LUẬN văn THẠC sĩ CHUYÊN NGÀNH hệ THỐNG CHÍNH TRỊ cơ sở HUYỆN yên BÌNH, TỈNH yên bái HIỆN NAY - Pdf 39

2
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Chính trị quốc gia
Chủ nghĩa xã hội
Hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị cơ sở

CTQG
CNXH
HTCT
HTCTCS

Hội đồng nhân dân
Uỷ ban nhân dân
Xã hội chủ nghĩa

HĐND
UBND
XHCN

2


2
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU


Yên Bình, tỉnh Yên Bái hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

60
84
86
90

2


3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, các cơ sở xã, phường, thị trấn là
nơi có tuyệt đại bộ phận nhân dân cư trú và là nơi nhân dân trực tiếp thực hiện
quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình. Do đó, Đảng ta khẳng định: “Hệ
thống chính trị cơ sở có vai trò rất quan trọng trong tổ chức và vận động nhân dân
thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại
đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng
phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư”[19, tr. 166].
Xây dựng HTCTCS vững mạnh thực hiện tốt nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên và
cấp bách hiện NAY. Bởi thế, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương
khoá IX, năm 2002 đã ra Nghị quyết chuyên đề về Đổi mới và nâng cao chất lượng
hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn.
Cùng với tiến trình đổi mới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Yên Bái,
HTCTCS huyện Yên Bình trong thời gian qua đang được quan tâm xây dựng

Yên Bái hiện nay” dưới góc độ chính trị - xã hội là vấn đề quan trọng cấp bách,
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng, vừa mang tính chiến lược lâu dài, vừa
cấp bách hiện nay, bởi vậy tác giả chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn
Nghiên cứu HTCT các cấp nói chung và HTCTCS nói riêng đang là vấn đề
có tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. HTCT các cấp vững mạnh có ý nghĩa
chiến lược trong việc xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân và sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, trong những năm qua
vấn đề này đã được Đảng ta và nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều nhà khoa học, nhà
quản lý quan tâm nghiên cứu trên các mặt, các góc độ khác nhau:
* Trong Cương lĩnh, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam: Thực tiễn
lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã luôn luôn thấy rõ vai trò to lớn của
HTCT và HTCTCS. Trong công cuộc đổi mới, vấn đề HTCT và HTCTCS càng
được Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm nghiên cứu qua các kỳ đại hội; đặc biệt,

4


5
Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, năm 2002 đã ra Nghị
quyết chuyên đề về Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã,
phường, thị trấn, gần nhất là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã thể hiện rõ quá trình hình
thành, bổ sung, phát triển và hoàn thiện chủ trương về đổi mới và nâng cao chất
lượng HTCT và HTCTCS ở nước ta.
* Nhóm các công trình khoa học nghiên cứu trực tiếp vấn đề HTCT và
HTCTCS: Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên, Đoàn Trọng Truyến, Nguyễn Văn
Thảo, Trần Xuân Sầm (đồng chủ nhiệm), (1999), Đổi mới và tăng cường hệ thống
chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới, Nxb. CTQG, Hà Nội; Nguyễn Quốc Phẩm
(chủ biên), (2000), Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống xã hội

nhân tố chế định và vị trí, vai trò của HTCT trên thế giới nói chung; những nét đặc
thù của HTCT và HTCTCS ở nước ta nói riêng. Trên cơ sở đó, giúp chúng ta tiếp
thu những giá trị hợp lý mô hình tổ chức và hoạt động của HTCT các nước trên thế
giới làm cho tổ chức và hoạt động của HTCT của chúng ta hiệu quả hơn.
Thứ ba, các nhà khoa học đã khảo sát, phân tích thực trạng HTCT Việt Nam
hiện nay, vạch ra những tích cực và hạn chế, bất cập, những bức xúc nổi cộm và
nguyên nhân của nó. Trên cơ sở khoa học và những luận cứ xác đáng đó, các công
trình khoa học đề xuất phương hướng cơ bản và những giải pháp chủ yếu củng cố,
đổi mới và hoàn thiện HTCT Việt Nam hiện nay đáp ứng những yêu cầu của sự
nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.
* Nhóm công trình khoa học trực tiếp nghiên cứu HTCTCS ở từng địa
bàn cụ thể của đất nước và tác động của nó đến các lĩnh vực của đời sống xã
hội, bao gồm: Trần Trọng Chính (1999), Đổi mới hệ thống chính trị cấp xã
nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động ở nông thôn Thái Bình
hiện nay, luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội; Cấn Thị Dung (2003), Hệ thống
chính trị ở cơ sở nông thôn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay luận văn thạc
sĩ chính trị học, Hà Nội; Đào Quang Ninh (2005), Phát huy vai trò hệ thống

