Luận văn Tổ chức hoạt động ngoại khóa về chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông - Pdf 34

B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI

V TH HIN

Tổ CHứC HOạT ĐộNG NGOạI KHóA Về
CHủ QUYềN BIểN, ĐảO VIệT NAM TRONG DạY HọC LịCH Sử
ở TRƯờNG TRUNG HọC PHổ THÔNG

Chuyờn ngnh:

Lớ lun v phng phỏp dy hc lch s

Mó s:

60140111

LUN VN THC S KHOA HC GIO DC

Ngi hng dn khoa hc: GS. TS. Nguyn Th Cụi

H NI, 2014


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài .......................................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. ......................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. .......................................................... 9
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài. .............................................................................. 9
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. .......................................10

2.2. Nội dung lịch sử cần khai thác để tổ chức hoạt động ngoại khóa về chủ
quyền biển, đảo Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường THPT. ..................... 40
2.2.1. Những yêu cầu khi xác định nội dung lịch sử để tổ chức hoạt động ngoại khóa
về chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường THPT. ............... 40
2.2.1.1. Đảm bảo tính khoa học, chính xác. ........................................................ 40
2.2.1.2. Đảm bảo tính tư tưởng. .......................................................................... 40
2.2.1.3. Đảm bảo tính sư phạm. .......................................................................... 41
2.2.2. Nguồn tài liệu về chủ quyền biển, đảo Việt Nam ..................................... 41
2.2.2.1. Các sử gia Việt Nam .............................................................................. 41
2.2.1.2. Các tác giả nước ngoài. .......................................................................... 48
2.2.3. Nội dung lịch sử về chủ quyền biển, đảo Việt Nam. ................................ 51
2.2.3.1. Nội dung lịch sử về chủ quyền vùng biển Việt Nam. ............................ 51
2.2.3.2. Nội dung lịch sử về chủ quyền các quần đảo, hòn đảo chủ yếu ở vùng
biển Việt Nam. .................................................................................................... 55
CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP TỔ CHỨC MỘT SỐ HÌNH THỨC HOẠT
ĐỘNG NGOẠI KHÓA VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THPT. THỰC NGHIỆM SƢ
PHẠM ................................................................................................................. 76
3.1. Những yêu cầu khi lựa chọn phương pháp tổ chức các hình thức hoạt động
ngoại khóa về chủ quyền biển, đảo Việt Nam .................................................... 76

3


3.2. Phương pháp tổ chức một số hình thức hoạt động ngoại khóa về chủ quyền
biển, đảo Việt Nam.............................................................................................. 78
3.2.1. Tổ chức cho học sinh đọc sách và trao đồi, thảo luận. ............................. 78
3.2.2. Kể chuyện lịch sử. ..................................................................................... 82
3.2.3. Nói chuyện về lịch sử chủ quyền biển, đảo Tổ quốc. ............................... 87
3.2.4. Tổ chức cuộc thi viết về chủ đề “ Biển đảo quê hương” .......................... 89

Hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử là một hình thức tổ chức dạy học
đa dạng, trong đó học sinh đóng vai trò chủ thể tích cực nhận thức, khám phá
sáng tạo. Hoạt động ngoại khóa có tác dụng tích cực về mặt củng cố kiến
thức, giáo dục tư tưởng, tình cảm và phát triển toàn diện học sinh. Hoạt động
ngoại khóa mang tính tự nguyện, làm sâu sắc và phong phú thêm kiến thức
của học sinh trong giờ học nội khóa, tạo hứng thú học tập lịch sử. Đặc biệt là
những hoạt động ngoại khóa về nội dung có tinh thần giáo dục cao.

1


Việt Nam là một quốc gia biển với 3.260 km bờ biển, tổng diện tích những
vùng biển chủ quyền bao gồm những đảo, quần đảo, những vùng đặc quyền kinh
tế biển rộng gấp ba lần đất liền. Biển Việt Nam không chỉ chứa đựng những
tiềm năng kinh tế to lớn, là cửa ngõ để chúng ta mở rộng quan hệ quốc tế, mà
biển Việt Nam còn đóng vai trò quan trọng về an ninh quốc phòng, là địa bàn
chiến lược quan trọng trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong bối cảnh
quốc tế hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam cũng đang đối mặt với
những nguy cơ, thách thức mang tính khu vực và tính toàn cầu. Vì vậy, việc
trang bị cho hoc sinh những kiến thức về chủ quyền biển, đảo và giáo dục ý
thức, trách nhiệm về chủ quyền biển, đảo cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ cần thiết và
có ý nghĩa chiến lược.
Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn là công tác ngoại khóa lịch sử nói
chung, ngoại khóa về nội dung chủ quyền biển, đảo còn ít được các trường phổ
thông quan tâm và hiệu quả chưa cao. Do đó, ngoại khóa lịch sử chưa thực hiện
được vai trò của mình trong dạy học lịch sử.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “ Tổ chức hoạt
động ngoại khóa về chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong dạy học lịch sử ở
trường trung học phổ thông” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành lí luận
và phương pháp dạy học bộ môn lịch sử.

