luân văn thạc sĩ Nghề rèn ở Lý Nhân (xã Lý Nhân, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc) từ năm 1990 đến năm 2010 - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị
Hạnh

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm
trước đây, nhiều nghề thủ công đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam.
Việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghề ban đầu được cư dân
tranh thủ làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là vụ mùa chính. Theo thời
gian, nhiều nghề phụ này đã thể hiện được vai trò to lớn của nó trong việc phát
triển kinh tế, mang lại lợi ích thiết thực cho cư dân. Nghề phụ từ chỗ chỉ phục
vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa để trao đổi và mang lại giá trị kinh tế to
lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trong chờ vào các vụ lúa.
Nhìn nhận lại toàn cảnh nông thôn Việt Nam ta thấy, nhiều nghề thủ
công truyền thống của cha ông vẫn được lưu giữ trong cộng đồng làng Việt.
Tại mảnh đất Vĩnh Phúc có sự xuất hiện rất nhiều nghề, trong đó phải kể đến
Vĩnh Tường. Vĩnh Tường là mảnh đất địa linh, nhân kiệt và là nơi hội tụ của
rất nhiều nghề thủ công truyền thống như nghề nuôi Rắn ở Vĩnh Sơn, nghề
Mộc ở An Tường, nghề mộc ở Bích Chu, nghề rèn ở Lý Nhân và nhiều nơi
đã được công nhận là làng nghề. Thời gian ra đời của các nghề thủ công ở nơi
đây đều rất sớm. Những nghề ấy có những thời kỳ là nguồn thu nhập chính;
là nơi hội tụ những bàn tay nghệ thuật, tinh hoa và sáng tạo của con người.
Tuy nhiên, trong một thời gian dài, nghề thủ công truyền thống ở Vĩnh
Tường do thiếu sự quan tâm đúng mức của người dân cũng như của chính
quyền nên sản xuất có phần chững lại và không mang lại hiệu quả kinh tế.
Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, với sự quan tâm trở lại của Nhà
nước, các nghề thủ công ở địa phương đã hưng khởi và góp phần đắc lực vào
công cuộc xây dựng đất nước.
Nghề rèn ở Lý Nhân đang có những bước chuyển mình dưới sự tác
động của nền sản xuất hàng hóa. Điều này đã đưa đến việc sản xuất nghề rèn
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP

Tác phẩm :” Một số làng nghề thủ công ở Vĩnh Phúc” của Trần Văn
Xuân, H :Sở văn hóa thông tin Vĩnh phúc, 2000. Tác phẩm đã đề cập khá cụ
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị
Hạnh

thể một số nghề và làng nghề thủ công của Tỉnh trong đó có nghề rèn ở Lý
Nhân của huyện Vĩnh Tường. Tuy nhiên, đây chỉ là những cái nhìn sơ lược
nhất, chưa đi sâu nghiên cứu những đặc trưng của nghề rèn nơi đây.
“Nghị quyết về khôi phục và phát triển làng nghề thủ công” đăng trên
báo Vĩnh Phúc số 3, 2000. Nghị quyết đã đưa ra một số số liệu về sự đóng
góp của nghề rèn Lý Nhân trong cuộc kháng chiến của dân tộc. Nhìn nhận lại
những thành tựu, đồng thời nghị quyết còn đưa ra những giải pháp để phát
triển làng nghề nói chung. Đây thực sự là một tư liệu quý để người nghiên
cứu có thể áp dụng vào địa phương Vĩnh Tường – một vùng quê có nhiều
làng nghề truyền thống trong đó có nghề rèn.
Làng rèn với với những thăng trầm và những khó khăn và giải pháp để
phát triển được tác giả Quang Nam trình bày khái quát trong bài báo:” Lý
Nhân, tiếng vọng làng rèn” số 508 ra ngày 26/5/2000 và số báo ngày
30/6/1998 với tiêu đề: "Nghề rèn Lý Nhân" do tác giả Đặng Quang Giới viết
bài. Đây thực sự là những trăn trở của người viết, lo lắng cho tương lai của
một nghề truyền thống có thể bị mai một. Những bài viết tuy là những phác
họa sơ sài nhưng đó thực sự là những tư liệu quý báu để chính quyền địa
phương có những bước đi phù hợp để duy trì làng nghề.
“Vĩnh Tường trên hành trình đổi mới và phát triển” do Đào Xuân
Hiển, Đoàn Mạnh Phương biên soạn, xuất bản năm 2006 là một cái nhìn
toàn diện trên tất cả các mặt kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội trên con
đường đổi mới theo chủ trương của Đảng. Trong tất cả nội dung ấy thì có đề
cập đến một số ngành nghề thủ công, sự nhận thức của người dân và những