6


7
chính trị cơ sở trong thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta
ở tỉnh Đồng Nai hiện nay, luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội; Trần Đức Luân
(2006), Hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Hà Nam trong thực hiện dân chủ xã hội
chủ nghĩa hiện nay, luận văn thạc sĩ triết học, Hà Nội; Đỗ Thị Thạch và
Phạm Thành Nam (chủ biên), (2006), Hệ thống chính trị cơ sở với việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo của công dân hiện nay, Nxb Lý luận Chính trị, Hà
Nội; Đinh Văn Thành (2009), Hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Đồng Nai đấu
tranh phòng chống các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo gây mất ổn định

*Nhiệm vụ:
- Luận giải rõ những vấn đề cơ bản về lý luận HTCTCS huyện Yên
Bình, tỉnh Yên Bái.
- Đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của HTCTCS huyện Yên
Bình, tỉnh Yên Bái hiện nay.
- Xác định yêu cầu, đề xuất giải pháp chủ yếu tiếp xây dựng HTCTCS
huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái hiện nay vững mạnh toàn diện.
* Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức và hoạt động của HTCTCS huyện
Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
* Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát thực trạng tổ chức và hoạt
động của HTCTCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái từ năm 2002 đến nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về HTCT, HTCTCS.
* Cơ sở thực tiễn: Thực tiễn tổ chức và hoạt động của HTCTCS
huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái từ năm 2002 đến nay qua nghiên cứu,
điều tra, khảo sát của tác giả và qua k ế thừa các tư liệu, báo cáo tổng
kết, các nghị quyết của Tỉnh ủy Yên Bái v à Huy ện ủy Yên Bình có liên
quan đến tổ chức và ho ạt động HTCTCS và k ết quả khảo sát của các
công trình khoa học đã được công bố liên quan đến vấn đề này.

8


9
* Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử với nguyên tắc
khách quan, to àn di ện, lịch sử, cụ thể và phát tri ển; tác giả sử dụng
một số phương pháp cơ bản như: phương pháp phân tích, tổng hợp,
kết hợp lịch sử với lôgíc, thống kê, khảo sát thực tiễn, điều tra xã hội

thành phố Yên Bái, huyện Trấn Yên và huyện Văn Yên, phía Đông Bắc giáp
huyện Hàm Yên của tỉnh Tuyên Quang, phía Bắc giáp huyện Lục Yên của tỉnh.
Trên địa bàn có tuyến quốc lộ 70 từ Hà Nội đi Yên Bái và Lào Cai chạy qua
trung tâm và một số xã của Huyện.
Diện tích tự nhiên của huyện Yên Bình hiện nay là 77.319,67 ha trong đó diện
tích đất nông nghiệp có 57.690,43 ha chiếm 74,61% tổng diện tích tự nhiên. Yên
Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình hàng năm là
22,90C; lượng mưa bình quân hàng năm là 2.121,2mm, số ngày mưa trung bình là
136 ngày, tập trung từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm. Độ ẩm trung bình là 37%. Do
đặc điểm là huyện có diện tích mặt nước nhiều (hồ Thác Bà trên 15.000 ha) nên khí
hậu vùng này mang tính chất vùng hồ: mùa đông ít lạnh, mùa hè mát mẻ, thuận lợi
cho việc phát triển nông, lâm nghiệp, ngư nghiệp, phát triển du lịch dịch vụ.
Về thổ nhưỡng, Yên Bình có nhiều loại đất, trong đó có nhóm đất đỏ
vàng (Feralit) chiếm 61% diện tích trong huyện có khả năng phát triển cây
công nghiệp, cây lương thực và phát triển đồng cỏ để chăn nuôi đại gia súc.

