MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong hệ thống cơ cấu tổ chức, HTCTCS là một bộ phận cấu thành HTCT xã hội chủ
nghĩa ở nước ta. HTCTCS có vai trò trực tiếp phổ biến, tuyên truyền, tổ chức nhân dân hiện
thực hóa mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các chỉ
thị, nghị quyết của tỉnh, của huyện. Trực tiếp lãnh đạo, quản lý và huy động mọi nguồn lực ở
cơ sở để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ chức và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
cho nhân dân. Tạo ra những tiềm lực vật chất, chính trị tinh thần góp phần làm nên sức mạnh
tổng hợp cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN ở
nước ta.
Là cấp thấp nhất, gần dân nhất trong hệ thống hành chính bốn cấp ở nước ta, HTCTCS có
một vị trí, vai trò rất quan trọng trong thực hiện dân chủ XHCN ở cơ sở: là thiết chế trực tiếp
lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và tổ chức hiện thực hoá dân chủ ở cơ sở một cách có hiệu quả;
trực tiếp tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và năng lực thực hành dân chủ cho nhân
dân lao động; trực tiếp đấu tranh ngăn chặn, khắc phục những biểu hiện lợi dụng dân chủ, vi
phạm quyền làm chủ của nhân dân lao động... nhằm xây dựng và phát huy sức mạnh đoàn kết
toàn dân, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”.
Nhận rõ vai trò và tầm quan trọng đó, thời gian qua HTCTCS tỉnh Hà Nam đã triển khai và
thực hiện khá tốt dân chủ XHCN ở cơ sở. Đã động viên và phát huy được tinh thần làm chủ
của nhân dân trong xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương và trong xây dựng, thực
hiện QCDC cơ sở, góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình dân chủ hóa đời sống xã hội và công
cuộc xây dựng, hoàn thiện nền dân chủ XHCN ở nước ta.
Tuy nhiên, ở tỉnh Hà Nam hiện nay còn có một số tổ chức trong HTCTCS chưa phát huy
tốt vai trò của mình trong thực hiện dân chủ XHCN. Quá trình thực hiện dân chủ và QCDC cơ
sở còn bộc lộ những bất cập như hiện tượng mất đoàn kết nội bộ, tình trạng tham nhũng, quan
liêu hách dịch, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vẫn xảy ra, thậm chí có địa phương còn
để xảy ra điểm nóng... Điều đó, nếu chậm được khắc phục sẽ gây mất trật tự an toàn xã hội
làm ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân, đến hiệu quả thực hiện
liệu, HVCTQG Hồ Chí Minh; “Hệ thống chính trị cơ sở đặc điểm xu hướng và giải pháp”, Vũ
Hoàng Công, Nxb CTQG, Hà Nội, 2002; “Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ hoá đời sống
xã hội nông dân miền núi vùng dân tộc thiểu số”, Nguyễn Quốc Phẩm (chủ biên), Nxb CTQG,
Hà Nội, 2002; “Nâng cao trình độ văn hoá dân chủ của nhân dân trong quá trình xây dựng nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”, luận án phó tiến sĩ, chuyên ngành chủ nghĩa xã hội
khoa học của Mẫn Văn Mai, Hà Nội, 1994;; “Dân chủ và pháp chế”, của Hoàng Văn Hảo, Tạp
chí Lý luận chính trị số 6, 1998; “Lại bàn về dân chủ XHCN và biện pháp thực hiện dân chủ
XHCN”, của Bùi Xuân Hà, Tạp chí Xây dựng Đảng số 3, 1998; “Dân chủ ở cơ sở - Động lực phát
triển nhân tố con người”, của Nguyễn Đức Khang, Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị, số 22, 2000;
“Phát huy dân chủ trong cơ chế một Đảng cầm quyền ở nước ta hiện nay”, của Nguyễn Văn Huyên,
Tạp chí Cộng sản số 13, 2001; “Phát huy dân chủ ở cơ sở nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
động của hệ thống chính trị ở nông thôn nước ta hiện nay”, của tiến sĩ Nguyễn Khánh Mậu, Tạp chí
Khoa học chính trị số 1, 2003 ..v.v.v...