những kĩ thuật cao hơn trong sản xuất.
Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: luận văn chỉ nghiên cứu từ năm 1990 đến năm 2010
(Năm 1990 là năm các hợp tác xã rèn ở Lý Nhân bị phá sản và bước đầu đi
vào con đường làm ăn theo kinh tế hộ gia đình. Mốc 2010 là mốc đánh dấu
hoàn thành chương trình 5 năm thực hiện chương trình khôi phục và phát
triển làng nghề và đạt được nhiều thành tựu trong công cuộc đổi mới.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị
Hạnh

Về không gian: bao gồm toàn bộ khu vực xã Lý Nhân, trong đó tập
trung chủ yếu vào làng Bàn Mạch - cái nôi của nghề rèn.
5. Những đóng góp của luận văn.
Luận văn khôi phục, phục dựng một cách hệ thống sự ra đời, quá trình
hình thành và phát triển của nghề rèn Lý Nhân. Từ những phông nền cơ bản
đó, luận văn đã chỉ ra những kỹ thuật cơ bản trong nghề rèn; những nét riêng
và nổi bật để giúp cho nghề rèn Lý Nhân phát triển và đi vào cuộc sống của
mọi người dân trên khắp mọi miền của Tổ Quốc. Qua đó, góp phần tìm hiểu,
nghiên cứu lịch sử địa phương. Từ đó phục vụ cho việc giảng dạy lịch sử địa
phương ở các trường phổ thông.
Đóng góp vào việc tìm hiểu các ngành nghề thủ công trên đất Vĩnh
Tường nói riêng và cả nước nói chung.
6. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn tập trung sử dụng các phương pháp chuyên ngành như:
phương pháp lịch sử và phương pháp logic.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu liên
ngành như: điền dã, phân tích, tổng hợp…
7. Bố cục của khóa luận.

người ta biết đến Lý Nhân với ba thôn: Văn Giang, Văn Hà và Bàn Mạch.
Trong đó, Bàn Mạch là thôn lớn nhất xã và nghề rèn chính là nghề chính của
thôn và người ta thường quen gọi là làng rèn Lý Nhân.
Xã Lý Nhân nằm ở phía Tây Bắc huyện Vĩnh Tường của tỉnh Vĩnh
Phúc. Phía Bắc giáp xã Tân Cương, phía Nam giáp xã Tuân Chính, phía Tây
giáp xã An Tường, phía Đông giáp làng Phú thuộc xã Thượng Trung. Xã có
282,6 ha diện tích đất tự nhiên và diện tích đất canh tác là 141,7 ha. Đi vào cụ
thể hơn ta thấy, làng rèn Lý Nhân nằm trong chân đê Trung ương, bên tả
ngạn sông Hồng. Tuyến đê trung ương chạy qua này được cứng hóa đã đạt
chuẩn đường cấp đường 40km/h. Nhờ con đường đê dài và uốn éo lượn
quanh làng đã tạo ra một con đường đi khác, phục vụ cho cư dân nằm xa con
đường quốc lộ chính. Con đường đó đã tạo ra mối giao lưu xung quanh làng,
kết nối tất cả các vùng và các địa phương xung quanh. Làng bám theo chân
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị
Hạnh

