I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 Khái niệm và đặc điểm thuế GTGT
Thuật ngữ thuế GTGT thường được dùng để chỉ một loại thuế gián thu, đánh vào việc
sử dụng thu nhập, tức đánh vào việc tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ mà cụ thể là đánh vào
hành vi chuyển giao tài sản và cung cấp dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu
thông, tiêu dùng thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hoá, dịch vụ.
Thuế GTGT có những đặc điểm cơ bản sau:
Đặc trưng thứ nhất của thuế GTGT là chỉ đánh vào giá trị gia tăng.
Đặc trưng thứ hai, thuế GTGT là thuế gián thu đánh trên bình diện rộng.
Đặc trưng thứ ba, thuế GTGT mang bản chất liên hoàn và có tính trung lập kinh tế
cao:
1.2 Khái niệm áp dụng thuế GTGT
Thuế GTGT là một loại thuế tiên tiến, hiện đại, song môi trường vận hành (các điều
kiện áp dụng) của chúng hết sức khắt khe, vì vậy, khi áp dụng loại thuế này được Chính
phủ các nước cân nhắc rất kĩ lưỡng. Áp dụng thuế GTGT bao gồm những hoạt động nhằm
đưa thuế GTGT vào cuộc sống, gồm hoạt động xây dựng, ban hành Luật thuế GTGT, thực
hiện Luật thuế GTGT và cả cơ chế bảo đảm thực hiện. Nghiên cứu những vấn đề pháp lý
về việc áp dụng thuế GTGT thực chất là nghiên cứu việc điều chỉnh pháp luật thuế GTGT
tức bao gồm hoạt động xây dựng pháp luật, hoạt động dùng pháp luật để tác động vào hành
vi của con người (sự vận động của pháp luật trong thực tế) và cả cơ chế bảo đảm thực hiện.
II. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THỰC THI PHÁP LUẬT
THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Điều kiện kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế:
Các nhà khoa học kinh tế cho rằng: thuế GTGT là 1 trong những đặc điểm riêng có
của một nền kinh tế phát triển, quản lý theo cơ chế thị trường. Thuế GTGT được tính và
thu qua mỗi lần chuyển giao hàng hoá và cung cấp dịch vụ trong quá trình sản xuất lưu
thông đến tiêu dùng. Ở đâu, khi nào các hoạt động chuyển giao hàng hoá và cung cấp dịch
vụ diễn ra một cách sôi động thì ở đó, khi đó có khả năng thu thuế GTGT lớn và ngược lại.
Bởi thuế có nguồn gốc từ giá trị thặng dư của xã hội, nên nền kinh tế phát triển, hoạt động
1
sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp ổn định, có hiệu quả và thực hiện quản lý theo
gian dài không phát sinh doanh thu, không có thuế GTGT đầu ra, mà chỉ có thuế GTGT
đầu vào dẫn đến NSNN phải hoàn thuế khống cho doanh nghiệp, hàng loạt các hạng mục
công trình thực tế đã hoàn thành (và có thể đã được ứng vốn) nhưng không được quyết
toán hay bàn giao hạng mục công trình trước thời điểm
2. Trình độ quản lý và sử dụng chứng từ, hoá đơn:
Thuế GTGT gắn với nghiệp vụ kinh doanh của chủ thể nộp thuế. Nhà nước thực hiện
thu thuế theo kết quả kinh doanh của đối tượng nộp thuế. Điều này có nghĩa chứng từ hoá
đơn là chứng cứ xác định nghĩa vụ thực tế mà chủ thể nộp thuế phải thực hiện đối với Nhà
nước. Do đó, trình độ quản lý và sử dụng chứng từ, hoá đơn của chủ thể nộp thuế cũng như
các cơ quan quản lý Nhà nước sẽ ảnh hưởng lớn tới việc thực thi pháp luật thuế GTGT.
Với tư cách “là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát
sinh và đã hoàn thành, Luật thuế GTGT quy định chi tiết về các loại chứng từ hoá đơn, áp
dụng cho các đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, phương pháp tính trực tiếp
theo phần giá trị tăng thêm (Điều 14 Luật thuế GTGT năm 2008). Hoá đơn, chứng từ là
căn cứ pháp lý cực kỳ quan trọng trong quá trình vận hành của thuế GTGT và có thể nói sự
thành công hay thất bại của quá trình này phụ thuộc rất lớn vào chế độ ghi chép quản lý
chứng từ, hoá đơn.