Những công trình khoa học trên đã phân tích khá sâu sắc về đặc điểm, cấu trúc, vai trò của
từng thành tố của HTCT xã hội chủ nghĩa; đặc điểm, vai trò, giải pháp xây dựng hệ thống
chính trị cơ sở và mối quan hệ giữa HTCTCS với việc thực hiện dân chủ XHCN và quy chế
dân chủ cơ sở. Nhằm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động, thực hiện thắng lợi sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước vì dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống về
“HTCTCS tỉnh Hà Nam trong thực hiện dân chủ XHCN hiện nay”. Vì vậy, đề tài luận văn mà
tác giả đã lựa chọn không trùng lặp với các luận văn, luận án, công trình khoa học đã được
công bố.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích: Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của HTCTCS
trong thực hiện dân chủ XHCN, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò
đó trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
*Nhiệm vụ:
- Làm rõ cơ sở lý luận về vai trò của HTCTCS tỉnh Hà Nam trong thực hiện dân chủ
giảng dạy một số chủ đề có liên quan về Chủ nghĩa xã hội khoa học ở các nhà trường trong và
ngoài quân đội; làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ cơ sở hiện nay.
7. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm: phần mở đầu, 2 chương (4tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục.
Chương 1
HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ VÀ VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ
SỞ TỈNH HÀ NAM TRONG THỰC HIỆN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY
1.1. Hệ thống chính trị cơ sở và mối quan hệ giữa hệ thống chính trị cơ sở với thực hiện
dân chủ xã hội chủ nghĩa hiện nay
1.1.1. Thực chất hệ thống chính trị cơ sở
* Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa
HTCT xã hội chủ nghĩa là một chỉnh thể, bao gồm toàn bộ những tổ chức chính trị - xã hội, đó
là Đảng Mác - lênin, Nhà nước XHCN, các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động hợp pháp, cùng
những cơ chế chính trị bảo đảm thực hiện quyền lực thuộc về nhân dân.
Cấu trúc của HTCT xã hội chủ nghĩa, bao gồm Đảng cộng sản, Nhà nước XHCN và các
đoàn thể nhân dân mang tính chất chính trị - xã hội, hoạt động theo một cơ chế thống nhất phù
hợp với quy luật phát triển của xã hội, thực hiện đường lối mục tiêu xây dựng CNXH. Cơ chế
đó đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
và sự quản lý của Nhà nước XHCN.
HTCT xã hội chủ nghĩa hình thành khi Đảng kiểu mới của GCCN nắm được chính quyền,
lãnh đạo nhân dân lao động đi lên CNXH. Đây là thiết chế chính trị thể hiện quyền lực của
GCCN, đem lại lợi ích chính đáng cho nhân dân lao động, do đó nó khác hẳn về chất so với
các thiết chế chính trị của các giai cấp thống trị tồn tại trong lịch sử. Trong HTCT xã hội chủ
nghĩa, mỗi bộ phận của nó hoạt động với chức năng, vai trò riêng, song cùng hướng tới thực
hiện mục tiêu chung là xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân lao động thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH.
Xét về bản chất, HTCT xã hội chủ nghĩa là HTCT nhất nguyên do Đảng cộng sản lãnh đạo, tính
của mỗi thành tố trong HTCT xã hội chủ nghĩa không thể thu được hiệu quả cao nếu không có sự
thống nhất cao về nguyên tắc hoạt động. Ngược lại sự thống nhất và ổn định về nguyên tắc hoạt
động và phương hướng phát triển của HTCT xã hội chủ nghĩa tạo điều kiện cho các thành tố cấu
thành phát huy tính năng động trong thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình
- HTCT xã hội chủ nghĩa là một “hệ thống mở” và “tự tiêu vong”. Tính chất mở của HTCT xã
hội chủ nghĩa thể hiện xu hướng vận động khách quan khả năng “tự tiêu vong” của chính hệ
thống đó. Công cuộc xây dựng CNXH là một quá trình đòi hỏi nhân dân lao động ngày càng tham
gia trực tiếp, tích cực và sáng tạo trong quản lý các mặt của đời sống xã hội thì mới giành được
thắng lợi. Do đó, các tổ chức trong HTCT xã hội chủ nghĩa với tư cách là công cụ quyền lực của
GCCN cũng dần dần từng bước điều chỉnh, từng bước hoàn thiện nhằm phát huy tốt nhất vai trò
của nhân dân lao động vào công cuộc xây dựng CNXH và đến một lúc nào đó nó sẽ tự tiêu vong.