đê dài 1,5km, chiều rộng của làng vào khoảng 400m. Giữa làng có trục
đường xương cá. Từ xa nhìn vào ta thấy, làng là một vạt xanh hình chữ nhật.
Bên phải làng là con đê cao, bên trái làng là con đường liên xã từ Tân Cương
đi xuống. Các cụ già thường giải nghĩa cho con cháu là đất làng ta ở thế có
“Long ngăn xà đón”. “Long” tức là rồng – chỉ con đê to cao, dài tựa con rồng
ngăn nước sông Hồng mùa mưa lũ. “Xà đón” tức là con đường cái dài liên
xã, liên huyện, uốn lượn đón đưa người làng đi làm ăn ở mọi nơi. Đó phải
chăng là do lòng yêu quê hương mà người dân đã hình tượng hóa. Tuy nhiên,
nó cũng phản ánh một phần nào đó địa thế của làng cũng như hoạt động giao
thông thủy bộ ở nơi đây.
Nhìn xa hơn ta thấy, làng này có vị trí gần thị xã Sơn Tây - là trung
tâm thương mại lớn của tỉnh Hà Tây, cách chợ Thổ Tang hơn 1km. Địa bàn

sống gắn bó với nghề và thực sự nghề là một nguồn lợi nuôi sống cư dân tại
làng Lý Nhân.
Số lượng người đang trong độ tuổi lao động ở làng chiếm tỉ lệ rất lớn. Vì
vậy mà bên cạnh nghề nông, nghề rèn đã thu hút được đông đảo lực lượng tham
gia sản xuất. Với lượng người trong độ tuổi lao động như vậy, chính quyền địa
phương cần có chính sách và các bước đi phù hợp để phát huy nội lực; đồng
thời tránh chi phí cho việc mướn lao động bên ngoài tham gia sản xuất.
1.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội.
1.2.2.1 Kinh tế.
Kinh tế làng Lý Nhân ngày càng khởi sắc và có những bước tiến mới
trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Từ xa xưa, làng Lý Nhân cũng như các làng nông nghiệp khác trong
vùng đồng bằng châu thổ, nền kinh tế chính là kinh tế nông nghiệp. Đất canh
tác của làng ít nên thời gian nông nhàn nhiều. Tương truyền rằng: thủa xưa,
làng Lý Nhân là làng ăn chơi có tiếng, ngoài vụ cày cấy gặt hái người dân chỉ
lo chơi cờ bạc, rượu chè nên đời sống vật chất của nhân dân rất khó khăn.
Cho đến khi làm thêm nghề thủ công (nghề rèn, nghề mộc) bộ mặt làng mới
có những chuyển biến.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị
Hạnh

Về kinh tế nông nghiệp: vào những ngày mùa vụ, người dân trong làng
chú trọng tăng gia sản xuất, trồng lúa, hoa màu để đảm bảo nguồn lương thực
tại chỗ cho người dân. Với chất đất là đất đồng bằng, có lượng phù sa đáng
kể của con sông Hồng chảy qua nên nơi đây diện tích trồng lúa và hoa màu
cũng chiếm tỉ lệ lớn. Mặc dù vậy, sản lượng lương thực tạo ra chỉ đủ đáp ứng
nhu cầu hằng ngày của người dân.
Từ giữa thế kỷ XVIII, nghề rèn du nhập vào làng, mọi nhà đều hăng

