ĐẠI HỌC SƯ PHẠM- ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
KHOA LỊCH SỬ
Bài tiểu luận: CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO VIỆT NAM
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016.
1
MỤC LỤC
2
MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia ven biển có bờ biển dài trên 3.200km, có các
vùng biển và thềm lục địa khoảng một triệu km 2, gần 3.000 đảo nằm rải rác
trên biển Đông từ bắc chí nam, bao gồm các đảo ven bờ và hai quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa nằm giữa biển. Biển và đảo ngày càng có vai trò quan
trọng về nhiều mặt kinh tế, quân sự, chính trị… Vì vậy, lịch sử phát triển của
đất nước ta luôn gắn chặt với việc bảo vệ các vùng biển và hải đảo thuộc chủ
quyền của đất nước.
Hơn nữa, việc sử dụng, khai thác biển là truyền thống lâu đời của dân
tộc Việt Nam. Ngay từ buổi hoang sơ, qua những truyền thuyết của thời đại
Hùng Vương (Lạc Long Quân – Âu Cơ, Mai An Tiêm, Tiên Dung – Chử
Đồng Tử…) đã cho thấy nhân dân ta từ lâu đã biết khai thác, sử dụng lợi thế
của biển và đảo. Trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử mấy ngàn
năm, dân tộc Việt Nam và các nhà nước kế tục quản lý đất nước luôn có ý
thức bảo vệ biên giới lãnh thổ trên đất liền và ngoài biển, thể hiện chủ quyền
trên biển và các hải đảo của đất nước mình.
Chương I:
CƠ SỞ ĐỊA LÝ, LỊCH SỬ VÀ PHÁP LÝ VỀ CHỦ QUYỀN
1.1.
1.1.1.
BIỂN ĐẢO CỦA VIỆT NAM
Cơ sở địa lý và tiềm năng của biển đảo Việt Nam
Vị trí địa lí
Việt Nam là một quốc gia biển với diện tích vùng biển gấp ba lần diện
tích đất liền. Biển của Việt Nam nằm ở phía tây Thái Bình Dương, trải rộng
từ phía Đông đến phía Tây đất nước. Với diện tích là 3.477.000km 2, Biển
Đông là một bộ phận nhỏ của Thái Bình Dương nhưng lại là một biển lớn thứ
hai thế giới (sau biển san hô ở phía đông Ôxtrâylia), rộng gấp 8 lần biển Đen
và gấp 1,5 lần biển Địa Trung Hải. [7, 8]. Biển Đông nằm ở phía tây bắc Thái
Bình Dương, trải dài từ 3oB đến 25oB và từ kinh độ 1000Đ đến 1210Đ. Đây là
một vùng biển kín, xung quanh có các đảo và quần đảo bao bọc. Ven bờ Biển
Đông có 9 nước và 1 lãnh thổ (theo chiều kim đồng hồ từ phía Bắc) gồm:
Trung Quốc, Philippin, Malaixia, Brunây, Inđônêxia, Xingapo, Thái Lan,
Campuchia, Việt Nam và vùng lãnh thổ Đài Loan.
Biển “Đông” là tên truyền thống mà người Việt Nam gọi vùng biển này
theo phương hướng, gắn liền với lịch sử hang ngàn năm dựng nước và giữ
nước, với huyền thoại và văn hóa Việt Nam. Trước đây, trong một thời gian
dài, người Việt và người phương Tây đều tưởng ở giữa biển Đông chỉ có một
quần đảo dài, đều gọi một tên chung, rất nhất quán. Người Việt gọi là Bãi Cát
Vàng hay Cồn Vàng hoặc Trường Sa, hoặc có khi gọi là Đại Trường Sa hay
Vạn lý Trường Sa. Người Bồ Đào Nha, Hà Lan gọi quần đảo này là Paracel
hay Pracel (tiếng Bồ Đào Nha, Paracel có nghĩa là “đá ngầm”); người Pháp,
Anh gọi là Paracel vào thế kỉ XVII, XVIII trên các bản đồ hàng hải [21].