Đây là điểm khác căn bản của HTCT xã hội chủ nghĩa với các HTCT đã ra đời, tồn tại trong lịch
sử.
Những đặc trưng trên đã tạo lên bộ mặt toàn diện, phản ánh thực chất của HTCT xã hội chủ
nghĩa. Tuy nhiên, trong các giai đoạn khác nhau của quá trình hoàn thiện HTCT xã hội chủ nghĩa
thì mức độ biểu hiện của những đặc trưng đó không giống nhau về phạm vi và trình độ. Nó chỉ
thể hiện một cách đầy đủ và phổ biến trong đời sống xã hội chừng nào CNXH đã được xây dựng,
hoàn thiện và tồn tại trên chính nó.
HTCT xã hội chủ nghĩa có vai trò cực kỳ to lớn trong sự nghiệp cách mạng XHCN, là khâu
then chốt, là yếu tố cơ bản để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN nhằm đảm bảo quyền
làm chủ thực sự thuộc về nhân dân. HTCT xã hội chủ nghĩa có hai chức năng cơ bản là chức năng
đối nội và chức năng đối ngoại, mà nhiệm vụ nổi bật là thực hiện chức năng quản lý xã hội, cải
tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.
Ở nước ta, khái niệm HTCT lần đầu tiên được sử dụng trong văn kiện Hội nghị lần thứ VII
Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (năm 1990) và cho đến nay khái niệm này được sử dụng phổ
biến. Đảng ta xác định HTCT xã hội chủ nghĩa ở nước ta bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội như: MTTQ Việt Nam, Hội
đạo, chỉ đạo và quản lý của HTCT cấp trên. Tuy nhiên, kết quả thực hiện các chủ trương, đường lối,
chính sách, nghị quyết của HTCTCS lại là cơ sở để đánh giá sự vững mạnh và năng lực lãnh đạo,
chỉ đạo của HTCT cấp trên.
Theo chiều ngang, là quan hệ tác động và ảnh hưởng qua lại giữa các thiết chế cấu thành
HTCTCS. Đây là mối quan hệ hết sức phức tạp, là cơ sở để phân biệt chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn của từng thiết chế trong hệ thống. Bao gồm các mối quan hệ sau:
Quan hệ giữa tổ chức đảng và chính quyền cơ sở, bản chất của mối quan hệ giữa tổ chức đảng
và chính quyền cơ sở là Đảng lãnh đạo chính quyền (thông qua Đảng ủy, thường vụ Đảng ủy) bằng
các chủ trương, nghị quyết và các biện pháp lớn; bằng việc bố trí cán bộ và quyền kiểm tra việc
chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách, chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Sự lãnh đạo của cấp ủy
còn thông qua những đảng viên phụ trách và công tác trong HĐND, UBND. Chính quyền triển khai
tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng ủy bằng phương thức quản lý nhà nước; tổ chức, tạo điều
kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội và các hoạt động kinh tế, xã
hội, văn hóa... Mối quan hệ ấy được thể hiện thông qua các mối quan hệ cụ thể giữa Đảng ủy xã và
HĐND xã; giữa Đảng ủy xã với UBND xã; giữa Bí thư Đảng ủy với chủ tịch HĐND; Bí thư Đảng
ủy với Chủ tịch UBND xã. Trong các mối quan hệ trên, quan hệ giữa Đảng ủy với HĐND, UBND;
giữa Bí thư Đảng ủy với Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND là quan trọng nhất, chi phối các quan hệ
khác.
Quan hệ giữa tổ chức đảng với các đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở, Đảng ủy cơ sở không chỉ
lãnh đạo chính quyền mà còn lãnh đạo các đoàn thể nhân dân. Đây là mối quan hệ thể hiện giữa
lãnh đạo và phục tùng. Ban chấp hành các đoàn thể nhân dân có trách nhiệm báo cáo hoạt động của
tổ chức mình với Đảng ủy cơ sở và đoàn thể cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo. Đảng ủy, Thường vụ
Đảng ủy có quyền chỉ đạo hoạt động của các tổ chức này. Đảng uỷ cơ sở lãnh đạo các đoàn thể
nhân dân bằng chủ trương, quan điểm; bằng công tác cán bộ; bằng công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm
tra. Tuy nhiên trong mối quan hệ này, các đoàn thể nhân dân chịu sự lãnh đạo của tổ chức đảng,
song có tính độc lập tương đối, không phải là quan hệ một chiều. Đảng ủy ra nghị quyết, các tổ chức
đoàn thể thực hiện, nhưng những ý kiến, nguyện vọng, sáng kiến đóng góp của nhân dân trong thực
tiễn phong trào của các đoàn thể lại bổ sung cho những quyết định của Đảng ủy.