nhỏ của làng cũng hoạt mạnh, đảm bảo cung cấp đủ các sản phẩm, phục vụ
nhu cầu thiết yếu của người dân. Phối hợp các hoạt động kinh tế, các hoạt
động dịch vụ ở địa phương cũng phát triển mạnh như: cho thuê cho chở nông
cụ hoặc trực tiếp vận chuyển các sản phẩm đến nơi cần giao hàng để hưởng
lợi nhuận…
Qua đó ta thấy được kinh tế của làng rèn Lý Nhân ngày càng khởi sắc
mà phần lớn là bắt nguồn từ hoạt động tiểu thủ công. Nền kinh tế ngày càng
phát triển góp phần vào việc ổn định đời sống. Theo đà phát triển kinh tế thì
nhiều lĩnh vực khác cũng đạt được nhiều thành tựu đáng kể.
1.2.2.2 Xã hội.
Từ xưa đến nay, người dân Lý Nhân vẫn lưu truyền truyền thống,
phong tục tập quán của làng xã nông nghiệp với tinh thần đoàn kết tương
thân tương ái trong tình làng nghĩa xóm, mối quan hệ “ bán anh em xa, mua
làng giềng gần”.
Bên cạnh mối quan hệ làng xóm thì trong làng còn có mối quan hệ
huyết thống giữa các dòng họ. Ở làng Lý Nhân có 7 dòng họ cùng chung
sống đó là : họ Nguyễn, họ Lê, họ Trần, họ Vũ, họ Phùng, họ Lữ, họ Hoàng.
Các dòng họ định cư tại làng do quá trình tiếp nhận nhập cư, quá trình xáo
trộn, li tán, chạy giặc giã, chạy thiên tai qua hàng ngàn năm mà hợp thành
như ngày nay. Theo các cụ cao niên kể lại: Ở Lý Nhân xưa kia có ba nhà thờ
họ lớn có từ lâu đời nhưng đến thời Pháp thuộc đã bị Pháp đốt phá hết. Đó là
nhà thờ họ Lê, Trần, Vũ. Theo sử sách và tương truyền lại thì họ Lê nhập cư
đến từ những năm 980 đến 1005 do vua Lê Đại Hành cho con thứ tư là Ngư
Nam Vương Long Đỉnh lên trấn giữ vùng Phong Châu, cùng đoàn thê tử giai
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị
Hạnh

nhân quân binh đi theo mà ngụ cư lại [13; 9]. Họ Trần nhập cư đến từ thế kỷ

Hạnh

phát huy một cách rộng rãi ở Lý Nhân. Vị tổ nghề được coi là hóa thân của
cuộc sống, cho nên nơi thờ các vị bao giờ cũng được đặt ở một vị trí trọng đại
trong làng – nhà thờ tổ. Về sau nhà thờ tổ bị phá nát do chiến tranh loạn lạc.
Hiện nay, người làng chỉ biết rằng gò đất đầu làng chính là nơi nhà thời tổ.
Hàng trăm năm nay, người dân có tục lệ thờ tổ nghề tại lò rèn của nhà mình.
Hàng năm vào ngày 14 tháng Giêng các gia đình sắm lễ vật, lập ban thờ tại lò
rèn của gia đình tập trung khấn vái, cúng bái tổ nghề, thổ lò, tổ tiên để tưởng
nhớ đến người khai nghề và cầu mong một năm lò luôn đỏ lửa [ 21; 29]. Tấm
lòng của người dân Lý Nhân đối với vị Quận Công đã thể hiện đạo lý uống
nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, tôn sư trọng đạo, biết ơn những
người có công với làng xóm. Đây chính là truyền thống tốt đẹp của cha ông
đã được kế thừa và phát huy trong suốt quá trình lịch sử, góp phần vào việc
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Lễ hội: Khi nhắc đến làng Lý Nhân còn có lễ hội đình Kim – đình thờ
“Bạch Hạc Thống Chế Quan Đại Vương”. Đình đã bị giặc Pháp đốt và phá
mất nhưng trên bãi đất nền đình cũ, người dân đã dựng miếu nhỏ và vẫn duy
trì tổ chức lễ hội đình vào ngày 16 tháng Giêng hàng năm.
“Dù ai rèn ngược rèn xuôi
Đừng quên lễ hội đình Kim quê nhà”
(Ca dao làng rèn Lý Nhân).
Trong ngày lễ hội, các dòng họ sắm lễ vật đến tế lễ ở miếu, sau đó tổ
chức các trò chơi dân gian như: chơi đu, đánh cờ, kéo co và hát ghẹo…Đây
cũng là dịp các dòng họ họp mặt đông đủ con cháu để trò chuyện, trao đổi
kinh nghiệm làm ăn trong các năm qua. Những người đi trước truyền đạt kinh
nghiệm cho con cháu với hi vọng con cháu của dòng họ đều trở thành thợ
giỏi, thành chủ lò trong tương lai.
Lý Nhân là một vùng đất giàu tiềm năng; một vùng quê có bề dày văn
hóa. Ở đó, những con người mang trong mình tinh thần học hỏi, tính cần cù,

