BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
Ban Chấp hành Trung ương
BCHTW
chủ nghĩa xã hội
CNXH
Nhà xuất bản
Nxb
xã hội chủ nghĩa
XHCN
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1
CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ
ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA
1975, đất nước được độc lập, thống nhất hoàn toàn, cả nước bước vào thời kỳ
quá độ lên CNXH, hệ thống chính trị nước ta đã được tiếp tục từng bước xây
dựng, củng cố. Hoạt động của hệ thống chính trị đã hướng vào việc thực hiện
hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam XHCN. Tuy nhiên, trước những biến động lớn lao của tình
hình trong nước và trên thế giới, trước những yêu cầu mới của thời kỳ quá độ,
phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nước ta cũng bộc lộ những mặt
hạn chế, bất cập.
Nhận thức được vấn đề đó, ngay từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, Đảng
đã xác định mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đổi mới
toàn diện, đồng bộ và triệt để với những bước đi và cách làm phù hợp. Trong
thời gian đầu, tập trung sức vào khâu then chốt là đổi mới kinh tế; đồng thời
cũng phải kết hợp ngay từ đầu việc đổi mới hệ thống chính trị, mà trước hết là
đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị.
Quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống
chính trị trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là giai đoạn từ năm 1991 đến năm
2001 - đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị theo tinh thần
Cương lĩnh của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6.1991), và Nghị
quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6.1996) của Đảng không
chỉ có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp đổi mới đất nước mà còn để
lại nhiều kinh nghiệm quí báu cho hoạt động lãnh đạo của Đảng. Đánh giá về
4
quá trình đổi mới hệ thống chính trị trong thời gian này, Hội nghị lần thứ bảy
BCHTW Đảng, khoá VIII (8.1999) đã khẳng định:
Từ sau Đại hội VI của Đảng, qua hai lần sắp xếp, hệ thống chính trị ở
nước ta bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân đã
từng bước được cụ thể hoá về chức năng, nhiệm vụ, củng cố về tổ chức,
bộ máy tinh giản biên chế, đổi mới phương thức, lề lối làm việc…Những
Bình làm chủ biên. Đề tài KX.05 có các nhánh đề tài như: Chính trị và hệ thống
chính trị trong Học thuyết Mác - Lênin và những bài học về sự vận dụng nó ở các
nước xã hội chủ nghĩa trước đây, mã số KX.05.01; Chính trị và hệ thống chính trị
của các nước tư bản phát triển, mã số KX.05.02; Đặc trưng cơ bản của hệ thống
chính trị nước ta trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mã số KX.05.04;
Cơ chế thực hiện dân chủ trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, mã số
KX.05.05; Đặc điểm, nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng trong hệ
thống chính trị, mã số KX.05.06; Vị trí và tính chất hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị, mã số KX.05.10...
Đây là một công trình khoa học quan trọng, nghiên cứu một cách cơ
bản, toàn diện về hệ thống chính trị ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên
CNXH; hệ thống hoá các đặc trưng, quan điểm, nguyên tắc xây dựng và hoạt
động của hệ thống chính trị ở nước ta theo tinh thần đổi mới của Đảng; đề
xuất mô hình tổng thể của hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ quá độ lên
CNXH. Đặc biệt, công trình này đã luận giải, làm rõ khái niệm hệ thống chính
trị, phân biệt hệ thống chính trị XHCN với hệ thống chính trị của thời kỳ quá
độ lên CNXH. Công trình này cũng đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề phương
thức lãnh đạo của Đảng, về vị trí, vai trò, tính chất hoạt động của các thành tố
cấu thành hệ thống chính trị.
6
Đề tài khoa học cấp Bộ: Cải cách bộ máy hành chính nhà nước Việt
Nam, của GS.TS. Nguyễn Duy Gia làm chủ biên. Đề tài đã luận giải cơ sở
khoa học về vấn đề cải cách bộ máy hành chính nhà nước, nêu lên những
quan điểm, nguyên tắc, yêu cầu và phương hướng tổ chức bộ máy hành chính
nhà nước ở Việt Nam; đi sâu phân tích vấn đề cải cách tổ chức bộ máy, làm rõ
và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan trong bộ máy
hành chính, khắc phục sự trùng lắp chức năng, nhiệm vụ, nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước đối với xã hội.
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Nhà nước của dân, do dân, vì dân
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời
kỳ mới do Học viện Chính trị biên soạn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2010.
Một số luận án:
Bệnh quan liêu của bộ máy nhà nước và phương hướng khắc phục
trong quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, Trần Thành,
Luận án Phó tiến sĩ Triết học, mã số 5.01.02, Hà Nội, 1994; Đảng Cộng sản
Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa từ năm 1996 đến năm 2006, Hồ Xuân Quang, Luận án Tiến sĩ Lịch sử,
chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2008; Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo xây dựng nền hành chính nhà nước trong công cuộc đổi mới đất nước từ
năm 1991 đến năm 2005, Trần Đình Thắng, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên
ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam mã số 62 22 56 01, Hà Nội, 2009.
Những công trình khoa học nói trên đã đề cập đến một số vấn đề lý luận
cơ bản về hệ thống chính trị và xây dựng hệ thống chính trị ở nước ta; phân
tích vai trò của từng tổ chức thành viên của hệ thống chính trị; nêu lên những
kinh nghiệm và giải pháp xây dựng, đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo
của các thành tố trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ
8
quốc); phân tích mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị…Tuy
chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống
chính trị với tính chất hệ thống, song những công trình này đã cung cấp cho
luận văn nhiều tư liệu trong quá trình nghiên cứu.