phát triển của toàn bộ HTCT xã hội chủ nghĩa nước ta trong đó có HTCTCS là nhằm xây dựng và
hoàn thiện nền dân chủ XHCN, thực hiện tốt quyền dân chủ và QCDC ở cơ sở, bảo đảm quyền lực
thuộc về nhân dân. Tính dân chủ rộng rãi trong mỗi thành tố của HTCTCS nước ta thể hiện vai trò
làm chủ của nhân dân trong xây dựng, hoàn thiện HTCTCS và trong kiểm tra, giám sát các hoạt
động của mỗi tổ chức; ở nội dung, phương thức hoạt động của HTCTCS; ở mối quan hệ giữa các
thành tố, của mỗi thành tố với nhân dân và ở việc thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động của HTCTCS, bảo đảm lợi ích của nhân dân. Ngăn chặn, loại trừ bệnh quan
liêu, sự suy thoái của HTCTCS và cán bộ công chức trong hệ thống ấy.
+ Trong HTCTCS nước ta bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân và
tính dân tộc. Nền tảng xã hội của HTCT xã hội chủ nghĩa nước ta, trong đó có HTCTCS là
liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức đặt dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Chỉ có HTCT mang bản chất giai cấp công nhân, hoạt động theo đường lối,
quan điểm của Đảng mới xác định đúng đắn mục đích, nội dung, phương hướng nhiệm vụ,
giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích của nhân dân với lợi ích của dân tộc. HTCT càng có
tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc bao nhiêu thì càng thể hiện đầy đủ bấy nhiêu bản chất
của giai cấp công nhân.
Sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của HTCT tập
trung thể hiện ở chỗ, toàn bộ hoạt động của HTCT là xây dựng và hoàn thiện chế độ dân chủ
XHCN, đảm bảo quyền lực thực tế trên mọi lĩnh vực thuộc về nhân dân lao động. Chính quyền Nhà
nước do nhân dân lập nên và nhân dân thực hiện quyền kiểm soát tối cao đối với Chính quyền nhà
nước. HTCT nước ta, trong đó có HTCTCS kế thừa, phát huy những giái trị truyền thống, những tư
tưởng chính trị, những kinh nghiệm quý báu về tổ chức, hoạt động thực tiễn chính trị trong lịch sử
dựng nước và giữ nước của dân tộc. Là công cụ quyền lực hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng của giai
cấp công nhân là vì độc lập dân tộc và CNXH, phản ánh xu thế phát triển tất yếu của thời đại, đáp
ứng được lợi ích chân chính và nguyện vọng độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của cộng đồng dân
tộc Việt Nam.
Nắm vững cơ cấu và bản chất của HTCTCS có ý nghĩa quan trọng nhằm từng bước củng cố,
kiện toàn và đổi mới nhằm phát huy tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mỗi thành tố trong xây
HĐND xã là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và
quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa
phương và cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định
của hiến pháp và pháp luật, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy
quyền chủ động, sáng tạo của địa phương.
HĐND xã có hai chức năng là quyết định và giám sát trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội ở
cơ sở. Trong thực hiện dân chủ XHCN và quy chế dân chủ ở cơ sở, HĐND quyết định các chủ
trương, biện pháp thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của hiến pháp và pháp luật.
UBND xã là cơ quan chấp hành của HĐND, là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có
trách nhiệm chấp hành hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị
quyết của HĐND cùng cấp. UBND có chức năng, nhiệm vụ là quản lý nhà nước toàn diện trên trên
địa bàn, tổ chức thực hiện những nghị quyết và quyết định của HĐND cùng cấp.
Trong thực hiện dân chủ XHCN ở cơ sở, UBND dưới sự lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng có
nhiệm vụ tổ chức thực hiện những chủ trương, biện pháp chủ yếu do HĐND xã đề ra nhằm bảo
đảm quyền làm chủ thực sự của nhân dân, nâng cao nhận thức và năng lực thực hành dân chủ cho
nhân dân. Đồng thời quản lý mọi hoạt động thực hiện dân chủ và QCDC ở cơ sở theo đúng quy
định của pháp luật.