và truyền nghề cho bà con để tạo dựng công ăn, việc làm cho vùng đất đói
nghèo và nghề rèn ra đời từ đó.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị
Hạnh

Truyền thuyết thứ hai: Theo các cụ già cao niên kể lại, nghề rèn du nhập
vào Lý Nhân theo con đường di dân của gia đình người họ Vũ quê ở Thanh
Hóa. Tương truyền vào thời Lê Mạt bốn phương loạn lạc, Trịnh Cán, Trịnh
Tông là con của Trịnh Sâm tranh ngôi thứ đưa đến loạn kiêu binh ở Kinh
thành dẫn đến loạn bốn phương, nhân dân khốn khó, chạy loạn, ly tán các nơi.
Có gia đình người họ Vũ mãi tận Thanh Hóa chạy loạn đi tìm đất sống, đến Lý
Nhân thấy đất hẹp, dân lành nhưng không có nghề, lúc nông nhàn chỉ biết ăn
chơi nên xin định cư lại và mở lò rèn dạy nghề cho người dân.
Truyền thuyết thứ ba: Có tài liệu cho rằng: ở nước ta có một số làng
rèn cổ truyền như Nho Lâm (Nghệ An), Vân Chàng (Hà Nam), Đa Sĩ (Hà
Đông), Đa Hội (Bắc Ninh) và Lý Nhân (Vĩnh Phúc). Cả năm làng đều thờ
chung một vị tổ nghề của mình là ông Đùng (có tên thật là Lư Cao Sơn). Ông
Đùng sống ở thời Hùng Vương dựng nước, vốn quê Nga Sơn. Bấy giờ quân
Thục có nhiều khí giới, ông muốn học kỹ nghệ rèn sắt song quân Thục không
mở lò rèn ở nước ta. Chính vì vậy mà ông Đùng nảy ra ý nghĩ giả làm tù binh
để quân Thục mang về nước và ở liền bên nước Thục bảy năm, quyết chí học
thành thạo nghề. Về nước, ông Đùng đến Nho Lâm (Diễn Châu, Nghệ An)
mở lò lập nghề. Tương truyền lúc đầu chưa có đe, búa, ông vốn có sức khỏe
nên thường đặt thanh sắt tì vào đùi mà uốn cong, dùng nắm tay nện sắt thay
búa. Thấy ông giỏi nghề nên dân làng kéo đến xin học. Khi ông mất, dân làng
tôn ông làm tổ nghề. Về sau này,nhiều người làm nghề rèn ở Nho Lâm đã
kéo ra Bắc, lập nghề và truyền nghề.
Dù có nhiều luận giải khác nhau về sự xuất hiện cũng như là ông tổ

nông nghiệp.
Nhìn nhận lại quá trình ra đời và phát triển của nghề rèn Lý Nhân ta
thấy có những bước thăng trầm nhất định. Tuy vậy, mỗi lần thất bại là mỗi
bước thử nghiệm nghề. Trở lại những năm gần đây, với sự tác động của cơ
chế mới, nghề rèn đã chứng tỏ được thương hiệu của mình và ngày càng
được chú ý đầu tư để nghề trở thành nguồn thu, là niềm tự hào của cư dân
làng rèn.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị
Hạnh

