ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA
VẤN ĐỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
QUA MỘT SỐ BÁO ĐIỆN TỬ ANH NGỮ
(KHẢO SÁT BÁO THANH NIÊN ONLINE VÀ NHÂN DÂN ĐIỆN
TỬ TỪ NĂM 2011 ĐẾN NAY)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Báo chí học
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về những lời cam đoan của mình. Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2013
Học viên
Nguyễn Thị Quỳnh Nga
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo
trong Khoa Báo chí và Truyền thông – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã
truyền dạy cho tôi những kiến thức, những kỹ năng cần thiết trong quá trình
theo học bậc Đại học và Cao học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Phạm Thành
Hưng, giảng viên hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này. Thầy đã
tận tâm chỉ bảo, định hướng cho tôi về mặt lý luận và phương pháp nghiên
cứu, đồng thời gợi mở những kiến thức khoa học mới để tôi áp dụng vào luận
văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các phóng viên báo mạng điện tử Nhân Dân
công tác thông tin đối ngoại về chủ quyền biển đảo Việt Nam 20
1.3 Tầm quan trọng của báo điện tử Anh ngữ trong công tác thông
tin đối ngoại về chủ quyền biển đảo Việt Nam 25
CHƢƠNG 2
KHẢO SÁT THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO
VIỆT NAM QUA HAI TỜ BÁO ĐIỆN TỬ ANH NGỮ NĂM 2011-2013 29
2.1 Nội dung thông tin về tuyên truyền biển đảo trên báo điện tử Anh
ngữ 29
2.1.1 Những vấn đề lịch sử truyền thống 35
2.1.2 Thông tin về tình hình hiện tại liên quan đến chủ quyền
biển đảo 42
2.1.3 Quan niệm và giải pháp quốc tế 61
2.2 Các hình thức chuyển tải thông tin về chủ quyền biển đảo trên
hai tờ báo điện tử Anh ngữ 67
2
2.2.1 Các thể loại báo chí 68
2.2.2 Cách thức sản xuất tin bài 71
2.3 So sánh thông tin đối ngoại và thông tin đối nội về chủ quyền
biển đảo Việt Nam 77
2.4 So sánh thông tin đối ngoại của Việt Nam và Trung Quốc về
chủ quyền biển đảo 80
CHƢƠNG 3
ĐÁNH GIÁ VÀ HƢỚNG GIẢI PHÁP VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO TỪ
GÓC NHÌN THÔNG TIN ĐỐI NGOẠI 85
3.1 Những khó khăn và thách thức mà công tác thông tin đối ngoại
bằng báo điện tử Anh ngữ đặt ra 85
3.2 Thành tựu đạt đƣợc của thông tin đối ngoại về chủ quyền biển
đảo 88
3.3 Hạn chế, tồn tại của thông tin đối ngoại về chủ quyền biển đảo 91
4
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1. Biểu đồ 1: Tỉ lệ phân chia bài viết chia theo nội dung về chủ quyền biển
đảo trên chuyên trang tiếng Anh của báo Nhân Dân điện tử từ tháng 1/2011
đến tháng 7/2013.
2. Biểu đồ 2: Tỉ lệ phân chia bài viết chia theo nội dung về chủ quyền biển
đảo trên chuyên trang tiếng Anh của báo Thanh Niên online từ tháng 1/2011
đến tháng 7/2013.
3. Biểu đồ 3: Số lƣợng bài viết về chủ quyền biển đảo trên trang tiếng Anh
của báo Nhân Dân điện tử và Thanh Niên online từ tháng 1/2011 đến tháng
6/2013 (theo quý).
4. Bảng 2.1: Bảng số liệu thể hiện tỉ lệ tham gia của các thể loại báo chí về
nội dung chủ quyền biển đảo trên hai tờ Thanh Nien News và Nhan Dan
Newspaper từ tháng 1/2011 đến tháng 7/2013.
nguyên, khoáng sản, du lịch, thông tin liên lạc… Biển còn là “phên hậu” che
chắn bảo vệ đất liền, là kho lƣu giữ các bí mật của quá khứ, ghi nhận những
trang sử hào hùng về các cuộc chiến tranh giữ nƣớc và lịch sử dựng nƣớc.
Biển thực sự là bộ phận, là lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam, là di
sản thiêng liêng của dân tộc, là chỗ dựa tinh thần và vật chất của ngƣời dân.