Các tổ chức chinh trị - xã hội: Các tổ chức chính trị - xã hội trong HTCTCS bao gồm Ủy ban
MTTQ, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh... có chức năng chủ yếu
sau.
Tập hợp, củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tạo sự nhất trí về chính trị, tinh thần
của nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ thực sự của mình trong
thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước trên
địa bàn; bảo vệ, đại diện cho quyền lợi, ý chí của quần chúng, đại diện cho họ trong việc tham gia
xây dựng và giám sát Đảng, xây dựng và giám sát chính quyền. Tập hợp những kiến nghị của
nhân dân để phản ánh với Đảng và cơ quan Nhà nước cấp trên; chăm lo, bảo vệ quyền lợi và
nghĩa vụ chính đáng của nhân dân. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu của công
cuộc dân chủ hóa đời sống xã hội và yêu cầu của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN,
truyền bá để bảo vệ quyền tự do, dân chủ, bảo vệ lợi ích của đông đảo nhân dân lao động.
Ý thức dân chủ XHCN thường tồn tại dưới hai hình thức cơ bản: ý thức dân chủ xã hội và ý thức
dân chủ cá nhân; Ý thức dân chủ xã hội là ý thức về dân chủ của toàn xã hội, của một chính thể, một
quốc gia và nhà nước nhất định, giữ vai trò thống trị trong mọi hoạt động trong xã hội ấy. Ý thức
dân chủ cá nhân là của một con người cụ thể trong xã hội, mang sắc thái chủ quan của cá nhân ấy.
Nó bao gồm tri thức hiểu biết về dân chủ, tình cảm, thái độ đối với nền dân chủ của xã hội và sự
tuân thủ, chấp hành của họ đối với các nguyên tắc, quy định thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân
đối với thể chế, với nền dân chủ trong xã hội.
Năng lực thực hành dân chủ, chính là mức độ, chất lượng vận dụng tri thức dân chủ, sự tham gia
của con người vào các hoạt động công tác và giải quyết các mối quan hệ để thực hiện quyền dân
chủ, quyền làm chủ, thực hiện nghĩa vụ của mình trên thực tế; đồng thời qua đó sáng tạo ra các giá
trị dân chủ nhằm phục vụ bản thân và phục vụ lợi ích của tập thể, xã hội.
Thiết chế, cơ chế thực hiện dân chủ XHCN là hệ thống các tổ chức, hệ thống hiến pháp, pháp
luật và những quy định mang tính pháp lý đảm bảo cho dân chủ XHCN được thực hiện trên thực tế.
Hệ thống tổ chức đó không thể nào khác là các thiết chế trong HTCT xã hội chủ nghĩa, bao gồm
Đảng cộng sản, Nhà nước XHCN và các tổ chức chính trị - xã hội, hoạt động theo một cơ chế Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ.
Sự hình thành và phát triển của dân chủ XHCN gắn liền với sự ra đời và phát triển của chế độ
XHCN. Quá trình này có những đặc điểm sau:
Dân chủ XHCN là nấc thang phát triển về dân chủ ở trình độ cao nhất trong toàn bộ tiến trình
lịch sử nhân loại và tiến bộ xã hội cho đến ngày nay.
Sự hình thành và phát triển của XHCN và dân chủ XHCN trải qua một quá trình đấu tranh giai
cấp đầy gay go, phức tạp. Đối với các nước không qua chủ nghĩa tư bản trong đó có Việt Nam, thì
thời kỳ quá độ là thời kỳ cải tạo sâu sắc, triệt để mọi tàn dư của xã hội phong kiến trên mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội. Do vậy, việc xây dựng, hoàn thiện chế độ dân chủ XHCN là một quá trình lâu
dài, gian khổ gắn với công cuộc xây dựng CNXH đích thực, CNXH phát triển trên nền tảng của
chính nó.