cung cấp những tư liệu khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa; vị trí, tầm quan trọng của hai quần đảo này đối với việc
phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng của nước ta; các giải pháp bảo vệ chủ
quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Cuốn sách đã khẳng
định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là một sự thật
lịch sử và hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế.
Cuốn “Biển và hải đảo Việt Nam”(3) của Ban Tuyên giáo Trung ương xuất
bản tại Hà Nội, 2007 đã cung cấp những nội dung cơ bản về quan điểm, chủ
trương, chính sách của Đảng và nhà nước, các tư liệu, tài liệu về biển, đảo Việt

3


Nam và quốc tế. Tài liệu đã khẳng định: “Biển có vai trò rất quan trọng đối với
sự phát triển và an ninh đối với các nước có biển nói riêng và của thế giới nói
chung”. [3, tr 41]. Vì vậy, việc bảo vệ quyền lợi biển là vấn đề có ý nghĩa chiến
lược đối với việc giữ gìn toàn vẹn chủ quyền quốc gia, giữ vũng ổn định chính
trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kì mở rộng quan hệ đối
ngoại và hội nhập quốc tế.
“Tài liệu tuyên truyền chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên Biển
Đông”(4) của Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Đắc Lắc, 2013 đã nhấn mạnh vị trí chiến
lược của biển, đảo nước ta; các văn bản pháp lý liên quan tới Biển Đông; tình
hình biển, đảo trong thời gian gần đây; quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta, đặc biệt là khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa và
Hoàng Sa.
Tác giả Nguyễn Quang Thắng trong cuốn: “ Trường Sa – Hoàng sa lãnh
thổ Việt Nam nhìn từ công pháp quốc tế”(49) đã trình bày rõ thực chất vấn đề
Trường Sa, Hoàng Sa như: Diễn biến vụ tranh chấp chủ quyền hai quần đảo;
Công pháp quốc tế và chủ quyền Trường Sa, Hoàng Sa; Sự thật lịch sử và vấn
đề pháp lí,… để chứng minh cho chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển này.

không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”.[ 14, tr 13)
Tác giả Phạm Hồng Binh trong bài viết “Phát huy sức mạnh tổng hợp bảo
vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam” (8), đăng trên tạp chí cộng sản số 81.2013 đã
đưa ra những giải pháp đồng bộ để phát huy có hiệu quả sức mạnh tổng hợp
trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam hiện nay.
2.2. Các công trình giáo dục học và giáo dục lịch sử viết về vấn đề tổ chức
hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử.
Trong cuốn “Giáo dục học”(16), Nhà xuất bản giáo dục, 1998, phần lí luận
dạy học có hệ thống các phương pháp giáo dục cho học sinh, các tác giả Đặng
Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ cho rằng: “Cùng với các hoạt động chính khóa của nhà

5


trường thì cần phải coi trọng hoạt động ngoại khóa cho học sinh. Đây là hình
thức đưa các em vào thực tiễn cuộc sống, hoạt động để từ đó tạo cho các em
thói quen, vốn sống và những hành vi văn minh”.
Trần Thị Tuyết Oanh trong cuốn “Giáo dục học” (60), Nhà xuất bản ĐHSP
Hà Nội, 2006 đã đề cập tới việc tăng cường các hoạt động hỗ trợ bài học lên lớp
trong đó có nói tới hoạt động ngoại khóa. Tác giả đã khẳng định: Người thầy
giáo vừa phải cố gắng dạy trên lớp đồng thời biết tổ chức các hoạt động khác
nhau trong dạy học, trong đó có hoạt động ngoại khóa cho học sinh.
Trong cuốn “Giáo dục học hiện đại”(56), Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội,
2001, tác giả Thái Duy Tuyên đã đề cập tới một số khía cạnh của hoạt động
ngoại khóa nhằm nâng cao chất lượng bài học ở nhà trường phổ thông.
Phan Ngọc Liên¸ Trần Văn Trị trong “Phương pháp dạy học lịch sử”(28),
nhà xuất bản giáo dục, 1980 đã nêu rõ: “ Mọi hoạt động đều nhằm thực hiện
mục tiêu đào tạo và phải thấu suốt nguyên lí giáo dục để thực hiện nội dung giáo
dục toàn diện. Vì vậy, chúng ta phải coi trọng hình thức giáo dục nội khóa và
hình thức giáo dục ngoaị khóa. Cả hai hình thức đều quan trọng, song hình thức