Song đây cũng là khu vực có nhiều nguy cơ gây mất ổn định, uy hiếp chủ
quyền và lợi ích quốc gia.
Với nhiều ý nghĩa lớn lao nhƣ vậy, việc xác lập và bảo vệ CQBĐ từ lâu
đã là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, đòi hỏi một quá trình đấu tranh mạnh
mẽ, kiên trì và khôn khéo của toàn Đảng toàn dân. Trong những năm qua,
công cuộc đấu tranh về CQBĐ đã đạt đƣợc không ít kết quả khả quan. Tuy
nhiên sau thành tựu kí kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông –
DOC
1
, Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ
2
, vấn đề biên giới lãnh thổ trên biển
vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Những mâu thuẫn, tranh chấp cũ chƣa đƣợc
tháo gỡ, giải quyết, thậm chí còn leo thang, bùng nổ gay gắt, trở thành điểm
nóng trong đời sống chính trị, xã hội thế giới.
Hiện tại, Việt Nam vẫn đang tiến hành giải quyết song song hai loại
tranh chấp chủ yếu. Một là những tranh chấp chủ quyền các đảo mà điểm
nóng nhất là hai quần đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa. Hai là những tranh chấp
ranh giới giữa các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn trên biển Đông. Tuy
nhiên tính phức tạp đan xen giữa tranh chấp đa phƣơng, song phƣơng và hàng
________________________
1
Ký kết ngày 04-11-2002 tại Phnom Penh, Campuchia nhân dịp Hội nghị thƣợng
đỉnh ASEAN lần thứ 8, giữa các nƣớc ASEAN và Trung Quốc.
2
tiến công đầu tiên” trên mặt trận bảo vệ Tổ quốc. Nghiên cứu vấn đề chủ
quyền biển đảo trên các trang báo điện tử Anh ngữ từ góc nhìn TTĐN là một
8
hƣớng nghiên cứu cần thiết và hứa hẹn hiệu quả báo chí học. Đề tài chủ
quyền biển đảo trên báo điện tử Anh ngữ nếu đƣợc thực hiện tốt theo hƣớng
tiếp cận TTĐN sẽ cung cấp cho chúng ta một cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn
về thực tiễn hoạt động báo chí Việt Nam đƣơng đại. Đề tài nghiên cứu đó có
thể chỉ ra những ƣu điểm cần phát huy và những hạn chế cần khắc phục, góp
thêm một tiếng nói “tƣ vấn” cho hoạt động TTĐN trên mặt trận báo chí thực
sự hiệu quả, chất lƣợng.
Đó cũng chính là lí do tác giả chọn đề tài “Vấn đề chủ quyền biển đảo
Việt Nam qua một số báo điện tử Anh ngữ” qua việc khảo sát chuyên trang
tiếng Anh của hai tờ báo mạng điện tử: báo Thanh Niên online
(thanhniennews.com), và báo Nhân Dân điện tử (en.nhandan.org.vn) làm luận
văn tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tranh chấp CQBĐ là vấn đề lịch sử do vậy các tài liệu nghiên cứu về
vấn đề này cũng rất phong phú đa dạng. Có thể kể đến một số tác phẩm nổi
bật nhƣ “Cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo
Hoàng Sa – Trường Sa” (tác giả Trần Văn Kha, năm 1984); “Cuộc tranh
chấp Việt – Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” (tác giả Lƣu
Văn Lợi, năm 1995); “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa” (TS Nguyễn Nhã, năm 2003); “Biển Đông và
hải đảo Việt Nam” (nhiều tác giả, tháng 7/2010), “Bằng chứng lịch sử và cơ
sở pháp lý: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” (nhiều tác giả, năm
2011), “Hoàng Sa – Trường Sa: hỏi và đáp” (tác giả Trần Nam Tiến, năm
2011), “Người Việt với biển” (Nguyễn Văn Kim chủ biên, NXB Thế giới,
2011);“Biển và đảo Việt Nam, mấy lời hỏi – đáp” (tác giả: nhóm khảo sử
Nam Bộ kết hợp với Trung tâm nghiên cứu biển và đảo trƣờng Đại học Khoa
đặc biệt trong bối cảnh tranh chấp biển Đông đang diễn biến phức tạp nhƣ
hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, phân tích, nghiên cứu những vấn đề lý luận và
thực tiễn về hoạt động TTĐN về vấn đề CQBĐ Việt Nam trên một số tờ báo
điện tử Anh ngữ, luận văn sẽ nêu bật thực trạng về cách sản xuất, hình thức và
nội dung TTĐN của báo chí trong nƣớc. Từ đó, luận văn sẽ chỉ ra những
thành tựu đã đạt đƣợc, những hạn chế còn tồn tại và gợi mở hƣớng khắc phục,
nâng cao chất lƣợng, hiểu quả.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận văn phân tích thực trạng, khẳng định và lý giải những thành
công và hạn chế của hoạt động TTĐN trên báo mạng điện tử Anh ngữ từ góc
nhìn nghiệp vụ báo chí, qua hai tờ báo mạng lớn: Thanh Niên online (Thanh
Nien News) và Nhân Dân điện tử (Nhan Dan Newspaper), trên cơ sở đó đề
xuất một số giải pháp để nâng cao chất lƣợng TTĐN Việt Nam.