10


11
Nhóm đất dốc tự phân bổ rải rác ở các thung lũng sông, suối có khả năng cải
tạo thâm canh trồng cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày.
Nhóm đất phù sa phân bố dọc hai bên bờ sông Chảy có đặc tính độ phì nhiêu
đáp ứng được yêu cầu sản xuất các loại cây màu và cây lương thực.
Các tài nguyên thiên nhiên của huyện khá phong phú, có trữ lượng khá
lớn; ngoài tài nguyên nước và tài nguyên rừng còn kể đến một số khoáng sản:
đá vôi có độ trắng cao, đá vôi vật liệu xây dựng, chì, kẽm, pyrit, cao lanh;
ngoài ra có đá quý, bán đá quý và các loại cát, quặng vàng, than nâu...
Tóm lại, huyện Yên Bình thuộc tỉnh Yên Bái là địa phương có nhiều lợi thế
so sánh về vị trí địa lý so với các huyện khác trong tỉnh Yên Bái, là đầu mối giao

giáo và xứ đạo Đồng Lạng có 6 họ giáo. Hiện tại, Công giáo tập trung ở một
số xã hạ huyện và dọc quốc lộ 70 với những hoạt động tôn giáo phức tạp.
Huyện Yên Bình vốn giàu lòng yêu nước và truyền thống cách mạng vẻ
vang. Người dân Yên Bình vô cùng tự hào đã từng đứng trong đội quân của
Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật giữ trại Thu Vật trước cuộc xâm lăng của
giặc Nguyên - Mông; trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Yên Bình
là một trong những nơi cao trào của cuộc khởi nghĩa Yên Bái; nhất là khi có
Đảng, truyên thống đó được nâng lên tầm cao mới. Đó là những tiền đề vô cùng
quý báu cho việc xây dựng HTCTCS huyện Yên Bình vững mạnh.
Hiện nay, toàn huyện có 79 trường học với gần 900 lớp học từ ngành học
mầm non đến phổ thông trung học, tổng số học sinh hàng năm có khoảng 25.000
em, chiếm 24% tổng dân số. Năm 1995 toàn huyện đã cơ bản hoàn thành xoá mù
chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Hiện có 25/26 xã được công nhận đạt chuẩn
quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 26/26 xã, thị trấn được công
nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở. Huyện có một bệnh viện
trung tâm, 3 phân viện - phòng khám khu vực (Thác Bà, Cẩm Nhân và Cẩm Ân)
và 26 trạm y tế cơ sở xã, thị trấn, bình quân 1 vạn dân có 3,2 bác sỹ.

12


13
Về cơ cấu kinh tế, đã chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng nông, lâm
nghiệp chiếm 13,5%; công nghiệp - xây dựng chiếm 74%; thương mại - dịch vụ
chiếm 12,5%; tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm bình quân đạt 14%; thu nhập
bình quân đầu người năm 2010 đạt 15,5 triệu đồng; tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chuẩn
mới “giảm từ 30,83% năm 2005 xuống còn 5,83% năm 2010”[26, tr. 6].
Về kết cấu hạ tầng nông thôn: toàn huyện có 422 công trình thuỷ lợi lớn nhỏ
đang sử dụng khai thác, trong đó có 107 công trình kiên cố, 35 công trình tạm, hàng
năm đáp ứng khoảng 75% nhu cầu tưới tiêu. Trên địa bàn có 56km quốc lộ, 93,5km

Hệ thống chính trị XHCN ở Việt Nam được thiết lập sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945 thắng lợi. Đó là chế độ dân chủ nhân dân, với sự ra đời
của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và các tổ chức chính trị- xã hội của
nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cùng tiến trình
phát triển của cách mạng, HTCT ở nước ta ngày càng được củng cố và kiện
toàn, mang bản chất giai cấp công nhân. Các nhà kinh điển chủ nghĩa MácLênin khẳng định: Chuyên chính vô sản là sự thống trị về chính trị của giai
cấp công nhân đối với toàn bộ xã hội, do cách mạng vô sản sinh ra và có sứ
mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, đưa nhân
dân lao động lên địa vị làm chủ trên rất cả mọi mặt đời sống xã hội. Theo ý
nghĩa đó, Đảng ta sử dụng khái niệm HTCT XHCN thực chất xét về mục
đích, chức năng, nhiệm vụ là thống nhất với khái niệm chuyên chính vô sản
trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Ở nước ta,
khái niệm HTCT lần đầu tiên được sử dụng trong Văn kiện Hội nghị lần thứ
sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (năm 1990). Theo đó, HTCT là một
chỉnh thể bao gồm toàn bộ những tổ chức chính trị - xã hội (Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các đoàn thể nhân dân)
hoạt động hợp pháp cùng với cơ chế chính trị đảm bảo quyền lực thực tế của
nhân dân lao động. Nói cách khác, HTCT XHCN là toàn bộ những thiết chế, cơ
chế của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân
lao động, do đảng cộng sản lãnh đạo, nhà nước XHCN quản lý thực hiện chức

