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, trong
những năm qua thương mại Việt Nam đã đạt được những thành tựu bước đầu
quan trọng, góp phần tạo nên những biến đổi sâu sắc nền kinh tế - xã hội nước
ta và vị thế mới trên thị trường quốc tế. Việt Nam đã thiết lập được nhiều mối
quan hệ ngoại giao với nhiều nướ
c, tiếp tục mở rộng hoạt động ngoại thương
theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá, tích cực hội nhập vào nền kinh tế thế
giới, tham gia các tổ chức thương mại quốc tế như ASEAN, AFTA, APEC . ..
Điều này đã đạc biệt làm cho lĩnh vực xuất nhập khẩu ngay càng trở nên sôi
động.
Trong số 10 mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của Việ
t
Nam, phải kể đến hàng dệt may. Tuy đứng ở vị trí thứ hai, nhưng đây là mặt
hàng có nhiều lợi thế so sánh và có khả năng phát triển cao. Hơn nữa, với điều
kiện tình hình nước ta hiện nay, tập trung phát triển hàng dệt may là hoàn toàn
5
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA
XUẤT KHẨU HÀNG MAY MẶC TRONG
DOANH NGHIỆP
I. KHÁI NIỆM, CÁC HÌNH THỨC XUẤT KHẨU VÀ VAI TRÒ CỦA
XUẤT KHẨU
1. Khái niệm :
Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế.
Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan
hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài
nhằm bán sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước ra nước ngoài thu ngoại tệ,
qua đẩy mạnh sản xuất hàng hoá phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế oỏn
định từng bước nâng cao mức sống nhân dân.
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế
đầu tiên của một doanh nghiệp. Hoạt động này được tiếp tục ngay cả khi
doanh nghiệp đã đa dạng hoá hoạt độ
ng kinh doanh của mình.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hoá
của một quá trình tái sản xuất mở rộng, nhằm mục đích liên kết sản xuất với
tiêu dùng của nước này với nước khác. Nền sản xuất xã hội phát triển như thế
nào phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động kinh doanh này.
2. Các hình thức xuất khẩu thông dụng ở Việt Nam
a/ Xuất khẩu uỷ thác
Trong phương thức này, đơn vị có hàng xuất khẩu là bên uỷ thác giao cho
đơn vị xuất khẩu gọi là bên nhận uỷ thác tiến hành xuất khẩu một hoặc một số
lô hàng nhất định với danh nghĩa của mình (bên nhận uỷ thác) nhưng với chi
phí của bên uỷ thác. Về bản chất, chi phí trả cho bên nhận uỷ thác chính là
tiền thu lao trả cho đại lý. Theo nghị định 64-HĐBT, chi phí uỷ thác xuất
-Ưu điểm:
Với phương thức này, đơn vị kinh doanh chủ động trong kinh
doanh, tự mình có thể thâm nhập thị trường và do vậy có thể đáp ứng nhu cầu
thị trường, gợi mở, kích thích nhu cầu. Nếu đơn vị tổ chức hoạt động kinh
doanh tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cao, tự khẳng định mình về sản
phẩm, nhãn hiệu ... dần dần đưa được uy tín về sản ph
ẩm trên thế giới.
- Nhược điểm: Trong điều kiện đơn vị mới kinh doanh được mấy năm thì
áp dụng hình thức này rất khó do điều kiện vốn sản xuất hạn chế, am hiểu
thương trường quốc tế còn mờ nhạt, uy tín nhãn hiệu sản phẩm còn xa lạ với
7
khách hàng
c/ Gia công hàng xuất khẩu.