- Nêu bật tầm quan trọng của công tác thông tin đối ngoại, đặc biệt là
báo chí đối ngoại về CQBĐ, hƣớng tới khái quát thực tế hoạt động truyền
thông đối ngoại của báo chí Anh ngữ về CQBĐ Việt Nam.
- So sánh TTĐN và thông tin đối nội của báo chí nƣớc ta bên cạnh việc
so sánh TTĐN của một số nƣớc châu Á có thể chế chính trị cũng nhƣ tranh
chấp biển đảo tƣơng tự để từ đó rút ra những bài học và kinh nghiệm đối
ngoại về mặt thông tin.
- Tìm hiểu chủ trƣơng, các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nƣớc
trong công tác TTĐN về CQBĐ trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
11
Công tác TTĐN về biển đảo Việt Nam hiện nay là một nhiệm vụ quan
nguồn tài liệu có liên quan.
- Phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng: thống kê số liệu, vẽ biểu đồ,
bảng biểu. Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu này nhƣ những thao
tác bổ trợ cho nghiên cứu định tính (qualitative research) – một phƣơng pháp
nghiên cứu chủ đạo, đƣợc thực hiện thông qua các nghiên cứu trƣờng hợp,
tiến tới khái quát hóa, hệ thống hóa các thuộc tính của đối tƣợng khảo sát.
- Phƣơng pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn những ngƣời phụ trách cũng
nhƣ biên tập viên tiếng Anh của hai tờ báo về cách thức sản xuất tin bài và
các vấn đề liên quan.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
- Luận văn trong quá trình triển khai thực hiện chính là một cơ hội
thuận lợi cho ngƣời viết củng cố và vận dụng lý thuyết cùng hệ thống quan
điểm báo chí của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam về TTĐN. Hy vọng rằng luận
văn còn có ý nghĩa đóng góp, bổ sung vào kho tàng lý luận về công tác TTĐN
nói chung và hoạt động TTĐN về CQBĐ nói riêng.
- Nội dung của luận văn cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo ít
nhiều hữu ích cho việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn cung cấp cái nhìn toàn diện và đa chiều về hoạt động TTĐN
trên lĩnh vực CQBĐ Việt Nam, làm cơ sở cho hoạt động TTĐN tiếp theo.
- Luận văn cũng đƣa ra những định hƣớng cho việc làm tin đối ngoại
bằng Anh ngữ trên các tờ báo mạng điện tử, để có những chiến lƣợc ƣu việt
13
cho loại hình báo chí này để đạt hiệu quả cao nhất với những đối tƣợng đặc
thù hƣớng đến.
- Luận văn góp phần định hƣớng giải quyết những căng thẳng trong bối
cảnh xung đột chủ quyền lãnh hải tại biển Đông nhƣ hiện nay bằng báo chí
đối ngoại ứng với những chủ trƣơng đối ngoại của Đảng và Nhà nƣớc ta.
quyền dân tộc đƣợc quan tâm nhƣ hiện nay, TTĐN có ý nghĩa vô cùng to lớn.
1.1.1 Khái niệm Thông tin đối ngoại
● Khái niệm “thông tin”
“Thông tin” là một từ đa nghĩa. Trong tiếng Latinh, “thông tin”
(information) nghĩa là thông báo, giải thích, tóm tắt. Thông tin là bất kì một
chi tiết hoặc một thông báo mà ai đó quan tâm. Thông tin cũng có thể là
những thông báo về đối tƣợng và những hiện tƣợng xảy ra xung quanh chúng
ta, về những thông số, bản chất và tình trạng của chúng, những điều mà hệ
thống thông tin (máy móc, con ngƣời) đã truyền tải lại trong công việc, cuộc
sống.
