MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH KINH TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU NGÀNH KINH TẾ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
1. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành kinh tế
1.1. Cơ cấu kinh tế
Trong các tài liệu kinh tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm
cơ cấu kinh tế. Các cách tiếp cận này thường bắt đầu từ khái niệm "cơ cấu". Là
một phạm trù triết học, khái niệm cơ cấu được sử dụng để biểu thị cấu trúc
bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ của các bộ phận hợp thành của một hệ thống.
Cơ cấu được hiểu như là tập hợp các mối quan hệ liên kết hữu cơ, các yếu tố
khác nhau của một hệ thống nhất định. Cơ cấu là thuộc tính của hệ thống, do
đó khi nghiên cứu cơ cấu phải đứng trên quan điểm hệ thống.
Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống có thể
hiểu: cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền
kinh tế quốc dân, giữa chúng có những mối liên hệ hữu cơ, những tương tác
qua lại cả về số lượng và chất lượng, trong những không gian và điều kiện
kinh tế xã hội cụ thể, chúng vận động hướng vào những mục tiêu nhất định. Cơ
cấu kinh tế bao gồm cơ cấu giữa các lĩnh vực sản xuất, trao đổi tiêu dùng; giữa
các ngành kinh tế công nghiệp, nông nghiệp, thương mại... Mỗi vùng, mỗi
ngành lại có cơ cấu kinh tế riêng của mình tuỳ thuộc vào điều kiện tự nhiên,
địa lý, kinh tế xã hội cụ thể.
Một cách tiếp cận khác thì cho rằng:cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ
là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với
nhau trong những không gian và thời gian nhất định, trong những điều kiện
kinh tế xã hội nhất định, cả về số lượng và chất lượng phù hợp với các mục
tiêu được xác định của nền kinh tế.
Trong cơ cấu kinh tế có sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất. Theo Mác, cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những
quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản
xuất vật chất. Vì vậy có thể hiêủ: Cơ cấu kinh tế là tổng thể các quan hệ chủ yếu
hợp tác, phân công lao động trong nước và quốc tế. Trong nền kinh tế thị
trường, sự vận động khách quan của cơ cấu kinh tế theo hướng mở rộng sự
hợp tác và phân công lao động diễn ra không chỉ trong phạm vi mỗi ngành,
mỗi ngành, mỗi vùng, mỗi quỗc gia mà còn mở rộng ra các nước trong khu vực
và trên thế giới. Do đó, mỗi quốc gia muốn phát triển nhành cần xác định được
cơ cấu kinh tế trên cơ sở xác định được lợi thế của mình gắn với thị trường
trong nước và quốc tế, nhằm tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, thúc đẩy nhanh quá
trình quốc tế hoá nền kinh tế quốc dân.
Dựa trên sự nhìn nhận dưới các khía cạnh khác nhau của quá trình phân
công lao động xã hội và tái sản xuất xã hội mà chúng ta có thể phân chia cơ
cấu kinh tế theo các loại khác nhau. Mỗi loại cơ cấu đều thể hiện tính chất cũng
như đặc trưng chủ yếu riêng có của nó, ở đây chúng ta có thể phân loại cơ cấu
kinh tế như sau:
- Xét trên sự phân công lao động theo ngành kinh tế ta có cơ cấu ngành kinh
tế
- Xét sự phân công lao động theo vùng kinh tế ta có cơ cấu vùng kinh tế.
- Xét về quan hệ sở hữu ta có cơ cấu thành phần kinh tế
- Xét về trình độ kỹ thuật ta có cơ cấu kinh tế kỹ thuật
- Cơ cấu tái sản xuất
......
Trong đó ba loại cơ cấu: cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh tế, cơ cấu thành
phần kinh tế là những nội dung quan trọng nhất, phản ánh tập trung nhất
trình độ phát triển của phân công lao động xã hội. Với phạm vi nghiên cứu của
đề tài em xin đi sâu vào cơ cấu kinh tế ngành.
1.2. Cơ cấu ngành kinh tế
Colin Clark, nhà kinh tế học người Anh, đã đưa ra phương pháp phân
loại nền kinh tê theo ba ngành, ngành thứ nhất sản xuất những sản phẩm dựa
trên sự khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm nông nghiệp và
công nghiệp khai thác. Ngành thứ hai có chức năng gia công và chế biến sản
phẩm có nguồn gốc từ ngành thứ nhất, đó là ngành công nghiệp chế biến. Hai
thúc đẩy phát triển kinh tế.