Người Trung Quốc gọi là Nam Hải, người Philippin gọi là biể Luzon hoặc
biển Tây Philippin (West Philippines sea); còn tên quốc tế của Biển Đông là
vịnh Thái Lan dài khoảng 2.300 km và có diện tích là 293.000km 2. Vịnh
không có nhiều đảo như vịnh Bắc Bộ (khoảng 165 đảo) nhưng lại có nhiều
6
đảo lớn như: đảo Phú Quốc lớn nhất có diện tích 59km 2 thuộc chủ quyền của
Việt Nam, đảo Thổ Chu, Hòn Nhạn…
Trong vùng Biển Đông có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc
lãnh thổ Việt Nam từ nhiều thế kỉ nay.
* Quần đảo Hoàng Sa
Quần đảo Hoàng Sa nằm trong một phạm vi rộng khoảng 15.000 km 2,
giữa kinh tuyến 111oĐ đến 113oĐ, trải dài khoảng 95 hải lí (1 hải lí = 1.853
km) từ 17o05’B xuống 15o45’B khoảng 90 hải lí.
Quần đảo Hoàng Sa phân bố dọc bờ biển các tỉnh Quảng Trị, Thừa
Thiên – Huế, Đà Nằng, Quảng Nam và một phần Quảng Ngãi. Quần đảo
Hoàng Sa có khoảng 30 đảo, đá, bãi, cồn, hòn; trong đó, hiện có 23 đã được
đặt tên, gòm 15 đảo, 3baix, 3 đá, 1 cồn, 1 hòn. Các đảo trên không cao, cao
nhất là đảo Hòn Đá (50 feet, 1 feet = 30,48cm), đảo thấp nhất là đảo Tri Tôn
(10 feet). Các nhóm đảo chính gồm: Nhóm Lưỡi Liềm ở tây nam và nhóm An
Vĩnh ở đông bắc. Quần đảo Hoàng Sa từ rất sớm đã được người Việt biết đến,
hết sức quan tâm cũng như đã xác lập và thực thi chủ quyền của mình, hiện
đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép.
* Quần đảo Trường Sa
Bên trong vùng biển Đông có hơn 200 đảo và bãi đá ngầm đã được đặt
tên, đa số chúng thuộc quần đảo Trường Sa. Quần đảo Trường Sa phân bố
chắn ngoài biển các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa –
Vũng Tàu, Thành Phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà
Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
Quần đảo Trường Sa được người Pháp gọi là Archipel des Iles spratley;
sinh vật biển và trên cạn với 2.500 loài cá biển và 500 loài san hô rạn. Nhờ
hoạt động nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản ngày càng tăng góp phần quan
trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước ven biển. Đặc biệt
là nuôi cá rô phi trong các hồ và vùng nước nội địa, nuôi tôm ven biển đã
cung cấp lượng thủy sản tươi sống chủ yếu cho thi trường Hồng Công, Trung
Quốc và Nhật Bản.
8
Nhiều loại thủy hải sản có giá trị dinh dưỡng cao, giá trị thương phẩm
lớn như: mực, hải sâm, cá thu, rùa biển, thú biển, tôm, yến, cá nhám, cá ngừ,
bào ngư,… không chỉ cung cấp cho thị trường trong nước mà còn được xuất
khẩu ra thế giới; ngoài ra còn là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp
thực phẩm được bạn hàng thế giới ưa chuộng.
Biển Đông còn cung cấp nhiều loại thực vật, gọi chung là rong biển
(rau câu, rau đông, rau cao…). Nhiều loại rong ăn ngon, bổ và có tác dụng
chữa nhiều thứ bệnh. Rong biển cũng được làm thức ăn cho gia súc, làm phân
bón, làm nguyên liệu để dệt sợi thành vải.
Trong những năm đầu thế kỉ XXI, sản lượng đánh bắt thủy hải sản ở
các nước trong khu vực biển Đông đều liên tục tăng. Năm 2003, tổng sản
lượng đánh bắt hải sản ở Biển Đông đạt khoảng 5 triệu tấn mỗi năm, tương
đương 10% tổng sản lượng đánh bắt toàn cầu. Năm nước giáp Biển Đông đều
nằm trong 8 nước đứng dầu thế giới về sản xuất tôm.