Gia công hàng xuất khẩu là một phương thức kinh doanh trong đó một bên
(gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của
một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho
bên đặt gia công và nhận thù lao ( gọi là chi phí gia công). Tóm lại, gia công
xuất khẩu là đưa các yếu tố sản xuất (chủ yếu là nguyên vật liệu) từ nước
ngoài về để sản xuấ
t hàng hoá theo yêu cầu của bên đặt hàng, nhưng không
phải để tiêu dùng trong nước mà để xuất khẩu thu ngoại tệ chênh lệch do hoạt
động gia công đem lại. Vì vậy, suy cho cùng, gia công xuất khẩu là hình thức
xuất khẩu lao động, nhưng là loại lao động dưới dạng được sử dụng(được thể
hiện trong hàng hoá) chứ không phải dưới dạng xuất khẩu nhân công ra nước
ngoài.
Gia công xuất khẩu là một phương thức phổ
biến trong thương mại quốc
tế. Hoạt động này phát triển sẽ khai thác được nhiều lợi thế của hai bên: bên
đặt gia công và bên nhận gia công.
mà là với mục đích đảm bảo cho nhu cầu nhập khẩu hàng hoá dịch v
ụ khác
nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, tăng trưởng nền kinh tế và tiến tới xuất
siêu (xuất khẩu > nhập khẩu), tích luỹ ngoại tệ (thực chất là đảm bảo chắc
chắn hơn nhu cầu nhập khẩu trong tương lai).
Xuất khẩu và nhập khẩu trong thương mại quốc tế vừa là điều kiện, vừa là
tiền đề của nhau xuất khẩu để nh
ập khẩu và nhập khẩu để phát triển xuất
khẩu. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay, để phát triển kinh
tế, tránh được nguy cơ tụt hậu với thế giới, đồng thời còn tìm cách đuổi kịp
thời đại, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đất nước. Trong đó nhập khẩu máy móc, thiết bị
, công nghệ hiện đại là
một điều kiện tiên quyết. Muốn nhập khẩu, chúng ta phải có ngoại tệ, có các
nguồn ngoại tệ sau:
- Xuất khẩu hàng hoá. dịch vụ.
- Viện trợ đi vay, đầu tư ....
- Liên doanh đầu tư nước ngoài với ta.
- Các dịch vụ thu ngoại tệ: ngân hàng, du lịch ...
Có thể thấy rằng, trong các nguồn trên thì xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ là
nguồn quan trọng nhất vì: nó chi
ếm tỷ trọng lớn, đồng thời là khả năng bảo
đảm trả được các khoản đi vay, viện trợ ... trong tương lai. Như vậy cả về dài
hạn và ngắn hạn, xuất khẩu luôn là câu hỏi quan trọng cho nhập khẩu.
Thứ hai: Hoạt động xuất khẩu phát huy được các lợi thế của đất nước.
9
Để xuất khẩu được, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu phải lựa chọn
được những ngành nghề, mặt hàng có tổng chi phí (chi phí sản xuất và chi phí
xuất khẩu) nhỏ hơn giá trị trung bình trên thị trường thế giới. Họ phải dựa vào
nó có động cơ, do đó nó có thể kéo cả đoàn tàu tiến lên. Hiện nay, đây là
hướng xuất khẩu chủ yếu của nước ta, có kết hợp với xuất khẩu đa dạng để
tăng thu ngoại tệ.
10
Và khi mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn đem lại hiệu quả cao thì các doanh
nghiệp sẽ tập trung đầu tư để phát triển ngành hàng đó, dẫn đến phát triển các
ngành hàng có liên quan. Ví dụ: Khi ngành may xuất khẩu phát triển làm cho
ngành dệt cũng phát triển để cung cấp nguyên vật liệu cho ngành may dẫn đến
ngành trồng bông, đay cũng phát triển để cung cấp nguyên vật liệu cho ngành
dệt.
Hơn nữa, xu hướng xuất kh
ẩu là mũi nhọn làm thay đổi cơ cấu các ngành
sản xuất trong nền kinh tế vì cơ cấu một nền kinh tế chính là số lượng các
ngành sản xuất và tỷ trọng của chúng so với tổng thể.