CHƯƠNG 2
NGHỀ RÈN LÝ NHÂN TỪ 1990 – 2010
2.1 Bối cảnh lịch sử.
Nghề rèn Lý Nhân từ năm 1960 – 1989 vẫn là hình thức tổ chức sản
xuất theo mô hình hợp tác xã thủ công. Hợp tác xã thủ công tồn tại và phát
triển trong vòng ba mươi năm. Đến năm 1990, trong thời kỳ chuyển đổi,
hợp tác xã thủ công giải thể. Tuy nhiên, những mầm mống của sự khủng
hoảng đã xuất hiện từ năm 1989 khi tình hình trong nước và thế giới có
nhiều biến chuyển.
Vào thời gian này, nhà nước chủ trương bao cấp đối với nền kinh tế.
Nhà nước lo cung cấp nguyên liệu, dụng cụ, thiết bị, đầu ra cho các hợp tác
xã… Để thực hiện điều đó, nước ta nhận sự trợ giúp của các nước xã hội
chủ nghĩa, trong đó chủ yếu là Liên Xô trên nhiều phương diện. Sự phụ
thuộc nền kinh tế nước ta vào nền kinh tế Liên Xô đã khiến cho kinh tế
nước ta bị suy yếu khi Liên xô lâm vào khủng hoảng (1989). Sự khủng
hoảng ấy làm cho ngành tiểu thủ công ở các địa phương đi vào suy yếu và
không có nguồn vốn để duy trì hoạt động. Đặc biệt, thị trường đầu ra của
sản phẩm cũng gặp rất nhiều khó khăn (thời kỳ trước đó, vào năm 1962,

được khả năng nắm bắt thời cơ của cư dân để duy trì nghề cha ông và nâng
cao cuộc sống cư dân.
2.2 Tổ chức sản xuất và phân công lao động.
2.2.1 Tổ chức sản xuất.
Về trình độ sản xuất: Trong các giai đoạn trước, trình độ sản xuất chủ
yếu là lao động bằng chân tay. Lao động chân tay đã làm cho năng suất lao
động được hiệu quả không cao. Mặt khác, hàng hóa sản xuất hạn chế mà sức
lực của người dân bỏ ra là rất lớn. Thành phẩm tạo ra có yếu kém về kiểu
dáng và mẫu mã. Chính vì vậy mà sản phẩm chủ yếu chỉ bán cho nhân dân
trong vùng để phục vụ nhu cầu hàng ngày của người dân: liềm, cày, cuốc…
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các khâu trung gian cũng như
các khâu đòi hỏi sức lao động lớn đã bị giảm hẳn: như khâu dập phôi. Sự trợ
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị
Hạnh

giúp của máy càn thép, búa máy thì công việc đe và đập của người thợ đã
được thay thế.
Trang bị sản xuất: về Lý Nhân hôm nay ta sẽ thấy một diện mạo nông
thôn đổi khác. Cùng với các chính sách hỗ trợ, phát triển làng nghề thì mô
hình xây dựng: điện – đường – trường - trạm đã được chú ý phát triển. Ở Lý
Nhân, hệ thống điện đã được điện khí hóa, xây dựng các trạm biến áp. Theo
quyết định của Ủy ban nhân dân về phát triển làng nghề đã xây dựng ở đây
hệ thống thủy điện nhỏ, sử dụng năng lượng mới và năng lượng tái tạo có
công suất lắp đặt dưới 10.000KW để cung cấp điện cho làng.
Áp dụng công nghệ bằng cách đầu tư hàng loạt các trang thiết bị máy
móc hiện đại như: Máy gọt kim loại, những búa máy hạng nặng 100 – 200
thay thế sức người, máy cán thép (5 cái trong quy mô toàn xã), máy dập phôi
(4 chiếc trong quy mô toàn xã), máy cắt hiện đại, lò nung điện, búa tự động,