Đến nay, trong khu vực có các nước đứng đầu thế giới về sản lượng
đánh bắt và nuôi trồng hải sản là: Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Iđônêxia
và Philippin. Trong đó, Trung Quốc là nước đánh bắt cá lớn nhất thế giới (với
khoảng 4,38 triệu tấn/năm); Thái Lan đứng thứ 10 thế giới (với khoảng 1,5 –
2 triệu tấn/năm). Cả khu vực đánh bắt khoảng 7 – 8% tổng sản lượng đánh bắt
cá trên toàn thế giới. Biển Đông là vùng đánh bắt cá đứng hàng thứ 4 trong 19
mỗi ngày, tương đương 25% lượng tiêu thụ dầu mỏ hiện nay của Trung Quốc
là 8 triệu thùng duy trì được 15 – 20 năm tới.
Các khu vực có tiềm năng dầu khí còn lại chưa được khai thác là khu
vực thềm lục địa Tư Chính. Trữ lượng và sản lượng dầu khí của Việt Nam
đứng vào hạng trung bình trong khu vực tương đương Thái Lan và Malaixia.
Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực vùng biển Hoàng Sa và
Trường Sa còn chứa đựng nguồn tài nguyên khí đốt đóng băng của thế giới
(băng cháy) có trữ lượng ngang bằng với trữ lượng dầu khí và được coi là
nguồn năng lượng thay thế dầu khí trong tương lai gần. Chính tiềm năng dầu
10
khí chưa được khai thác tại Biển Đông đã trở thành nhân tố chính làm tăng
thêm các yêu sách chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và
vùng biển quanh hai quần đảo này.
Ngoài giá trị về dầu mỏ, Biển Đông còn đem lại các nguồn lợi kinh tế
khác bởi ven Biển Đông có những bãi tắm rộng, nhiều danh lam thắng cảnh,
lại có thêm khí hậu biển hài hòa, ấm áp, chứa nhiều ôxy, bầu trời quang đãng,
ít mây, mặt trời quanh năm chiếu rọi mặt nước trong xanh, là điều kiện tốt để
phát triển dịch vụ du lịch, nghỉ mát, tham quan, điều dưỡng và giải trí, thu hút
đông đảo du khách trong và ngoài nước. Những khu du lịch biển nổi tiếng ven
bờ biển Đông như: Hạ Long, Sầm Sơn, Vũng Tàu… của Việt Nam. Đặc biệt,
vịnh Hạ Long là một di sản thiên nhiên thế giới với diện tích nhỏ hẹp (khoảng
3.000 km 2) nhưng nhiều đảo. Các đảo có sườn núi dựng đứng, bãi cát phẳng
phiu, hang động sâu thẳm, ghềnh đá nhấp nhô, đất đá nhuộm đủ màu sắc của
cây cỏ, núi non, biển trời, mặt nước chỗ lặng như gương, chỗ sóng bạc đầu
nổi cồn lên trắng xóa cực kì hấp dẫn khách du lịch.
Ngoài ra, Biển Đông còn là nguồn cung cấp muối với hàm lượng khá
cao (35‰). Khai thác và làm muối từ xa xưa đã trở thành nghề sinh nhai cho
cư dân vùng ven biển. Các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa còn là nơi dự trữ
Quốc. Biển Đông nằm trên mạch đường thiết yếu vận chuyển dầu và các
nguồn tài nguyên thương mại từ Trung Quốc, Đông Á tới Nhật Bản, Hàn
Quốc và Trung Quốc. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực
hiện bằng đường biển và 45% trong số đó phải đi qua vùng Biển Đông.
Lượng dầu lửa và khí hóa lỏng được vận chuyển qua vùng biển mà lớn
gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama. Khu vực biển Đông có
những eo biển quan trọng đối với nhiều nước, chiếm đến 4 trong 16 con
đường chiến lược của thé giới nằm trong khu vực Đông Nam Á (qua Malacca,
Lombok, Sunda, Ombai – Wetar). Đặc biệt eo Malacca là eo biển nhộn nhịp
thứ hai thế giới (sau eo biển Hormuz) [10].