Mối quan hệ giữa các ngành không chỉ biểu hiện về mặt định tính mà
còn được tính toán thông qua tỉ lệ giữa các ngành, thường được gọi là cơ cấu
ngành. Như vậy, cơ cấu ngành là mối quan hệ tỉ lệ giữa các ngành trong toàn
bộ nền kinh tế, mối quan hệ này bao gồm cả số lượng và chất lượng, chúng
thường xuyên biến động và hướng vào những mục tiêu nhất định. Cơ cấu
ngành là bộ phận rất quan trọng trong cơ cấu kinh tế, sự biến động của nó có ý
nghiã quyết định đến sự biến động của nền kinh tế.
2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
2.1. Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là sự thay đổi một cách có mục tiêu số
lượng ngành kinh tế quốc dân và mối quan hệ của các ngành đó với nhau trên
cơ sở phân tích đầy đủ căn cứ lý luận và thực tiễn, cùng với việc áp dụng đồng
bộ các giải pháp cần thiết để chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang
trạng thái kia hợp lý và có hiệu quả hơn.
Chuyển dịch cơ cấu ngành được coi là một nội dung cơ bản lâu dài trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nếu xác định phương hướng và các
giải pháp chuyển dịch đúng sẽ đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội cao trong sự
phát triển, ngược lại sẽ phải trả giá đắt cho sự phát triển về sau.
Trong thời đại ngày nay, trước sự thay đổi nhanh chóng của nhu cầu thị
trường và tiến bộ khoa học công nghệ, ở tất cả các nước đều đặt ra vấn đề
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng. Riêng
đối với các nước đang phát triển, chuyển dịch cơ cấu ngành luôn gắn với công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Yêu cầu đặt ra là phải xác định được một
cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, vùng trọng điểm, mũi nhọn cho phù hợp với mỗi
giai đoạn của công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của nền kinh tế thành công hay thất
bại đều phụ thuộc vào khâu quyết định chủ trương chuyển dịch và khâu tổ
chức thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã xác định. Ở đây, vai trò của Nhà nước
là quyết định là quyết định trong việc hoạch định các chủ trương và chính sách
ngành công nghiệp thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp cả chiều
rộng lẫn chiều sâu. Sự phát triển của ngành nông nghiệp và công nghiệp tất
yếu dẫn đến sự phát triển của ngành dịch vụ. Do nông nghiệp phát triển cho
nên mưc sống của người dân ở khuvực nông thôn luôn được cải thiện theo
hướng đi lên. Vì vậy, tình trạng di dân từ nông thôn ra thành thị ngày càng có
xu hướng giảm. Sự phát triển của ngành công nghiệp và ngành dịch vụ không
ngừng ảnh hưởng tới việc nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp, do
vậy sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là động lực thúc đẩy sự tăng trưởng
và phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Lý thuyết về các giai đoan phát triển của Rostow
Rostow cho rằng quá trình phát triển kinh tế của bất cứ quốc gia nào
cũng trải qua năm giai đoạn phát triển:
- Xã hội truyền thống: Giai đoạn này sản xuất nông nghiệp giữ vai trò
chủ yếu, sản xuất bằng công cụ thủ công, kỹ thuật chưa phát triển. Tuy vậy nền
kinh tế không bị chững lại mà vẫn có sự tăng trưởng liên tục do áp dụng kỹ
thuật vào nông nghiệp, đặc biệt là thuỷ lợi.
- Giai đoạn chuẩn bị cất cánh: Công nghiệp bắt đầu được hình thành
thời kỳ nông nghiệp- công nghiệp có tác động thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Giai đoạn cất cánh: Công nghiệp ra đời và phát triển, đây là thời kỳ
công- nông nghiệp, nó cũng chính là giai đoạn trung tâm của sự phát triển.
- Giai đoạn tăng trưởng: Thời kỳ công nghiệp phát triển mạnh, giai đoạn
mà tỷ lệ đầu tư trên thu nhập quốc dân cao và xuất hiện nhiều cực tăng
trưởng mới.