tỉnh triển khai chương trình hỗ trợ phát triển khuyến nông quốc gia cho 3 cơ
sở sản xuất, trong đó có làng rèn Lý Nhân. Xuất phát từ chủ trương trên mà
làng rèn Lý Nhân đã có riêng một khu vực tập trung sản xuất lớn. Khu tập
trung này chiếm 50ha được quy hoạch dành cho các hộ có vốn lớn ở đó ra mở
rộng quy mô sản xuất. Ở đây, trình độ chuyên môn hóa được tăng cường với
những trang thiết bị hiện đại. Khu sản xuất này thu hút 30 hộ dân tham gia
với hơn 100 lao động thường trực. Sản xuất mang tính chuyên môn hóa cao
(mỗi người làm một công đoạn) nên nơi đây trung bình mỗi ngày làm được
8000 đến 10.000 sản phẩm mỗi ngày.
Khi sản xuất theo hộ gia đình, nguồn vốn huy động sản xuất chủ yếu là
gia đình tự có cộng thêm vốn vay tín dụng của xã. Trong khi đó, người dân
làng nghề trông chờ vào nguồn vốn đầu tư thì cả xã cũng chỉ có khoảng vài
chục hộ với vốn đầu tư trên dưới 100 triệu đồng. Số còn lại chỉ vài ba chục
triệu đồng và thậm chí thấp hơn. Việc thành lập khu sản xuất lớn cho nghề
rèn Lý Nhân đã không chỉ thu hút đầu tư của chính quyền xã mà còn thu hút
sự quan tâm của các ngân hàng. Với sự năng động vốn có, họ dễ thuyết phục
được đối tác tăng cường đầu tư bởi nguyên liệu đầu vào được đảm bảo và đầu
ra cũng an toàn. Đặc biệt, ở rèn Lý Nhân đã thành lập được hợp tác xã cơ khí
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị
Hạnh

Anh Đức – hình thức tồn tại như một công ty trách nhiệm hữu hạn chuyên
cung cấp phôi sản xuất sẵn cho các hộ gia đình rèn nông cụ. Đây là một bước
tiến mới để từ đó tính chuyên môn hóa sẽ được phát huy rộng rãi trong quy
mô toàn làng. Trong tương lai, các mô hình dịch vụ này sẽ ngày càng phát
triển và đạt được hiệu quả kinh tế cao.
2.2.2 Phân công lao động.
Nghề rèn Lý Nhân phân công lao động theo từng lò. Mỗi lò là một hộ

phải luôn quan sát ánh mắt của người thợ cả để xử lý.
Vai trò của người phụ nữ trong nghề khá quan trọng. Dù là một nghề
nặng nhọc nhưng số lao động nữ tham gia làm rèn vẫn chiếm tỉ lệ cao. Họ
được ưu tiên những công việc nhẹ nhàng và đòi hỏi sự dẻo dai như: thổi bễ,
tra cán dao, vuốt dầu Thói quen nghề nghiệp đã rèn cho họ khá dẻo dai
trong công việc nặng nhọc của đàn ông.
Như vậy, trong gia đình có đủ lực lượng lao động, cha, con, chồng,
vợ…họ vừa làm vừa giảng giải truyền nghề, dạy nghề cho nhau, cứ thế cha
truyền con nối:
“Phì phò kéo bể ngắm xem
Năm sau khôn lớn búa quai suốt ngày
Nhịp nhanh nhịp chậm theo thầy
Đập mạnh đập nhẹ mỏng dày dàn ra
Bao giờ con được như cha
Được cầm búa bé được là chỉ huy”.
(Ca dao làng rèn Lý Nhân)
Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của máy móc hiện đại, nhiều búa máy đã thay
thế cho búa cầm tay. Ở Lý Nhân, những búa máy hạng nặng 100 – 200
khoảng hơn 100 chiếc đã thay thế sức người. Tuy nhiên, để trở thành người
thợ rèn thực sự không thể không trải qua giai đoạn cầm búa. Với những lò
rèn đã sử dụng búa máy thì người thợ đỡ vất vả hơn. Những công việc cán
thép sau khi nung đến việc dàn thép đều do người thợ cả điều khiển búa máy
mà thợ phụ chưa thể làm được.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Hà Thị
Hạnh