Rõ ràng, tỷ trọng ngành hàng mũi nhọn là tăng lên và tăng mạnh còn trong
nội bộ ngành đó thì những khâu, những loại sản phẩm ưa chuộng trên thị
trường thế giới cũng sẽ phát tri
ển hơn. Tức là xuất khẩu hàng mũi nhọn làm
thay đổi cơ cấu ngành và cả cơ cấu trong nội bộ một ngành theo hướng khai
thác tối ưu lợi thế so sánh của đất nước.
Mặt khác, trên thị trường thế giới yêu cầu về hàng hoá dịch vụ ở mức chất
lượng cao, cạnh tranh gay gắt. Chỉ có các doanh nghiệp đủ mạnh ở mỗi nước
mới tham gia thị tr
ường thế giới. Do đó, các doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu phải nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí để tồn tại và phát
triển.
Toàn bộ các tác động trên làm cho nền kinh tế phát triển tăng trưởng theo
hướng tích cực. Đó là ý nghĩa kinh tế của hoạt động xuất khẩu.
nhiệm vụ của chúng đó là:
- Phải biết khai thác có hiệu quả lợi thế của đất nước, kích thích các
ngành kinh tế phát triển.
- Phải góp phần tăng tích luỹ, mở rộng sản xuất tăng thu nhập cho nền
kinh tế quốc dân.
- Xuất khẩu là c
ải thiện đời sống nhân dân thông qua việc tạo công ăn việc
làm, tạo nguồn thu nhập.
- Phải biết khai thác những thị trường hiện có và quan tâm tới thị trường
chưa được khai thác.
- Lợi dụng khối lượng mua hàng lớn lao của nước ngoài.
- Tìm thị trường cho sản phẩm khi lượng bán giảm sút.
- Mở rộng nền tảng bán hàng để trải rộng chi phí bán hàng.
- Sử dụng năng lực sản xu
ất thừa.
- Biết được những phương pháp kỹ thuật tiên tiến được sử dụng ở nước
ngoài.
12
- Theo dõi sự cạnh tranh của các đối thủ có sản phẩm cùng loại trên thị
trường.
Ngoài ra hoạt động kinh doanh xuất khẩu còn phải có nhiệm vụ góp phần
thực hiện tốt chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước: “Đa dạng hoá và đa
phương hoá quan hệ quốc tế, tăng cường hợp tác khu vực “.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ kể trên thì công tác xuất khẩu phải nh
ận rõ các
vai trò quan trọng sau:
- Thu ngoại tệ về cho đất nước, đây là nguồn vốn quan trọng để thoả mãn
nhu cầu nhập khẩu và tích luỹ phát triển sản xuất. Thật vậy, nhập khẩu cũng
như vốn đầu tư của một nước thường dựa vào ba nguồn chủ yếu là viện trợ, đi
lực của ta và sẵn sàng thiết lập quan hệ buôn bán và đầu tư.
Như vậy, xuất khẩu nó không chỉ đóng vai trò xúc tác, hỗ trợ phát triển mà
nó có thể
thành yếu tố bên trong của sự phát triển; trực tiếp tham gia vào việc
giải quyết các vấn đề bên trong của nền kinh tế quốc dân như vốn, kỹ thuật,
lao động, nguyên liệu, thị trường...
III. THỊ TRƯỜNG CHO HÀNG MAY MẶC VÀ XU HƯỚNG NHẬP
KHẨU HÀNG MAY MẶC TRÊN THẾ GIỚI.