Biển Đông có vai trò địa – chính trị rất quan trọng đối với các nước
trong khu vực Đông Nam Á cũng như các cường quốc biển. Các nước và
vùng lãnh thổ có chủ quyền quốc gia trên biển Đông là: Brunây, Campuchia,
12
Đài Loan, Inđônêxia, Mailaixia, Philippin, Xingapo, Thái Lan, Trung Quốc và
Việt Nam; trong đó Brunây, Inđônêxia, Philippin và Xingapo là các quốc đảo.
Với vị trí giao thương quốc tế quan trọng, nền kinh tế thương mại ở Đông Á
đều phụ thuộc vào Biển Đông vì đây là con đường ngắn nhất đến Đông Nam
Á, Trung Phi, Trung Đông và Châu Âu.
Các đảo và quần đảo trong Biển Đông có ý nghĩa phòng thủ quan trọng
đối với nhiều nước. Nằm ở trung tâm Biển Đông, hai quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa là một trong những khu vực có nhiều tuyến đường quan trọng nhất
trên thế giới. Đặc biệt, hai điểm trọng yếu trên các tuyến đường biển chiến
lược của châu Á là eo biển Malacca và khu vực xung quanh hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa. Các tuyến đường biển chiến lược nói trên là yết hầu
cho giao thông hàng hóa của nhiều nước châu Á. Xuất nhập khẩu hàng hóa
của Nhật Bản phải đi qua khu vực này chiếm 42%, các nước Đông Nam Á là
55%, các nước công nghiệp mới (Nics) là 26%, Ôxtr âylia 40%, Trung Quốc
đối với Trung Quốc, nhất là khi nước này đã trở thành nền kinh tế đứng thứ
hai thế giới. Hoàn toàn kiểm soát khu vực Biển Đông, biến đây thành “ao
nhà” của mình, Trung Quốc sẽ năm được toàn bộ tuyến đường giao thương
lớn thứ hai của thế giới phục vụ cho giao thông vận tải hàng hóa của Trung
Quốc, bởi nước này có đến 29/39 tuyến hàng hải và khoảng 60% lượng hàng
hóa xuất nhập khẩu, dầu mỏ nhập khẩu được vận chuyển bằng biển qua biển
Đông. Năm 2008, Trung Quốc đã nhập tới 50% lượng dầu tiêu thụ trong nước
(với 3,8 triệu thùng/ngày), nhưng theo dự tính đến năm 2020 sẽ tăng lên
khoảng 70% và đến năm 2035 là khoảng 75% (với 11,6 triệu thùng/ngày)
[14]. Chính vì vậy, Trung Quốc đã coi khu vực Biển Đông là “Vịnh Pécxich
thứ 2” về dầu khí, là nơi có thể cung cấp năng lượng bổ sung quan trọng cho
sự phát triển của nền kinh tế lớn này. Đồng thời, Trung Quốc cũng có thể gây
khó khăn cho những tàu vận tải đi qua khu vực và vì thế có thể gây ra những
tổn thất kinh tế cho Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và các nước khác cần tới
tuyến đường này. Ngoài ảnh hưởng tới các nước Đông Bắc Á về mặt ngoại
14
thương, việc kiểm soát Biển Đông còn tạo ảnh hưởng và gây sức ép đố với
các nước ASEAN, tạo ra vùng cấm bay và hải phận cấm hoạt động trong đó
đối phương không được sử dụng không phận và hải phận trong một thời gian
nhất định. Như vậy, Biển Đông là không gian lợi ích sống còn, là cửa ngõ để
Trung Quốc tiến xuống khu vực Đông Nam Á và vươn xa hơn trở thành
cường quốc đại dương.
Biển Đông cũng có ý nghĩa quan trọng đối với Mỹ cả về địa kinh tế,
quân sự chiến lược. Tự do hàng hải là lợi ích then chốt, lợi ích knh tế và an
ninh quan trọng nhất, bởi Biển Đông là đường thương mại quan trọng và cũng
là vùng nước quốc té cho phép tàu thuyền quân sự và thương mại tự do qua
lại. Đã có 3 trong 10 tuyến giao thông hàng hải quan trọng nhất của Mỹ đi
các nước này khẳng định an ninh tại eo biển Malacca là trách nhiệm của
các nước ven biển.