- Giai đoạn mức tiêu dùng cao: Là giai đoạn kinh tế phát triển cao, sản
xuất nông nghiệp hàng hoá, thị trường linh hoạt và có hiện tượng giảm nhịp
độ tăng trưởng.
Như vậy, quan điểm của Rostow cho rằng, nền kinh tế phát triển theo xu
hướng chuyển dịch từ thời kỳ nông nghiệp truyền thống sang thời kỳ nông -
công nghiệp, thời kỳ công - nông nghiệp và dịch vụ, thời kỳ công nghiệp phát
triển mạnh.
* Nhóm các yếu tố tự nhiên
Bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, dân số và tài nguyên. Nhóm yếu tố
này quyết định lợi thế nguồn lực tự nhiên của từng địa phương, chúng có mối
quan hệ đan xen vào nhau, ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên đến quá trình
phát triển kinh tế của địa phương. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trước hết
phải làm rõ các yếu tố này để từ đó nhìn nhận được các vấn đề thuận lợi cũng
như khó khăn trong suốt quá trình chuyển dịch.
- Vị trí địa lý: Tác động trực tiếp tới quá trình phát triển của tỉnh. Nếu
một tỉnh là đầu mối giao lưu kinh tế của vùng, đất nước như đầu mối giao
thông, cảng biển chính, cửa khẩu quan trọng...sẽ có điều kiện phát triển hơn
các tỉnh khác không có được những lợi thế đó. Bởi vì, vị trí địa lý tạo khả năng
giao lưu mạnh giữa các tỉnh nằm trong cùng một vùng với nhau, sự giao lưu
này thể hiện ở chỗ trao đổi hàng hoá, sản phẩm sản xuất, các nguồn lực như
lao động, vốn tài nguyên, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý...giữa các tỉnh với
nhau, các vùng với nhau.
- Tài nguyên thiên nhiên: Bao gồm khí hậu, tài nguyên đất đai, khoáng
sản, tài nguyên biển, tài nguyên rừng. Tài nguyên thiên nhiên đóng vai trò là
nguồn nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, là yếu tố quan trọng tác động tới
nông nghiệp.Ví dụ như khí hậu và đất đai là hai yếu tố quan trọng nhất tác
động đến sản xuất nông nghiệp. Tái nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài
nguyên biển là những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển mạnh các
ngành công nghiệp sử dụng tài nguyên đó như: công nghiệp chế biến lâm, thuỷ
hải sản, công nghiệp luyện thép...
* Nhóm các yếu tố xã hội
Đây là nhóm các yếu tố làm nên thị trường, thể hiện tầm quan trọng của
các nhu cầu xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến xu hướng chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế.
- Nhân tố thị trường: Là nhân tố quan trọng tạo sự phát triển của các
ngành kinh tế, nhân tố này thể hiện ở nhu cầu và tính cạnh tranh của thị
trường, hai yếu tố này luôn luôn thay đổi theo thời gian. Chính nhu cầu, cơ cấu
quản lý đề cao vai trò của thị trường trong quá trình phát triển kinh tế thì sự
hình thành cơ cấu kinh tế như mong muốn sẽ quá chậm, nhất là các ngành, các
tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực cung cấp hàng hoá công cộng. Ngược
lại, nếu định hướng mục tiêu, chính sách quản lý vĩ mô không sát với thực tế
khách quan, hoặc sự điều tiết của Nhà nước quá sâu vào các hoạt động kinh tế
sẽ dẫn tới việc hình thành cơ cấu ngành kinh tế kém hiệu quả, kìm hãm sự phát
triển của nền kinh tế.
Các chính sách và giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
của tỉnh cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế của tỉnh. Mỗi tỉnh cần phải xây dựng cho riêng mình những chính sách
giải pháp phù hợp nhất, tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế đạt được mục tiêu đề ra của tỉnh cũng như góp phần đạt được mục tiêu
phát triển của tổng thể nền kinh tế quốc dân.
Như vậy cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh một mặt phải căn cứ vào định
hướng mục tiêu phát triển và chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước, mặt
khác phải tuỷ thuộc vào điều kiện cụ thể của tỉnh, các chính sách, giải pháp