14


15
năng cơ bản là xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa
bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội.
Đến nay thuật ngữ HTCT đã được sử dụng phổ biến: “Hệ thống chính trị
là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết
chế có quan hệ với nhau mục đích, chức năng trong việc thực hiện, tham gia

dựng chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, bảo đảm sự phối hợp chặt
chẽ các tổ chức trong hệ thống chính trị hướng vào phục vụ nhân dân, đưa đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến mọi người dân và tổ chức
thực hiện tốt ở cơ sở, phản ánh và giải đáp mọi tâm tư nguyện vọng của nhân dân,
khơi dậy trí tuệ và nguồn lực của dân, không ngừng nâng cao trình độ dân sinh,
dân trí, dân chủ ở cơ sở huyện Yên Bình.
Chính quyền cơ sở: Bao gồm HĐND và UBND xã, thị trấn ở huyện Yên
Bình. HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương huyện Yên Bình, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa
phương huyện Yên Bình bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ
quan Nhà nước cấp trên. HĐND thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy
định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương.
Đồng thời, phát huy quyền chủ động sáng tạo của địa phương. HĐND có hai chức
năng cơ bản là quyết định và giám sát trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở cơ
sở. UBND cấp xã là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước
ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của
cơ quan Nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp. UBND có chức năng
nhiệm vụ là thực hiện quản lý Nhà nước toàn diện trên địa bàn, tổ chức thực hiện
những nghị quyết và quyết định của HĐND cùng cấp ở cơ sở.
Các đoàn thể nhân dân hay các tổ chức chính trị - xã hội ở huyện Yên Bình:
Các đoàn thể nhân dân trong HTCT cơ sở bao gồm Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông
dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
huyện Yên Bình có chức năng chủ yếu là tập hợp, củng cố, xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân, tạo sự nhất trí về chính trị, tinh thần của nhân dân; tuyên truyền vận

16


17
động nhân dân địa phương phát huy quyền làm chủ thực sự của mình trong thực

18
Mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị cơ sở huyện Yên
Bình, tỉnh Yên Bái: Xem xét mối quan hệ của HTCTCS huyện Yên Bình, thực
chất là xem xét mặt hoạt động của nó được thể hiện ở hệ thống các mối quan
hệ theo mục đích, chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của
HTCTCS huyện Yên Bình cả chiều dọc và cả chiều ngang.
Mối quan hệ theo chiều dọc, là mối quan hệ giữa HTCTCS huyện Yên
Bình với HTCT huyện Yên Bình và tỉnh Yên Bái trong hệ thống hành chính
bốn cấp ở nước ta và mối quan hệ của từng tổ chức, thiết chế theo hệ thống
dọc (từ trên xuống và từ dưới lên). Đây là mối quan hệ giữa lãnh đạo, chỉ
đạo, quản lý và phục tùng; đồng thời, là mối quan hệ tác động và ảnh hưởng
qua lại giữa các thành tố - thiết chế cấu thành HTCTCS huyện Yên Bình với
nhân dân huyện.
Mối quan hệ theo chiều ngang, là mối quan hệ qua lại giữa các thành tố
- thiết chế cấu thành HTCTCS huyện Yên Bình theo chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn của từng thiết chế trong hệ thống; bao gồm các quan hệ: giữa tổ
chức đảng và chính quyền cơ sở Huyện; giữa tổ chức Đảng với các đoàn thể
nhân dân ở cơ sở Huyện; giữa chính quyền và các đoàn thể nhân dân
Huyện…
Nh vËy, cơ chế là sự vận hành tổng hợp của các yếu tố trong một sự vật
theo một nguyên tắc nhất định, để sự vật đó tồn tại và phát triển đúng như bản
chất vốn có của nó. Sự vận hành cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ” là bảo đảm mở rộng và thực thi có hiệu quả nền dân chủ
XHCN, làm cho mọi quyền lực xã hội đều thuộc về nhân dân.
1.1.2. Đặc điểm hệ thống chính trị cơ sở huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Theo Nghị định số 87/2008/NĐ-CP của Chính phủ về ban hành điều chỉnh
địa giới hành chính, huyện Yên Bình có 26 đơn vị hành chính cấp cơ sở gồm 24
xã và 2 thị trấn (1 thị trấn trung tâm huyện lỵ), trong đó có 1 xã vùng cao và 6 xã