Ngoài ra, các đồng minh thân cận của Mỹ ở Đông Bắc Á như Nhật Bản
và Hàn Quốc phụ thuộc sâu sắc vào tuyến đường thương mại qua Biển Đong,
nhất là trong việc nhập khẩu dầu mỏ và các nguyên liệu khác cho phát triển
công nghiệp. Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đồng minh và từ đó củng cố, khẳng
định vị thế của mình tại Biển Đông, Mỹ đã duy trì các căn cứ quân sự tại Nhật
Bản và Philippin. Hạm đội Thái Bình Dương – hạm đội 7 của Mỹ được trang
bị vũ khí thiết bị hiện đại đang đóng quân tại Nhật, Ha-oai và Xingapo đang
thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho Mỹ.
Tuy ở mức độ khác nhau, Nhật Bản, Ấn Độ, Nga, Ôxtrâylia và nhiều
nước khác cũng có lợi ích lớn ở Biển Đông.
Đối với Nhật Bản, Biển Đông là cánh cửa của con đường vận chuyển
dầu lửa từ Trung Đông về Nhật Bản. Hàng năm, có đến hơn 90% lượng dầu
mỏ nhập khẩu và 995 lượng hàng hóa mậu dịch xuất nhập khẩu của Nhật bản
tới thị trường Châu Âu, Đông Nam Á, Châu Đại Dương cũng chủ yếu dựa
vào tuyến đường qua biển Đông. Nếu để tàu thuyền chở hàng di chuyển qua
Philippin theo hải trình phía Đông sẽ làm giảm giá thành hàng hóa thành
16
phẩm của Nhật Bản từ 2% đến 5%. Sự an toàn và thông suốt trong vận
chuyển qua Biển Đông, nhất là qua eo biển Malacca còn quan trọng hơn cả
Mỹ. Do đó, tuyến đường hàng hải trên biển Đông là “tuyến đường sinh tử”,
và vì thế sự thao túng Biển Đông của bất cứ quốc gia nào cũng trở thành nỗi
lo của nước này.
Khu vực Biển Đông còn là nơi có khả năng cung cấp một nguồn tài
nguyên bổ sung lớn cho sự phát triển kinh tế của Nhật Bản trong tương lai.
Hơn nữa, sự gia tăng nhanh chóng sức mạnh knh tế và quân sự của Trung
Quốc cùng những hành động cứng rắn của nước này trên biển Đông và biển
Biển Đông là khu vực có ý nghĩa sống còn về địa chiến lược, kinh tế,
giao thông và an ninh hàng hải đối với các nước Đông Nam Á. Trong 9 nước
có biên giới giáp với Biển Đông thì có 8 nước thuộc ASEAN. Việc xuất hiện
“khoảng trống quyền lực” ở Biển Đông sau Chiến tranh lạnh cùng với việc
công khai đòi quyền và hiện đại hóa lực lượng của Trung Quốc đa làm cho
các nước ASEAN vô cùng lo ngại. Xu hướng tăng cường quốc phòng
nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và khu vực xuất hiện ngay từ đầu những
năm 90 của thế kỉ trước. Các nước ASEAN đều tuyên bố chủ quyền của
mình trên Biển Đông, trong đó việc Philippin tuyên bố lãnh hải của mình
theo dạng đa giác lõm cũng làm cho tình hình trở nên phức tạp vì không
thể phân biệt giữa vùng lãnh hải với vùng đặc quyền kinh tế như trong
Luật Quốc tế về biển Đông năm 1982.
Tuy nhiên, các nước ASEAN đều nhận thấy rằng tất cả các lực lượng
hải quân của các nước trong Hiệp hội cộng lại cũng không thể bằng lực lượng
hải quân (2,17 triệu binh lính) của Trung Quốc. Từ năm 1993 đến nay, với sự
ra đời của Diễn đàn an ninh khu vực (ARF) thì tranh chấp, xung đột đã được
giải quyết một phần thông qua sự đồng thuận trên các nguyên tắc trong Bộ
luật ứng xử trên biển Đông, tự điều chỉnh các đối sách khu vực của mình cho
phù hợp nhằm nhanh chóng tránh nguy cơ xung đột đáng tiếc có thể xảy ra.