Thực tiễn áp dụng thuế GTGT ở nước ta trong mấy năm qua cho thấy nạn hoá đơn giả
đã phát triển tới mức báo động và được tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau. Dạng thứ nhất
là hoá đơn in giả hoàn toàn. Nhìn bề ngoài thì loại hoá đơn này giống như hoá đơn GTGT
do BTC phát hành và chỉ có thể phát hiện bằng máy soi nghiệp vụ còn đối với người mua
và bán hàng thì không mấy dễ dàng phát hiện. Có những trường hợp mua phải hàng lậu
được cấp hoá đơn giả nhưng khi phát hiện thì người bán hàng đã biến mất nên vừa thiếu cơ
sở để áp dụng trách nhiệm pháp lý vừa không được quyền khấu trừ thuế. Dạng thứ hai là
hoá đơn thật do BTC phát hành được bán cho một đơn vị nhất định nhưng tuồn ra thị
trường mua bán một cách bất hợp pháp. Thủ đoạn này có thể thực hiện bằng cách bán hàng
không cấp hoá đơn cho khách hàng sau đó dùng liên trống (lẽ ra phải cấp cho khách hàng)
đem bán trên thị trường chợ đen, hoặc bố cáo giải thể doanh nghiệp nhưng không thanh
3
toán nộp lại hoá đơn mà đem bán; hoặc lợi dụng cơ chế thông thoáng trong việc thành lập
đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm chỉnh chế độ hoá đơn, chứng từ ở cả khâu
mua và khâu bán vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu của nhà nước và quyền lợi của
doanh nghiệp. Do đó việc kiểm soát và tự kiểm soát ở khâu lập chứng từ hoá đơn hay tiếp
nhận chứng từ hoá đơn có ý nghĩa quan trọng với cơ quan quản lý chức năng trong việc
tính số thuế phải nộp nói riêng và quản lý được nguồn thu cho NSNN nói chung. Tuy
nhiên, trong điều kiện KTTT ngày càng phát triển với các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
phong phú, đa dạng thì vấn đề chứng từ, hoá đơn càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Vì vậy,
hoá đơn chứng từ là một nội dung hết sức cơ bản được quy định và cần phải được quy định
trong pháp luật thuế GTGT. Hoá đơn, chứng từ được quy định tại Điều 14 Luật thuế
GTGT và mục IV Thông tư 129 hướng dẫn thi hành một số điều của luật thuế giá trị gia
tăng và hướng dẫn thi hành nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 08/12/2008 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT.
3. Ý thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật
Ý thức pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật là một trong những yếu tố có ảnh
hưởng lớn đến sự thành công hay thất bại của quá trình thực hiện pháp luật nói chung và
pháp luật thuế nói riêng. Đối với thuế GTGT, do tính chấp phức tạp của kỹ thuật tính và
thu thuế gắn liền với cơ chế khấu trừ thuế, hoàn thuế nên đòi hỏi các đối tượng nộp thuế
phải có ý thức tự giác cao trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, nếu không rất có thể xẩy ra
hiện tượng số thuế thu được ít nhưng nhà nước phải khấu trừ thuế, hoàn thuế nhiều do các
hành vi gian lận, lợi dụng cơ chế khấu trừ thuế, hoàn thuế. Đối với đối tượng nộp thuế, nếu
có ý thức pháp luật tốt và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật sẽ có đủ khả năng để bảo vệ
lợi ích cho mình, hạn chế được tình trạng các đối tượng lợi dụng các kẽ hở của pháp luật
để chiếm đoạt tài sản của nhà nước làm giảm đi hiệu quả điều chỉnh của pháp luật thuế
GTGT. Đối với nhân dân có tri thức pháp luật và ý thức pháp luật họ sẽ có niềm tin vào
pháp luật, thấy được giá trị của việc tôn trọng và thực hiện chính xác, đầy đủ các quy định
pháp luật, từ đó tự giác tuân theo pháp luật và vận động những người khác tuân theo pháp
luật. Bên cạnh đó, có trình độ nhận thức sâu sắc về luật thuế, người dân có thể phản ánh
5
những bất cập trong các quy định của luật thuế, giám sát được việc thực hiện luật thuế,
chống tiêu cực từ phía cán bộ thuế.