của xã hội cũ và gắn với công cuộc xây dựng CNXH trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên ở nước ta
hiện nay, việc hiện thực hóa chế độ dân chủ XHCN trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đảm
bảo cho nhân dân lao động được phát huy quyền lực thực tế của mình là một vấn đề quan trọng
và cấp bách. Khâu quan trọng và cấp bách hiện nay là mở rộng và thực hiện dân chủ ở cơ sở,
nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Bởi vì:
Cơ sở, đặc biệt là ở xã, phường, thị trấn - nơi trực tiếp triển khai, thực hiện mọi chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Chỉ có thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân mới khơi dậy được tính tích cực, chủ động, tự giác của nhân dân tham gia thực
hiện những chủ trương, chính sách ấy, nhờ vậy mà trở thành hiện thực. Và chỉ khi công việc
của Nhà nước, của xã hội trở thành công việc của mọi người và mọi người tham gia thực hiện
thì chế độ chính trị mới thực sự có sức mạnh. Điều đó lại diễn ra thường xuyên, hàng ngày ở
chính cơ sở.
Việc thực hiện dân chủ XHCN ở cơ sở là xây dựng nền tảng của chế độ chính trị theo định
hướng XHCN. Chế độ chính trị ở nước ta thực chất là chế độ dân chủ của nhân dân lao động, trong
đó cơ bản là của công nhân, nông dân và trí thức. Nhân dân lao động làm chủ quyền lực nhà nước,
quyền lực xã hội trước hết và cơ bản là ở cơ sở, từ đó mới có thể làm chủ quyền lực ở phạm vi rộng
lớn hơn. Xây dựng chế độ dân chủ ở cơ sở là nền tảng cho xây dựng chế độ dân chủ của toàn bộ
HTCT ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Dân chủ ở cơ sở chủ yếu là thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp mặc dù có cả dân chủ đại diện.
Song dân chủ trực tiếp có vai trò rất quan trọng trong thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao
động. Bởi lẽ, chỉ trên cơ sở thực hiện tốt dân chủ trực tiếp mọi người mới có ý thức, thói quen, trách
nhiệm thực hiện dân chủ đại diện. Hơn nữa, khi cử tri đi bầu cử lựa chọn người đại diện cho mình là
tiền đề đầu tiên để có thể thực hiện được dân chủ đại diện.
Quyền lực, lợi ích của nhân dân được thực hiện thông qua những công việc thường xuyên, trực
tiếp ở cơ sở. Do vậy, nhân dân phải biết, bàn, làm và kiểm tra những công việc ấy mới có thể thực
hiện quyền lực và lợi ích của mình. Dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa thiết thực, cụ thể trong việc thực
hiện dân chủ xã hội.
Thực hiện dân chủ XHCN: Theo Đại từ điển tiếng Việt, thực hiện là làm cho trở thành
đầy đủ, toàn diện sâu rộng trong nhân dân về bản chất, nội dung, tính ưu việt của dân chủ XHCN,
về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, về ý thức và năng lực thực hành dân chủ cho nhân dân lao
động. Thông qua đó làm cho nhân dân hiểu được dân chủ XHCN là thành quả tất yếu của cách
mạng XHCN, là chế độ dân chủ cao nhất, tiên tiến nhất trong quá trình hình thành, phát triển của
các nền dân chủ trong lịch sử. Mà ở đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản mọi quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân, một nền dân chủ rộng rãi và triệt để nhất trên mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội. Để từ đó nhân dân tin tưởng “ chế độ dân chủ vô sản, so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào,
cũng dân chủ hơn gấp triệu lần” [23, tr.312]. Để nhân dân có khả năng nhận diện, phân biệt, cảnh
giác không hoang mang giao động, ngả nghiêng trước những khuynh hướng, quan điểm dân chủ sai
trái, vững tin vào sự nghiệp xây dựng nền dân chủ XHCN ở nước ta.
Mặt khác, thông qua tuyên truyền giáo dục về quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân như
quyền bầu cử, ứng cử, quyền tham gia vào quá trình quản lý nhà nước; quyền và nghĩa vụ lao
động, học tập; quyền sở hữu thừa kế tài sản, quyền khiếu lại, tố cáo; quyền được hưởng các chế
độ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe; quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, để nhân dân hiểu được rằng:
“quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Nhà nước bảo hộ các quyền của công
dân; công dân làm tròn nghĩa vụ của mình đối với nhà nước và xã hội. Quyền và nghĩa vụ công dân
do hiến pháp và pháp luật quy định” [35, tr.139]. Đồng thời thông qua giáo dục các nội dung trên
tạo ra cơ sở pháp lý để nhân dân nắm vững quyền hạn, nghĩa vụ của mình đối với xã hội, đối với đất
nước và các quyền lợi mà mình được hưởng. Từ đó biết bảo vệ các quyền lợi chính đáng, biết cách
tuân thủ theo pháp luật, tự do trên cơ sở tự giác, tôn trọng chấp hành nghiêm hiến pháp và pháp luật.