1. Về thị trường may mặc Việt Nam.
1.1. thị trường EU:
Thị trường EU với dân số 340 triệu là nơi tiêu thụ
lớn và đa dạng các loại
quần áo. Mức tiêu thụ thị trường này là khá cao: 17 kg / người / năm. Ở đây,
người ta có thấy đủ loại hàng hoá từ các nước như Mỹ, Trung Quốc, Nhật,
Hồng Kông, Đài Loan. Hàng năm EU nhập khoảng 63 tỷ USD quần áo vừa
qua hạn ngạch mà EU dành cho công nghệ là 22 nghìn tấn hàng dệt may giá
trị khoảng 450 triệu USD và hiệp định ký cho giai đoạn tới 1998-200 giá trị sẽ
tăng 40% và so v
ới giá trị hiệp định cũ (chi giai đoạn 1993-1997). Đây là thị
trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam và EU ký hiệp định buôn bán dệt
may từ năm 1992 trong đó có hạn ngạch gia công thuần tuý (TPP). Có nghĩa
là khách hàng gửi nguyên phụ liệu từ một nước thứ ba thuê gia công tại Việt
Nam, sau đó xuất sang EU. Còn nếu khách hàng EU gửi nguyên phụ liệu từ
EU sang gia công tại Việt Nam, sau đó xuất ngược lại sang EU thì không tính
vào hạn ngạch. Qua 5 năm thực hiện hiệp định buôn bán hàng dệt may với EU
sản xuất hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường này đã có bước tiến
vững chắc. Năm 1993 tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc Việt Nam
vào EU đạt được khoảng 250 triệu USD, năm 1996 đạt 400 triệu USD và dự
kiến năm 1998 sẽ đạt 650 triệu USD.
Bảng 5: Một số chủng loại hàng đạt mứ
công trong nước rẻ để bán hàng rẻ hơn mức giá hiện hành gây bất lợi cho các
nhà sản xuất cùng loại hàng đó hoặc các mặt hàng trực tiếp bị cạnh tranh
của EU. Có thể sẽ bị áp dụng quy định cụ thể đã được hai bên thoả thuận.
- Các doanh nghi
ệp Việt Nam không được phép bán hàng cho nước thứ ba
để tái xuất vào EU.
- Đối với hàng gia công tại Việt Nam khi xuất sang EU phải ghi rõ phí gia
15
công, giá trị nguyên vật liệu mua tại Việt Nam để làm căn cứ giảm thuế nhập
khẩu vào EU.
Trong hiệp định cũng quy định rõ danh mục hàng hoá và kim ngạch mà
Việt Nam đưa vào EU ( tổng cộng 151 nhóm mặt hàng với 108 nhóm thoe
hạn ngạch và 43 nhóm tự do). Hạn ngạch năm trước không dùng hết có thể
chuyển sang năm sau. Đặc biệt trong hiệp định này còn quy định hàng năm
Việt Nam và EU sẽ xem xét khả năng xuấ
t khẩu của Việt Nam để nới lỏng
hạn ngạch cấp cho Việt Nam. Bởi vậy, đây là thị trường tiềm năng lớn, các
doanh nghiệp của ta cần tuân thủ tốt các quy định này, tránh làm tổn hại đến
quan hệ buôn bán giữa nước ta và cộng đồng kinh tế Châu Âu.
1.2. Thị trường Nhật Bản
Nhật Bản là một thị trường nhập khẩu may mặc lớn thứ ba thế
giới và đây
là thị trường phi hạn ngạch. Nhưng đây cũng là một thị trường khó tính với
những đòi hỏi khắt khe cả về chất lượng và giá cả, họ thường yêu cầu kiểm
tra chất lượng chi tiết và quan tâm nhiều tới mẫu mốt. Ví dụ như:
- Đồ lót, tất: mốt chiếm 70,5%
- Quần áo nữ: 56,4%là mốt; 37,5% là giá và còn lại là phẩm chất.
- Comple nam: 50% là phẩm chất; 43,7% là m
ốt và còn lại là giá cả.
(Nguồn: Tổng Công ty dệt may Việt Nam.)
Tháng 2/1994 Mỹ bỏ cấm vận với Việt Nam, tháng 8/1994 Mỹ bỏ cấm vận
viện trợ và tháng 7/1995 Mỹ bình thường hoá mối quan hệ với Việt Nam. Tuy
nhiên, chúng ta đang mong chờ được hưởng quy chế tối huệ quốc (MFN-The
Most Favourel Nation) cho hàng nhập khẩu từ Mỹ vào Việt Nam. Đây cũng là
điều kiện chìa khoá để xâm nhập thị trường Mỹ.