củng cố, làm sâu sắc tri thức lịch sử, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước và
phát huy năng lực nhận thức độc lập, phát triển hứng thú và rèn luyện năng lực
thực hành cho học sinh.
Tác giả Kiều Thế Hưng trong “Hệ thống các thao tác sư phạm trong dạy
học lịch sử ở trường THPT”, nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội, 2002 nhấn mạnh:
Cần hiểu rằng các hoạt động ngoại khóa nằm trong chương trình được quy định
chứ không phải là việc làm tùy tiện. Ngoại khóa không chỉ làm cho học sinh
hiểu sâu sắc hơn kiến thức đã học mà còn giúp các em vận dụng những kiến
thức thu được trong nhà trường vào cuộc sống. Tuy nhiên đây là công việc đòi
hỏi lòng nhiệt tình và khả năng hoạt động sáng tạo của đông đảo giáo viên quan
tâm tới vấn đề mang đặc trưng nghề nghiệp này.

7


Bên cạnh đó, nhiều bài viết có giá trị góp phần làm phong phú những vấn
đề về lí luận và thực tiễn của công tác ngoại khóa lịch sử cũng được đề cập trên
nhiều tạp chí.
Trong bài “Thực hành trong bộ môn lịch sử”, tạp chí NCGD số 6.1994, các
tác giả Trần Đức Minh, Đặng Công Lộng đã khẳng định: Lịch sử là một khoa
học gắn liền với cuộc đấu tranh xã hội và phục vụ tốt các nhiệm vụ chính trị. Vì
vậy, trong dạy học lịch sử cần kết hợp học với hành thông qua các biện pháp
thực hành bộ môn, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống,
rèn luyện những năng lực độc lập, sáng tạo của học sinh.
Tác giả Ngọc Anh trong bài viết “Câu lạc bộ em yêu lịch sử - một sân chơi
bổ ích”(2), Báo giáo dục và thời đại, số 9/2007 đã đề cập đến việc phối hợp giữa
ngành giáo dục với bảo tàng cách mạng Việt Nam trong việc phát huy chức
năng giáo dục của bảo tàng đặc biệt là giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc. Từ
đó, thu hút các em say mê tìm hiểu lịch sử, tự hào về truyền thống cha ông và
phát huy truyền thống đó trong cuộc sống đương đại.

* Phạm vi điều tra và thực nghiệm sư phạm.
- Điều tra: một số trường THPT trên địa bàn Thái Bình.
- Thực nghiệm một hình thức ngoại khóa mang tính tổng hợp là “Dạ hội
lịch sử” ở trường THPT Đông Tiền Hải – Thái Bình.
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
4.1. Mục đích.
Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức hoạt động ngoại
khóa về chủ quyền biển, đảo, đề tài xác định những nội dung lịch sử về chủ
quyền biển, đảo của nước ta và đề xuất phương pháp tổ chức một số hình thức
ngoại khóa trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

9


4.2. Nhiệm vụ.
Để thực hiện mục đích nêu trên, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ
cụ thể sau:
- Tìm hiểu các vấn đề lí luận cơ bản về việc tổ chức hoạt động ngoại khóa
trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
- Tiến hành điều tra thực tiễn việc tổ chức hoạt động ngoại khóa lịch sử ở
trường THPT nói chung và tổ chức hoạt động ngoại khóa về chủ quyền biển,
đảo Việt Nam nói riêng.
- Xác định những nội dung lịch sử viết về chủ quyền biển, đảo nước ta cần
tổ chức hoạt động ngoại khóa để phổ biến kiến thức cho học sinh.
- Xác định những yêu cầu phải thực hiện và đề xuất phương pháp tổ chức
một số hình thức ngoại khóa về chủ quyền biển, đảo cho học sinh THPT.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định những biện pháp sư phạm
mà tác giả đưa ra mang tính khả thi.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
5.1. Cơ sở phương pháp luận.