18
Tóm lại, Biển Đông là một biển nửa kín lớn hàng đầu trên thế giới, có
giá trị to lớn về mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Tiềm năng kinh tế được
quan tâm nhất của Biển Đông là tài nguyên dầu khí, cùng với đó giá trị kinh
tế của các tài nguyên sinh vật – hải sản ở Biển Đông là không thể phủ nhận.
Kết nối với một số con sông lớn ở châu Á, Biển Đông được gọi là một trong
những khu vực năng suất nhất về đánh bắt hải sản trên thế giới. Do hoạt động
đánh bắt và chế biến hải sản đã tạo một nguồn thu ngoại tệ đáng kể đối với
thổ, cư dân và chính quyền riêng. Trong phạm vi lãnh thổ, một quốc gia có
toàn quyền sử dụng lãnh thổ của mình theo nguyên tắc chủ quyền quốc gia.
Nhà nước bằng pháp luật quy định các vùng lãnh thổ và chế độ pháp lý tương
ứng của từng vùng cũng như ban hành pháp luật điều chỉnh các hoạt động sử
dụng, khai thác và bảo vệ tài nguyên thuộc vùng lãnh thổ đó.
Lãnh thổ quốc gia được hiểu là một bộ phận trái đất thuộc chủ quyền
của quốc gia đó, bao gồm vùng đất, vùng nước (vùng biển), vùng trời và lòng
đất. Các đảo và quần đảo ngoài khơi thuộc quyền của quốc gia nào thì cũng là
một bộ phận lãnh thổ của quốc gia đó, ngăn cách các lãnh thổ quốc gia khác
bằng đường biên giới. Tương ứng với các loại lãnh thổ có các loại đường biên
giới trên đất liền, biên giới trên biển, biên giới trên không và biên giới trong
lòng đất. Cũng như biên giới quốc gia nói chung, biên giới trên biển được xác
định bằng điều ước quốc tế giữa các quốc gia láng giềng về việc phân chia các
vùng biển có quy chế lãnh thổ quốc gia của các nước hữu quan.
Theo công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển (United Nations
Convention on the Law of the sea) năm 1982, được cộng đồng quốc tế coi
như một bản hiến pháp về biển, nếu tính từ đất liền của các quốc gia ven biển
hướng ra biển khơi, tuần tự có các vùng biển sau đây: nội thủ, lãnh hải, vùng
tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, biển quốc tế và đáy
biển, lòng đất dưới đáy biển quốc tế. Rải rác ven bờ hay ngoài biển khơi có
các đảo, quần đảo nhô lên trên mặt nước. Về nguyên tắc, nội thủy và lãnh hải
là hai vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển. Vùng tiếp giáp lãnh
hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng thềm lục địa là 3 vùng biển thuộc quyền
20
chủ quyền của các quốc gia ven biển. Vùng biển xa xôi ngoài phạm vi quy
định trên là biển tự do, không quốc gia nào có quyền xác lập chủ quyền.
1.2.1.
21
xác định phù hợp với công ước này”. Ranh giới ngoài của lãnh hải chính là
đường biên giới quốc gia song không tuyệt đối.
Các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với lãnh hải của mình. Chủ
quyền đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải là tuyệt đối.
Chủ quyền đối với vùng trời phía trên lãnh hải cũng là tuyệt đối. Nghĩa là
quyền của quốc gia ven biển được công nhận như lãnh thổ của mình (lập
pháp, hành pháp và tư pháp) trên các lĩnh vực phòng thủ quốc gia, cảnh sát,
thuế quan, đánh cá, khai thác tài nguyên, nghiên cứu khoa học, đấu tranh
chống ô nhiễm… Tuy nhiên, chủ quyền đối với vùng nước lãnh hải không
được tuyệt đối như trong nội thủy bởi vì ở lãnh hải của quốc gia ven biển, tàu
thuyền của các quốc gia khác được quyền qua lại mà không phải xin phép nếu
họ không gây hại nào như sau đây:
Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh
thổ của quốc gia ven biển
Luyện tập, diễn tập với bất kỳ loại vũ khí nào
Thu thập tin tức tình báo gây thiệt hại cho nước ven biển
Tuyên truyền nhằm làm hại đến nước ven biển
Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay, phương tiện
quân sự
Xếp dỡ hàng hóa, tiền bạc, đưa người lên xuống tàu trái quy định của
nước ven biển
Cố ý gây ô nhiễm nghiêm trọng
Đánh bắt hải sản
Nghiên cứu, đo đạc
Làm rối loạn hoạt động giao thông liên lạc
Mọi hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến việc đi qua.