Phải nói rằng, thị
trường may mặc Bắc Mỹ là một miếng mồi béo bở, hấp
dẫn ngay bởi mức cầu lơn, tính thời trang, mẫu mốt và thị hiếu thể hiện rất rõ
phong cách của người Mỹ; đó là sự phong phú và khác biệt. Song với Việt
Nam sự lạc quan đó vẫn nằm trong nỗi ô âu vì Mỹ chưa dành cho Việt Nam
MFN và như vậy hàng may Việt Nam qua Mỹ phải chịu thuế nhập khẩu còn
rất cao, từ 40-49% giá trị nhập khẩu. Trong khi Trung Quốc và một số nước
khác được hưởng quy chế này chỉ phải chịu thuế 25%. Ưu thế cạnh tranh đã
không tthuộc về các doanh nghiệp Việt Nam. Mặt khác, ngân hàng hai nước
chưa có mối quan hệ bạn hàng bang giao chặt chẽ nên việc thanh toán còn là
một vấn đề bất cập. Trường hợp này đã có thực tế khi có một Công ty Mỹ
muốn trả tiề
n cho Công ty may Phương Đông, họ không thể mở L/C từ Mỹ
mà phải sang tận Việt Nam yêu cầu Vietcombank Thành phố Hồ Chí Minh
cho phép vừa mở vừa nhận tiền và họ phải trả bằng tiền mặt.
Do những hạn chế nêu trên, kim ngạch hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu
17
sang Mỹ mới chỉ là mức tương đối. Năm 1994 đạt 2 triệu USD, năm 1995 đạt
5 triệu, năm 1996 đạt 25 triệu và năm 1997 đạt trên 30 triệu USD. Đây mới
chỉ là những con số rất nhỏ bé so với nhu cầu của thị trường Mỹ và khả năng
xuất khẩu của ta. Vậy chúng ta phải làm gì để tích cực xâm nhập được vào thị
trường đầy triển vọng này
đang là câu hỏi đặt ra là hết sức cấp bách cho nhiều
trường chấp nhận hay không quyết định đến sự tốn tại của Công ty. Dưới sức
18
ép đó sẽ xoá bỏ đi được các Công ty làm ăn trì trệ. Tuy nhiên về phía Việt
Nam chắc chắn sẽ có nhiều Công ty cần phải “lột xác “.
Bù lại, thị trường ASEAN với 430 triệu dân, thu nhập bình quân đầu người
hàng năm 1.608 USD, tốc độ phát triển bình quân 6-8%/ năm, thì đây quả là
một thị trường lớn cho hàng may mặc. ASEAN còn là một thị trường có nền
văn hoá tương đồng lẫn nhau. Do đó thị hiế
u, lối sống cũng tương đối giống
nhau, điều này là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp may mặc Việt
Nam xâm nhập dế ràng hơn.
1.6. Thị trường trong nước
Chúng ta chủ yếu chú trọng đến sản xuất hàng may xuất khẩu và đã có
những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Song chúng ta đã để lại
khoảng trống sau lưng mình đó là thị trường n
ội địa. Hiện nay, dân số Việt
Nam trên 75 triệu người, chỉ tính khiêm tốn sức mua cũng vào khoảng 750
triệu USD/năm (10 USD/người/năm). Đây là con số không nhỏ có sức hấp
dẫn đối với bất kỳ nhà đầu tư nào.
Thực tế trên thị trường Việt Nam còn nhiều mặt hàng second-hand của
nước ngoài, chứng tỏ rằng nhu cầu đã vượt khả năng cung cấp trong nước. Do
vậ
y, các doanh nghiệp Việt Nam một mặt tăng cường sản xuất hàng xuất
khẩu, một mặt phải chú ý đến sản xuất hàng phục vụ nhu cầu nội địa. Nhà
nước chỉ có biện pháp như giao chỉ tiêu cho một số doanh nghiệp sản xuất
hàng may mặc đáp ứng tiêu dùng trong nước. Tránh bỏ trống thị trường ngay
trong tầm tay.