- Đề xuất phương pháp tiến hành một số hình thức hoạt động ngoại khóa
về chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
8. Ý nghĩa của đề tài
8.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm phong phú thêm lí luận dạy
học bộ môn về việc tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử ở
trường THPT.

11


8.2. Về thực tiễn
- Nghiên cứu đề tài giúp bản thân hiểu được những nét cơ bản về thực tiễn
dạy học lịch sử ở trường THPT hiện nay, để có thể vận dụng lí luận đã nghiên cứu
vào việc dạy học sau này. Đồng thời giúp giáo viên phổ thông có nguồn tài liệu để
tổ chức hoạt động ngoại khóa về chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho sinh viên sư phạm.
9. Cấu trúc luận văn.
Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm ba chương:
Chương 1: Vấn đề tổ chức hoạt động ngoại khóa về chủ quyền biển, đảo Tổ
quốc trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông. Lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Xác định nội dung lịch sử về chủ quyền biển, đảo Việt Nam để
tổ chức hoạt động ngoại khóa trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
Chương 3: Phương pháp tổ chức một số hình thức hoạt động ngoại khóa về
chủ quyền biển đảo Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường THPT. Thực
nghiệm sư phạm.

12



một cách có tổ chức, có mục đích theo kế hoạch của nhà trường; là hoạt động
tiếp nối và thống nhất hữu cơ với hoạt động học tập trên lớp, nhằm hình thành
và phát triển học sinh theo mục tiêu đào tạo, đáp ứng những yêu cầu đa dạng của
xã hội đối với thế hệ trẻ.
Như vậy, Tổ chức hoạt động ngoại khóa là một hình thức tổ chức dạy học
nằm ngoài chương trình học chính khóa, kết hợp dạy - học với vui chơi nhằm
mục đích gắn việc giảng dạy, học tập trong nhà trường với thực tế xã hội. Đây là
một trong những mảng hoạt động giáo dục quan trọng ở nhà trường phổ thông
để phát triển toàn diện học sinh. Tổ chức hoạt động ngoại khóa góp phần phát
triển và hoàn thiện nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng tạo của
học sinh.
1.1.1.2. Khái niệm chủ quyền biển, đảo.
Khái niệm “chủ quyền biển, đảo” nằm trong khái niệm “chủ quyền lãnh
thổ quốc gia”
Theo “Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông”: “Chủ quyền quốc gia là
quyền cao nhất của một dân tộc, một quốc gia độc lập, tự mình làm chủ đất đai,
tự mình quyết định vận mệnh của dân tộc mình. Những nội dung này được
khẳng định trong pháp luật mỗi nước, trong văn bản pháp lí quốc tế, là nguyên
tắc cơ bản cần tuân theo” [31, tr.104].
“Chủ quyền lãnh thổ quốc gia” là quyền tối cao tuyệt đối, hoàn toàn và
riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình. Quyền tối cao
của quốc gia đối với lãnh thổ là quyền quyết định mọi vấn đề của quốc gia đối
với lãnh thổ, đó là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Quốc gia có quyền đặt
ra quy chế pháp lí đối với lãnh thổ. Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước có
quyền sử dụng và định đoạt đối với lãnh thổ thông qua hoạt động của các cơ
quan Nhà nước như các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.

14



Bản chất pháp lý: Luật biển coi lãnh hải như một “lãnh thổ chìm”, một bộ
phận hữu cơ của lãnh thổ quốc gia, trên đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm
quyền riêng biệt về phòng thủ quốc gia, về cảnh sát, thuế quan, đánh cá, khai
thác tài nguyên thiên nhiên, đấu tranh chống ô nhiễm như quốc gia đó tiến hành
trên lãnh thổ của mình. “Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra
ngoài lãnh thổ và nội thuỷ của mình,… đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh
hải”. Tuy nhiên, chủ quyền dành cho quốc gia ven biển trên lãnh hải không phải
là tuyệt đối như trên các vùng nước nội thuỷ, do sự thừa nhận quyền đi qua
không gây hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải.
Như vậy, ranh giới ngoài của lãnh hải là đường chay song song với đường
cơ sở và cách đều đường cơ sở một khoảng cách tối đa là 12 hải lý. Ranh giới
ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển.
* Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với
lãnh hải. Phạm vi vùng tiếp giáp lãnh hải không vượt quá 24 hải lí tính từ đường
cơ sở. Điều 33 về Công ước Luật biển năm 1982 quy định: “Vùng tiếp giáp
không thể mở rộng quá 24 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của
lãnh hải”. Tuyên bố của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày
12.5.1977 cũng nêu rõ: “ Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt Nam có chiều
rộng là 12 hải lí hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lí
kể từ đường cơ sở để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam” [9, tr 124]
* Vùng đặc quyền kinh tế: là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và tiếp liền
với lãnh hải, có phạm vi rộng không vượt quá 200 hải lí tính từ đường cơ sở.
Như vậy phạm vi lãnh hải rộng 12 hải lí bên trong vùng đặc quyền kinh tế, nên
chiều rộng riêng của vùng đặc quyền kinh tế là 188 hải lí. Vùng đặc quyền kinh
tế bao gồm trong nó cả vùng tiếp giáp lãnh hải.