18


19


20
mâu thuẫn, thậm chí cả những xung đột nảy sinh trong đời sống dân cư, mọi
đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước quán triệt, triển khai đến dân đều qua
cấp cơ sở. Vì vậy, HTCTCS huyện Yên Bình là cấp gần dân nhất và thể hiện tính
nhân dân một cách rõ ràng, trực tiếp nhất.
Hai là, HTCTCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái được tổ chức, hoạt động trên
địa bàn chia cắt bởi đồi núi cao và sông hồ. Đây là một đặc điểm đặc thù của
HTCTCS huyện Yên Bình so với các huyện trong tỉnh Yên Bái và các tỉnh khác ở
Tây Bắc. Địa hình của huyện Yên Bình khá phức tạp, với đặc điểm địa hình chuyển
tiếp từ trung du lên miền núi, cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc; Yên Bỡnh cú nỳi
Cao Biền nằm phớa tả ngạn sụng Chảy (phớa Đông hồ Thác Bà) và núi Con Voi
nằm phía hữu ngạn sông Chảy (phía Tây hồ Thác Bà). Trên địa bàn huyện có sông
Chảy (sông Trôi, sông Đạo Ngạn) cùng với hệ thống suối, ngòi lớn nhỏ như ngòi
Hành, ngòi Tráng, ngòi Bích Đà, ngòi Lòi, ngòi Dầu, ngòi Cát, ngòi Úc, ngòi
Biệc... chảy tựu lại tạo thành hồ Thác Bà với với diện tích 23.400ha, trong đó mặt
nước chiếm tới 19.000ha, còn lại 1.331 hòn đảo lớn nhỏ, chiều dài của hồ là 80 km,
chiều rộng từ 5-15km, sâu từ 15-34m, chứa được 3-3,9 tỷ mét khối nước. Với địa
hình phức tạp như vậy đã đặt ra những khó khăn trong việc tổ chức và hoạt động
của HTCTCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái với tính cách là một chỉnh thể thống
nhất.
Ba là, HTCTCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái vừa phải lãnh đạo, tổ chức
quản lý phát triển kinh tế, vừa phải quan tâm giải quyết vấn đề tôn giáo khá phức
tạp trên địa bàn. Huyện là nơi duy nhất được tỉnh Yên Bái quy hoạch khu công
nghiệp lớn của tỉnh (khu công nghiệp phía Nam), cũng là nơi đầu tiên của miền
Bắc có công trình thủy điện đầu tiên - thủy điện Thác Bà. Do đó, huyện xác định
cơ cấu kinh tế của địa phương là nông - lâm - ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ và

Nhìn chung chất lượng đội ngũ cán bộ công chức trong HTCTCS huyện Yên
Bình, tỉnh Yên Bái có trình độ học vấn và lý luận chính trị thấp, cán bộ chủ chốt là
dân tộc ít người chiếm tỷ lệ cao so với một số huyện lân cận. Chất lượng đội

21


22
ngũ cán bộ, công chức cấp xã của HTCTCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
không đồng đều, có nhiều cán bộ không chuyên nghiệp và ít được đào tạo,
trình độ văn hoá, lý luận, chuyên môn nghiệp vụ chưa cao, cụ thể: “Tổng cán
bộ chủ chốt và công chức cấp xã là 493 người; trong đó, trình độ giáo dục phổ
thông: tiểu học 01, trung học cơ sở 130, trung học phổ thông 362; trình độ
chuyên môn nghiệp vụ: sơ cấp 13, trung cấp 208, cao đẳng - đại học 69; trình
độ lý luận chính trị: sơ cấp 74, trung cấp 293, cao cấp-cử nhân 02”[3, tr. 2]. Là
huyện miền núi, đồng bào dân tộc ít người chiếm 42% dân số toàn huyện; vì
vậy, đội ngũ cán bộ chủ chốt và công chức cấp xã là dân tộc thiểu số chiếm tỷ
lệ cao. Chỉ tính riêng ủy viên đảng ủy của 26 đảng bộ xã, thị trấn nhiệm kỳ
2010-2015 “đảng ủy viên là dân tộc ít người chiếm tỷ lệ 39,81% ; trong đó
Đảng bộ các xã: Xuân Long, Ngọc Chấn, Tích Cốc, Cảm Nhân, Phúc Ninh,
Mỹ Gia, Xuân Lai, Yên Thành tỷ lệ từ 77,78 - 92,31%”[4, tr. 2 - 27]. Thực tiễn
cho thấy, trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ dân
tộc thiểu số rất hạn chế lại chịu ảnh hưởng tiêu cực bởi các phong tục tập quán,
luật tục lạc hậu của dân tộc mình đã tạo ra lối làm việc theo tư duy đơn giản,
máy móc hoặc dựa trên kinh nghiệm thuần túy, thiếu năng động trong suy nghĩ
giải quyết công việc; tư tưởng tự ti, ảnh hưởng tâm lý tập quán cũ… cũng tác
động rất nhiều đến việc hình thành và phát triển đội ngũ cán bộ chủ chốt, đến tổ
chức và phương thức hoạt động của HTCTCS huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
Đây là một thực tế đòi hỏi phải nâng cao trình độ mọi mặt cho đội ngũ cán bộ
xã, thị trấn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