(Theo Điều 19 Công ước về Luật Biển 1982)
vùng tiếp giáp lãnh hải mà không được phép của quốc gia ven biển thì
đều bị coi là vi phạm xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của quốc
gia đó và quốc gia đó có quyền trừng trị.
1.2.2.2.
Vùng đặc quyền kinh tế
23
Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở ngoài lãnh hải và tiếp liền
với lãnh hải, có phạm vi rộng không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
Như vậy phạm vi lãnh hải rộng 12 hải lý bên trong vùng đặc quyền kinh tế
nên chiều rộng riêng của vùng đặc quyền kinh tế là 188 hải lý. Vùng đặc
quyền kinh tế bao gộp trong nó cả vùng tiếp giáp lãnh hải. Vùng đặc quyền
kinh tế là một vùng đặc thù trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền
riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Công ước về Luật biển 1982
quy định.
Vùng đặc quyền kinh tế có chế độ pháp lý riêng do Công ước về Luật
biển 1982 quy định về các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia
ven biển cũng như quyền tự do của các quốc gia khác. Cụ thể như sau:
•
-
Đối với các quốc gia ven biển
Quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền về việc thăm dò, bảo tồn và quản
lý các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên sinh vật hoặc phi sinh vật của vùng
nước đáy biển, của đáy biển và vùng đất dưới đáy biển cũng như những hoạt
động khác nhằm thăm dò, khai thác vùng này vì mục đích kinh tế.
đặc quyền kinh tế của mình khỏi bị khai thác quá mức.
Đối với các quốc gia khác
Được hưởng quyền tự do hàng hải, hàng không.
Được tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm. Khi đặt đường óng phải thông báo
và thỏa thuận với quốc gia ven biển.
Được tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế.
Thềm lục địa
Thềm lục địacủa quốc gia ven biển là phần đáy biển và lòng đất dưới
đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển. Trên thực tế, rìa ngoài
của thềm lục địa ở các khu vực có khác nhau: Có nơi hẹp, không đến 200 hải
lý; nhưng có nơi rộng đến hàng trăm hải lý. Điều 76 của Công ước Luật Biển
năm 1982 quy định rất rõ ràng: Thềm lục địa của quốc gia ven biển rộng tối
thiểu 200 hải lý (kể cả khi thềm lục địa thực tế hẹp hơn 200 hải lý). Nếu thềm
lục địa thực tế rộng hơn 200 hải lý thì quốc gia ven biển có thể mở rộng thềm
lục địa của mình đến tối đa 350 hải lý hoặc không quá 100 hải lý kể từ đường
đẳng sâu 2.500m. Tuy nhiên, để mở rộng thềm lục địa quá 200 hải lý thì quốc
gia ven biển liên quan phải trình cho Ủy ban Thềm lục địa của Liên hợp quốc
báo cáo quốc gia kèm đầy đủ bằng chứng khoa học về địa chất và địa mạo của
vùng đó. Sau đó, Ủy ban Thềm lục địa của Liên hợp quốc sẽ xem xét và ra
khuyến nghị.
Quốc gia ven biển thực hiện các quyền chủ quyền đối vớ thềm lục địa
về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, tài nguyên
phi sinh vật như dầu khí, các tài nguyên sinh vật như cá, tôm…) của mình. Vì
đây là đặc quyền của quốc gia ven biển nênnếu quốc gia đó không thăm dò,
khai thác thì cũng không ai có quyền khai thác tại đây nếu không được sự
đồng ý của quốc gia ven biển. Nghĩa là chỉ quốc gia ven biển mới có quyền
cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa bất kì vào mục đích gì. Tuy
nhiên, quốc gia ven biển khi thực hiện quyền đối với thềm lục địa không được
25