15
Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa “thông tin”: 1) Danh từ: 1. Tin tức
đƣợc truyền đi cho biết. Ví dụ: Theo thông tin mới nhận đƣợc. 2. Tin tức về
các sự kiện diễn ra về trong thế giới xung quanh. Ví dụ: Bài viết có nhiều
thông tin mới. Khắc phục tình trạng thiếu thông tin. 2) Động từ: truyền tin cho
nhau biết, điều đƣợc truyền đi cho biết tin truyền đi. Thông tin còn đƣợc hiểu
là sản phẩm của bộ óc con ngƣời trong quá trình giao tiếp, phản ánh thế giới
từ đơn giản đến phức tạp.
Từ các khái niệm khác nhau về “thông tin” nếu trên, có thể rút ra và
thống nhất khái niệm mang tính phổ biến và phù hợp nhất về thông tin, đó là:
Thông tin là tri thức, thông báo, tri thức về một sự vật hay hiện tượng được
chứa đựng trong các hình thức nhất định, được tiếp nhận, lựa chọn và sử
dụng qua các phương thức thích hợp.
● Khái niệm “Thông tin đối ngoại”
Cho đến nay chƣa có định nghĩa thống nhất về TTĐN.
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học ấn hành năm 2002 nêu ngắn
gọn hai khái niệm đơn lẻ: “thông tin” là truyền tin cho nhau để biết, “đối
ngoại” là đối với nƣớc ngoài, bên ngoài; đƣờng lối, chính sách, sự giao thiệp
của nhà nƣớc, của một tổ chức. Theo đó, trong cuốn Báo chí và Thông tin đối
sinh sống, làm việc ở nƣớc ngoài về hình ảnh đất nƣớc, văn hóa, con ngƣời
Việt Nam, đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách, thành tựu, tiềm lực, lợi
thế…của Việt Nam. Mục tiêu của hoạt động TTĐN là đem lại sự hiểu biết, tin
cậy, sẵn sàng hợp tác, trao đổi có hiệu quả nhiều mặt đời sống xã hội với tất
cả các đối tác, dựa trên cơ sở pháp luật quốc tế, pháp luật các nƣớc tham gia
vào mối quan hệ và vì mục đích hòa bình, các bên đều có lợi và sự phát triển
bền vững về khu vực, thế giới.
17
1.1.2 Khái niệm biển đảo Việt Nam và chủ quyền biển đảo Việt Nam
● Khái niệm “Biển”
Trong Từ điển tiếng Việt, “biển” đƣợc định nghĩa là: 1) Danh từ: 1.
Vùng nƣớc mặn rộng lớn trên bề mặt Trái Đất. 2. Phần đại dƣơng ven lục địa
đƣợc ngăn cách bởi đảo hay đất liền. 3. Khối lƣợng nhiều, đông đảo, đƣợc ví
nhƣ biển. Ví dụ: Mọi thứ chìm trong biển lửa.
Theo định nghĩa thông dụng, biển là phần riêng biệt của đại dƣơng ăn
sâu vào đất liền ít hay nhiều.
● Khái niệm “đảo” và “quần đảo”
Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 quy định về đảo ở
điều 121 nhƣng không có quy định riêng về quần đảo. Theo đó, đảo là một
vùng đất tự nhiên có nƣớc bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên
mặt nƣớc (khoản 1 điều 121 Công ước). Điểm b điều 46 Công ước quy định:
quần đảo là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng
nƣớc tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ
đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính
trị hay đƣợc coi nhƣ thế về mặt lịch sử [20, tr.52]. Về mặt pháp lý, các đảo,
quần đảo thuộc chủ quyền của một quốc gia đƣợc coi giống nhƣ đất liền.