lĩnh vực của đời sống xã hội ở cơ sở.
Hai là, công tác cán bộ của cấp uỷ đảng ở cơ sở bước đầu đã có
chuyển biến tích cực. Hiện nay đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, thị trấn của
huyện là 188 đồng chí, bảo đảm có cơ cấu tương đối phù hợp. Trong đó, “cán
bộ là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 42,02%; độ tuổi bình quân là 47,50
tuổi; cán bộ chủ chốt là người dân tộc thiểu số chiếm 8,51%”[3, tr. 1] trong
khi đó người dân tộc thiểu số chiếm 42,00% tổng dân số của toàn huyện.
Các cấp uỷ đảng đã tích cực triển khai và thực hiện có hiệu quả Đề án 64 của
Ban Tổ chức Tỉnh uỷ về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác quy hoạch, đào tạo, sử

23


24
dụng cán bộ và gắn với luân chuyển cán bộ theo Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị
và kết luận TW6 về công tác tổ chức cán bộ. “Trên cơ sở quy hoạch cán bộ theo
phương án A1, A2, A3 của giai đoạn 2010-2015, đã làm tốt công tác nhân sự và kịp
thời kiện toàn các chức danh cán bộ chủ chốt sau đại hội cấp cơ sở. Từ đầu nhiệm
kỳ đến nay đã mở 01 lớp trung cấp lý luận chính trị; 15 lớp cấp sơ cấp lý luận chính
trị; 31 lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ cho 740 bí thư chi bộ và cấp ủy viên cơ sở và 01
lớp đại học nông nghiệp (hệ tại chức) cho cán bộ xã, thị trấn của huyện”[26, tr. 10].
Huyện Yên Bình hiện có 26 tổ chức cơ sở đảng ở xã, thị trấn. Trong
đó, có 24 xã và 02 thị trấn, với 26 đảng bộ cơ sở, 100% tổ dân phố và thôn có
chi bộ, đảng viên chiếm 85,82% đảng viên trong toàn huyện. Thực hiện Điều
lệ Đảng và các nghị quyết Trung ương khoá VII,VIII, nhất là Nghị quyết hội
nghị Trung ương 3 (khoá VII), Nghị quyết hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khoá
VIII và Quy định số 94/QĐ-TW, số 95/QĐ-TW ngày 03 tháng 3 năm 2004 của
Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ xã, phường, thị trấn
đã cụ thể hoá thành các quy chế hoạt động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ
lãnh đạo trong điều kiện mới.

trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của huyện.
Năm là, vai trò hạt nhân chính trị của các tổ chức cơ sở đảng ở cơ sở
đã được thể hiện rõ hơn. Các tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo đối với chính
quyền và đoàn thể ở địa phương thực hiện tương đối tốt chức năng, nhiệm
vụ, hiệu lực, hiệu quả. Qua khảo sát, điều tra xã hội học cho thấy đã “có gần
62,67% số người được hỏi đánh giá tổ chức cơ sở đảng có vai trò quan
trọng trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ”[48, phụ lục 5]. Còn thực tế khảo
sát 16/26 xã, thị trấn của huyện thực hiện mô hình bí thư kiêm chủ tịch
HĐND cho thấy, mô hình này đã phát huy hiệu quả trong tập trung quyền
lực, tinh giảm số lượng cán bộ lãnh đạo.
Sáu là, mối quan hệ giữa Đảng với chính quyền, đoàn thể nhất là với nhân
dân ngày càng được củng cố. Với ý thức trọng dân, tin dân, các tổ chức cơ sở
đảng ở cơ sở đã tổng hợp được nhiều ý kiến đóng góp của nhân dân đối với mỗi

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status