Trên đây là một số thị trường lớn mà chúng ta đã và đ
ang có được. Cần
mặc với từng nước cụ thể, dưới các quy định các sản phẩm Dệt may của
Trung Quốc.
Với các định chế này, nó tạo ra sự công bằng giữa các nước có nền công
nghiệp may phát triển và các nước đang phát triển.
Trong bối cảnh chung của thị trường thế giới như hiện nay, tình hình sản
xuất và xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam cũng có nhiều biến động và nổi
lên một số đặc điểm sau:
+ Năm 1997 đã kết thúc hiệp định buôn bán hàng dệt may với EU h
ạn
ngạch 22 nghìn tấn dệt may đạt giá trị 450 triệu. Gần đây, Việt Nam đã ký
hiệp định trong lĩnh vực này cho giai đoạn 1998-2000, điều đó sẽ mở ra một
triển vọng to lớn về xuất khẩu hàng dệt may của nước ta.
+ Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ được cải thiện một cách cơ bản, song quy
20
chế tối huệ quốc cho Việt Nam vẫn còn là một câu hỏi chưa chính xác. Nếu
chế độ này được áp dụng thì đây sẽ là cơ hội lớn về thị trường hàng dệt may
cho Việt Nam.
+ Kinh tế khu vực phát triển chận lại : việc trao trả Hồng Kông cho Trung
Quốc vào 1/7/1997 vừa qua có thể ảnh hưởng đến kinh tế thị trường khu vực.
Hiện nay một số khách hàng Hồng Kông đ
ang đặt gia công hàng may mặc tại
Việt Nam như vậy sẽ ít nhiều bị biến động. Bên cạnh đó cuộc khủng hoảng
kinh tế ở Châu Á vừa qua làm ảnh hưởng nặng nề tới việc tiêu thụ cũng như
khả năng sản xuất trên thị trường các mặt hàng nói chung và hàng may mặc
nói riêng.
+ Trước đây khách hàng EU tập trung vào thuê gia công áo Jacket ba lớp
(cat 21) và sơ mi (cat 8) tại Việt Nam. Thời gian tới xu hướng chung là giả
m
cat 21 và cat 8, đi vào một số cat khác như quần (cat 78), áo (cat 161).
quan đánh giá sự phát triển ngành may mặc xuất khẩu,
song nhìn vào thực tế thì giá trị ngoại tệ thực thu từ gia công đem lại là 150
triệu USD trên tổng giá trị xuất khẩu là 874 triệu USD, còn năm 1996 là 194
triệu USD trên tổng số kim ngạch xuất khẩu là 1,1 tỷ USD thì quả là xuất
khẩu kiểu này không mấy hiệu quả.
Hiện nay năng lực sản xuất hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam có thể
đạ
t 2,15 tỷ USD. Đó là kết quả của sự đầu tư không ngừng của các doanh
nghiệp, xí nghiệp Việt Nam - hầu hết các địa phương đều có xí nghiệp may ra
đời, các xí nghiệp may như : Công ty may 10, Công ty may Việt Tiến, Công
ty may Đức Giang, Công ty may Nhà Bè.. không ngừng cải tiến trang thiết bị,
đào tạo đội ngũ quản lý, công nhân phục vụ quá trình sản xuất tạo ra sản
phẩm chất lượng cao.
Hiệp hội các xí nghiệp may của Vi
ệt Nam hoạt động tích cực, mới đây đã
thành lập Viện mốt với nhiệm vụ tạo mốt, mẫu mã kỹ thuật phục vụ các Công
ty may sản xuất có hiệu quả. Bên cạnh sự đầu tư của các doanh nghiệp Việt
Nam các Công ty nước ngoài cũng đã tham gia đáng kể trong việc đầu tư vào
ngành may mặc, nhiều liên doanh trong lĩnh vực may mặc đã đi vào hoạt
động thu kế
t quả khả quan. Tất cả đã tạo ra một năng lực sản xuất mới cho
ngành may mặc Việt Nam. Quy mô sản xuất được mở rộng, tay nghề công
nhân không ngừng được nâng lên, mẫu mã được cải tiiến phong phú, đa dạng.