Một lò rèn gia đình có trung bình từ 4 – 5 người. Mỗi thành viên trong
gia đình này thường xuyên giúp đỡ công việc của các thành viên. Tuy nhiên,


Ngay từ khâu chọn nguyên liệu người Bàn Mạch cũng đã hết sức cẩn
thận. Theo họ, mỗi một loại sắt thép lại có một tính năng và hiệu quả khác
nhau, không phải loại nào cũng cho ra sản phẩm như ý muốn. Chính vì vậy,
khi chọn mua nguyên liệu, người Bàn Mạch phải dựa vào kích thước và công
dụng của sản phẩm mà chọn loại sắt cho phù hợp. Thường mỗi gia đình lại
chọn sản xuất những loại sản phẩm khác nhau, vì thế mà nguyên liệu cũng
khá đa dạng và phong phú.
Hiện nay ở thời kỳ kinh tế thị trường, nguyên liệu làm sản phẩm do các
gia hộ gia đình tự lo nguyên liệu bằng cách tự mua sắt vụn về nấu hoặc để
chọn lọc và sử dụng lại. Do nguồn sắt thép phế liệu rất phong phú nên các gia
đình rất chủ động trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu. Trong giai đoạn
trước ở Lý Nhân có hẳn một lực lượng lao động đi mua sắt vụn, sắt phế liệu ở
các làng xã trong và ngoài huyện. Mua phế liệu như dao, cuộc, xẻng…đã bị
hỏng; sắt thép phế liệu các loại: sắt thanh, sắt cây, thép tấm…thu gom từ các
công trình lớn thải loại về rồi nhập cho các chủ lò. Ngoài ra còn có lực lượng
buôn bán ở nơi khác đem tận nơi bán cho các chủ lò rèn. Nguyên liệu mua về
được các thợ chọn và phân loại ra các loại tương ứng với nhiều loại sản phẩm
khác nhau. Loại sắt thép tốt, dày dùng để rèn dao quắm, dao tông, đục…; loại
mỏng như sắt nhíp ô tô dùng để rèn liềm, hái, cuốc, dao…; loại tròn dùng để
rèn xà beng; loại cục thỏi dùng để rèn búa chim; đầu kíp, quang nhíp ô tô để
rèn búa, rèn rìu; các loại sắt lá, sắt chứ V để rèn cào, rèn kéo…
Qua đó ta thấy, nguồn nguyên liệu sắt để rèn rất đa dạng. Tuy nhiên,
với kinh nghiệm của người thợ rèn Lý Nhân thì nguyên liệu tốt nhất là thép
nguyên chất chưa qua cán, chưa bị ôxi hóa khi đó sản phẩm rèn được đưa vào
sử dụng đỡ hoen rỉ hơn. Chính vì vậy, nguyên liệu được chọn là các kim loại
càng ít tạp chất, bề mặt càng nhẵn thì khả năng chống gỉ càng tốt, càng thích
hợp cho quá trình rèn.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội

tắt quạt gió để hạn chế ô nhiễm môi trường.
Líp: K57B - Khoa Lịch sử Trường ĐHSP
Hà Nội

Trích đoạn Thị trường tiêu thụ. Đối với kinh tế. Bảo tồn và phát triển làng nghề
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status