Trong trƣờng hợp đảo hay quần đảo gần bờ, luật quốc tế cho phép kéo theo
đƣờng cơ sở đi qua các đảo ngoài cùng để vạch đƣờng cơ sở thẳng cho nƣớc
ven biển, từ đó đề ra bề rộng của lãnh hải. Nhờ các đảo gần bờ, vùng nƣớc nội
bờ và hai quần đảo Hoàng Sa, Trƣờng Sa. Đảo ven bờ chủ yếu nằm ở vịnh
Bắc Bộ; đảo nổi của nƣớc ta có diện tích khoảng 1.700 km
2
, trong đó có ba
đảo diện tích lớn hơn 100 km
2
(Phú Quốc, Cát Bầu, Cát Bà), có 23 đảo diện
tích lớn hơn 10 km
2
, có 82 đảo diện tích lớn hơn 1 km
2
và khoảng trên 4.000
hòn đảo chƣa có tên.
● Khái niệm “chủ quyền biển đảo Việt Nam”
Cũng trong Công ước Liên Hợp Quốc về luật biển năm 1982, “chủ
quyền (sovereignty)” đƣợc định nghĩa là quyền tối thượng của quốc gia trong
việc thực hiện quyền đối nội và đối nội và đối ngoại của mình. Nói cách khác
chủ quyền quốc gia là sự thể hiện quyền lực một cách hoàn toàn và đầy đủ
của quốc gia trong cả lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp trên toàn bộ
lãnh thổ của mình mà không bị hạn chế bởi ảnh hưởng của bất cứ quốc gia
nào khác.
Còn theo quan niệm truyền thống, chủ quyền quốc gia đƣợc hiểu là: thứ
nhất, sự bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và thứ hai, sự toàn vẹn về chủ quyền, an
ninh quốc gia nghĩa là đất nƣớc không bị lâm nguy tiến công, đe dọa từ các
lực lƣợng bên ngoài bằng sức mạnh quân sự.
Từ những quan điểm khác nhau về chủ quyền quốc gia nói trên, có thể
hiểu chủ quyền quốc gia theo nghĩa chung nhất là một khái niệm chính trị,
pháp lý dùng để chỉ quyền cơ bản, thiêng liêng, bất khả xâm phạm của quốc
19
soạn điện tử mà người ta đọc nó trên máy tính, điện thoại di động, máy tính
bảng khi có kết nối internet. Các tờ báo này phải hợp pháp, tức là đƣợc cấp
phép bởi một cơ quan chức năng của nhà nƣớc sở tại, và phải có cơ quan chủ
quản cụ thể.
Qua đó, có thể hiểu rằng báo điện tử Anh ngữ là các tờ báo điện tử
chuyển tải thông tin đến ngƣời đọc bằng ngôn ngữ tiếng Anh nói chung. Tại
Việt Nam, trong trƣờng hợp mà chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát, chính là
những chuyên trang tiếng Anh của các tờ báo điện tử Việt Nam.
Nhƣ vậy, TTĐN trên báo điện tử Anh ngữ đã đảm nhiệm công tác
tuyên truyền, truyền tải thông tin về CQBĐ Việt Nam đến các đối tƣợng, cá
nhân và tổ chức trong và ngoài nƣớc qua các chuyên trang tiếng Anh của các
tờ báo điện tử Việt Nam nhằm nâng cao nhận thức nhằm thay đổi thái độ và
hành vi của những đối tƣợng này.
Nhờ những ƣu thế nổi bật so với các loại hình báo chí khác, báo điện tử
thực sự ƣu việt trong việc thực hiện công tác TTĐN của bất kì quốc gia nào.
Bên cạnh đó, với việc chuyển tải bằng tiếng Anh, những đối tƣợng và địa bàn
mà TTĐN hƣớng tới sẽ đƣợc nhân lên nhiều lần.
1.2 Quan điểm, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về
công tác thông tin đối ngoại về chủ quyền biển đảo Việt Nam
Từ xƣa đến nay, chủ quyền quốc gia là bất khả xâm phạm, bảo vệ chủ
quyền là mối quan tâm hàng đầu, là nhiệm vụ sống còn của nhân dân và lãnh
đạo quốc gia.
Trong lịch sử, Việt Nam đã nhiều phen đối mặt với giặc ngoại xâm,
chịu ách thống trị của thế lực phong kiến, thực dân, đế quốc, tuy nhiên điều
đó chỉ càng khẳng định và củng cố truyền thống yêu nƣớc, quyết tâm giữ
21
vững chủ quyền, biên giới lãnh thổ. Trải qua những năm tháng chiến tranh,
nhân dân ta càng hiểu rõ giá trị của chủ quyền dân tộc, luôn nâng cao tinh
thần đấu tranh bảo vệ biên giới lãnh thổ, giống nhƣ lời chủ tịch Hồ Chí Minh