Các yếu tố này gây nên sự hấp dẫn đối với các khách hàng có ý định hợp tác.
3. Một số kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động sản xuất và kinh doanh
xuấ
t hàng may mặc.
Ngành công nghiệp may mặc xuất khẩu Việt Nam đang trên đà phát triển
mạnh mẽ và được nhiều đơn vị, thành phần kinh tế tham gia. Hệ thống các
ề rồi mới tính chất đào tạo công nhân. Tình trạng đã dẫn tới thời gian
vay nợ kéo dài nhiều khi ảnh hưởng lớn tới uy tín Công ty vì nguồn vốn vay
đầu tư không được trả đúng hạn thậm chí có trường hợp mất khả năng chi trả.
Khi giao nhận nguyên vật liệu và thành phẩm có trường hợp Công tylàm
hàng gia công trong nước do sơ xuất trong việc cụ thể hoá các chỉ tiêu như :
định mức tiêu hao vậ
t liệu, kiểu cách kết hợ gam màu thời gian và địa điểm
giao nhận, phương thức thanh toán nên khi thực hiện hợp đồng đã để xảy ra
23
những kết cục tranh chấp đáng tiếc.
Như chúng ta đã biết, hàng may mặc luôn đi kèm với yếu tố thời trang, khi
tham gia thị trường trên thế giới thì các yếu tố đó lại càng phức tạp. Do đó
tăng cường thực hiện chiến lược sản phẩm là con đường thiết thực nhất,
thường xuyên cách tân, thay đổi mẫu mốt, kiểu dáng và nâng cao chất lượng
sản phẩ
m. Hãy để chính sản phẩm lên tiiếng là việc làm hiệu quả hơn bất cứ
nỗ lực nào. Đây cũng là bí quyết tất cả các doanh nghiệp thành công nhất trên
trường quốc tế.
Học hỏi kinh nghiệm trong đàm phán, ký kết hợp đồng với nước ngoài
cũng đang được coi là việc làm cần thiết. Công tác đàm phán cần được chuẩn
chu đáo bởi đây sẽ là thời điể
m xác định lợi ích kinh tế của các bên. Muốn đạt
được lợi ích lớn trước hết phải có nghệ thuật đàm phán khôn khéo, nhiều khi
khách hàng đang có rất nhiều mối hàng nhưng do nghệ thuật thuyết phục của
ta mà họ vẫn chấp nhận đặt hàng với những điều kiện có lợi cho chúng ta.
Trong đàm phán rất cần thiết phải hiểu rõ đối phương (về văn hoá, tài chính,
thái độ, phong t
ục..); tuỳ theo từng đối tượng mà sử dụng các chiến lược đàm
phối sả
n phẩm hoàn chỉnh đi thị trường nào là quyền của họ. Như vậy dưới
hình thức này Việt Nam sẽ bị tước đi rất nhiều quyền lợi, vừa hạn chế sử dụng
nguyên liệu trong nước vừa mất đi khả năng xâm nhập thị trường chưa kể đến
giá trị lợi nhuận xuất khẩu thu về là rất nhỏ. Do đó Nhà nướ
c cần có chính
sách tập trung đẩy mạnh xuất khẩu trực tiếp là việc làm thiết thực và cấp
bách.
Có nhiều nước đã thực hiện thành công bước nhảy này bằng con đường
liên doanh liên kết, thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực may mặc bước đầu
tạo sức mạnh bứt phá về công nghệ, kiểu cách, ấn tượng sản phẩm. Phương
pháp phát huy nội lực kết hợp với s
ử dụng ngoại lực cần được chúng ta xem
xét vận dụng để sớm tìm ra hướng đi và chỗ đứng vững chắc cho hàng may
Việt Nam trong thị trường may thế giới.