16



chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia nhất là trong tình hình hiện nay vấn đề
bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia, bảo vệ chủ quyền biển, đảo đang có nhiều
diễn biến phức tạp.
Ví dụ: + Từ tháng 2/ 1979 đến năm 1986 đã diễn ra cuộc chiến tranh xung
đột quân sự trên vùng biên giới các tỉnh biên giới phía Bắc (Hà Giang, Cao
Bằng, Lạng Sơn…), hay tình hình trên Biển Đông trong những năm gần đây
diễn ra rất phức tạp, nhất là trên 2 quần đảo: Trường Sa và Hoàng Sa,…
Vì vậy, trong Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định lãnh thổ Việt Nam gồm
“đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng
và bất khả xâm phạm”.
Tại Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa X đã nhận
định “Chúng ta phải tiến hành xây dựng và phát triển đồng bộ trên tất cả các lĩnh
vực của đất nước, củng cố tiềm lực quốc phòng – an ninh nhằm bảo vệ vững
chắc, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trong đó có biển, đảo của Tổ quốc. Thường
xuyên tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục kiến thức quốc phòng – an
ninh, chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo Việt Nam cho toàn dân nhất là học sinh –
sinh viên là rất quan trọng trong giai đoạn cách mạng hiện nay”.
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định mục tiêu, nhiệm
vụ phát triển của đất nước giai đoạn 2011 – 2015 là “ Tăng cường tiềm lực quốc
phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, độc lập, chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ ngăn chặn làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn chống phá
của các thế lực thù địch”.
Tình hình, mục tiêu phát triển của đất nước đặt ra những yêu cầu lớn đối
với giáo dục. Lượng tri thức của loài người ngày càng tăng nhanh. Mặt khác, thị
trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở nguồn nhân lực về năng lực hành
động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc,

18



của công dân trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đó là: năng lực hành
động, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử và năng lực tự khẳng định.
Như vậy, bộ môn lịch sử có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục học sinh,
thể hiện ở 3 mặt sau:
- Về kiến thức: Giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản của lịch
sử thế giới và lịch sử dân tộc, từ đó làm cơ sở cho việc hình thành thế giới quan
khoa học, giáo dục thái độ đúng đắn, các kĩ năng, kĩ xảo cần thiết.
- Về kĩ năng: rèn luyện kĩ năng tư duy biện chứng trong học tâp và hành
động, từ đó rút ra kết luận, phân tích, tổng hợp, đánh giá sự kiện, hiện tượng, kĩ
năng tự học, thực hành bộ môn. Đồng thời, giúp các em vận dụng những kiến
thức lịch sử đã học vào cuộc sống hiện nay.
- Về thái độ: Giáo dục cho các em truyền thống tốt đẹp của lịch sử dân tộc
qua quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước trong thời đại mới, bồi
dưỡng tinh thần đoàn kết quốc tế. Đồng thời, giúp các em có ý thức công dân,
sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quốc tế, hình thành những phẩm chất cần thiết trong
cuộc sống cộng đồng.
Như vậy, môn lịch sử không chỉ trang bị một vốn kiến thức cần thiết về lịch
sử dân tộc và lịch sử thế giới mà còn phát triển những kĩ năng cần thiết và bồi
dưỡng lòng yêu quê hương, đất nước, tinh thần tôn trọng các giá trị lịch sử văn
hóa nhân loại, hình thành nhân cách và bản lĩnh con người, ý thức trách nhiệm
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổ chức hoạt động ngoại khóa về
chủ quyền biển, đảo Việt Nam là việc làm thiết thực góp phần thực hiện chức
năng, nhiệm vụ bộ môn.
1.1.2.3. Nguyên lí giáo dục của Đảng.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thời đại công nghệ thông
tin thì tiềm lực trí tuệ con người là điều quý báu nhất. Làm thế nào để phát huy

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status