Tôn trọng và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mọi công dân.
Bên cạnh việc tuyên truyền, giáo dục về bản chất, nội dung dân chủ XHCN, HTCTCS còn tuyên
truyền, giáo dục cho nhân dân hiểu biết về những quan điểm tư tưởng, lý luận về dân chủ và dân
chủ XHCN của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, thái độ
đúng với đối với nền dân chủ XHCN và sự tuân thủ, chấp hành của nhân dân đối với các nguyên
tắc, quy định thực hiện các quyền, nghĩa vụ công dân đối với xã hội và nhà nước. Để nhân dân vận
dụng vào giải quyết các mối quan hệ nhằm thực hiện các quyền dân chủ, quyền làm chủ, thực hiện
nghĩa vụ của mình trên thực tế.
động của các đoàn thể xã hội để nhân dân bàn bạc, thống nhất, đóng góp ý kiến và thực hiện theo
chức trách, quyền hạn của mỗi công dân.
Thông qua việc cụ thể hóa những vấn đề dân biết, dân bàn, dân làm của HTCTCS nhằm phát
huy quyền làm chủ của nhân dân trong kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức thuộc HTCT cơ
sở; trong phát hiện, đấu tranh bài trừ các tệ nạn xã hội, nhất là đối với các tệ nạn quan liêu, tham ô,
tham nhũng, sách nhiễu nhân dân của một số người có chức có quyền. Để xây dựng các thành tố
của HTCTCS trong sạch, vững mạnh, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi các hiện tượng sai trái, vi phạm quyền làm chủ của công dân.
Đây là việc làm cần thiết và thường xuyên của HTCT, trong đó HTCTCS có vai trò quan trọng
trong việc bảo vệ dân chủ XHCN, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân lao động, bảo đảm cho quá
trình thực hiện dân chủ đúng định hướng XHCN và đạt hiệu quả cao. Bởi vì, thông qua đấu tranh
ngăn chặn, đẩy lùi các hiện tượng vi phạm quyền làm chủ của công dân để thanh lọc những phần tử
cơ hội, thoái hóa biến chất, quan liêu hách dịch... trong các tổ chức của HTCTCS, bảo đảm cho dân
chủ XHCN được thực hiện trên thực tế. Củng cố niềm tin của nhân dân lao động vào sự lãnh đạo
của Đảng, quản lý của Nhà nước, tin vào bản chất tốt đẹp của nền dân chủ XHCN mà chúng ta đang
xây dựng. Từ đó để nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình trong thực hiện các chương trình
phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương.
- Dân chủ XHCN được phát huy tạo điều kiện để xây dựng HTCTCS vững mạnh thực hiện tốt
chức năng, nhiệm vụ. Đây là sự thể hiện tác động trở lại của việc thực hiện tốt dân chủ XHCN đối
với quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của HTCTCS.
Dân chủ XHCN được thực hiện là cơ sở để xây dựng HTCTCS vững mạnh đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ. Bởi vì, dân chủ XHCN được thực hiện mà trước hết ở từng thành tố của HTCTCS sẽ tạo
nên sự vững mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác trên thực tế. Phát huy được trí tuệ, lòng
nhiệt tình và tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ cán bộ trong quán triệt, thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời phát huy được trí tuệ của tập thể
trong thảo luận xây, dựng nghị quyết lãnh đạo, chương trình hành động của các tổ chức trong
HTCTCS, từ đó động viên, tổ chức nhân dân thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách xây dựng,
phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước ở cơ sở.
xã hội chủ nghĩa hiện nay
1.2.1. Đặc điểm hệ thống chính trị cơ sở tỉnh Hà Nam
Vài nét về đặc điểm tình hình tỉnh Hà Nam: Tỉnh Hà Nam được thành lập ngày 20/10/1890
theo nghị định của toàn quyền Đông Dương. Trải qua 116 năm tồn tại với nhiều biến cố khác nhau,
gắn với quá trình phát triển đất nước, năm 1965 tỉnh Hà Nam và tỉnh Nam Định sát nhập thành tỉnh