* Các công trình trực tiếp bàn về đổi mới phương thức hoạt động của hệ
thống chính trị như: Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị ở cấp
huyện một số tỉnh miền núi phía Bắc trong điều kiện hiện nay Đề tài khoa học cấp
trị trong công cuộc đổi mới đất nước vẫn còn là một nội dung khá mới mẻ, cả về
lý luận và thực tiễn chưa được tập trung nghiên cứu một cách hệ thống và toàn
diện.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích
Luận văn làm sáng tỏ sự lãnh đạo của Đảng về đổi mới phương thức hoạt
động của hệ thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001; qua đó, khẳng định những
kết quả, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm, góp phần cung cấp luận cứ để tiếp
tục đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay.
* Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở để Đảng xác định chủ trương đổi mới phương thức hoạt
động của hệ thống chính trị trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
- Phân tích quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về đổi mới phương
thức hoạt động của hệ thống chính trị nước ta từ năm 1991 đến năm 2001.
- Đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, rút ra một số kinh
nghiệm của quá trình Đảng lãnh đạo đổi mới phương thức hoạt động của hệ
thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001.
* Đối tượng
Nghiên cứu quan điểm, chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về đổi mới
phương thức hoạt động của hệ thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001.
10
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng về đổi mới phương thức
hoạt động của hệ thống chính trị từ năm 1991 đến năm 2001. Để có thể so
sánh, luận văn đề cập đến một số vấn đề liên quan trước năm 1991 và sau
năm 2001.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
1.1.1.1. Hệ thống chính trị và phương thức hoạt động của hệ thống
chính trị
* Khái niệm hệ thống chính trị
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ thống chính trị của
CNXH chính là hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội mà nhờ đó, nhân dân
lao động thực thi quyền lực của mình trong xã hội.
Dưới CNXH, do có sự thống nhất về lợi ích giữa giai cấp công nhân giai cấp cầm quyền và nhân dân lao động, nên hệ thống chính trị không chỉ là
hệ thống quyền lực của giai cấp công nhân, mà còn là cơ chế xã hội để qua
đó, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị của mình dưới sự lãnh đạo của
Đảng của giai cấp công nhân.
Ở nước ta, hệ thống chính trị là hệ thống các tổ chức bao gồm: Đảng
Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân cùng các quan hệ giữa các
tổ chức đó với nhau, hợp thành cơ chế dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm và
phát huy quyền làm chủ của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý
của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
12
Hệ thống chính trị nước ta là hệ thống chính trị XHCN hoạt động theo
cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Đảng Cộng sản
Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiền
phong của nhân dân lao động, đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và
của toàn dân tộc, có sứ mệnh lãnh đạo toàn bộ xã hội thông qua nhà nước và
các đoàn thể nhân dân; Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội, là công cụ, phương tiện để qua
đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
đoàn thể nhân dân có chức năng tập hợp các giai cấp, tầng lớp nhân dân trong
xã hội tham gia việc quản lí nhà nước, quản lý xã hội.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội xác định:
Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng
về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền,
thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương
mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ
năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo
chính quyền và các đoàn thể [23, tr.405].
Đảng thực hiện vai trò hạt nhân lãnh đạo của mình bằng việc đề ra
đường lối và các chính sách của Đảng, lãnh đạo biến các chủ trương chính
sách đó thành pháp luật của Nhà nước cho mọi người dân thực hiện. Đảng
lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy và giới thiệu cán bộ vào những vị trí quan
trọng của cơ quan Nhà nước, giáo dục cán bộ, đảng viên của Đảng giữ gìn
phẩm chất đạo đức cách mạng, hết lòng phục vụ nhân dân, chấp hành nghiêm
chỉnh luật pháp của Nhà nước. Đồng thời, Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của
14
mình thông qua việc xây dựng các tổ chức quần chúng, động viên, giáo dục
quần chúng vừa thực hiện pháp luật và các chính sách của Nhà nước vừa giữ
vai trò phản biện xã hội; đóng góp ý kiến xây dựng, kiểm tra đôn đốc với các
cơ quan của Nhà nước. Mặt khác, Đảng còn lãnh đạo phối hợp thống nhất
hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị và tiến hành công tác kiểm
tra đối với các tổ chức đó thông qua tổ chức đảng và cá nhân đảng viên hoạt
động trong hệ thống chính trị.
Phương thức hoạt động của Nhà nước: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là một trụ cột của hệ thống chính trị và là công cụ chủ yếu để
thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước có chức năng trực tiếp
quản lý, điều hành mọi hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước; thể chế hoá và tổ
tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Nói cách
khác, các tổ chức trong hệ thống chính trị chỉ có thể phát huy vai trò, chức năng
của mình trên cơ sở xác định được phương thức hoạt động phù hợp.
Phương thức hoạt động của hệ thống chính trị gắn chặt và phụ thuộc
vào vai trò, chức năng, tính chất hoạt động của hệ thống chính trị và vận
động, phát triển cùng với sự phát triển của các thành tố trong hệ thống chính
trị. Các thành tố trong hệ thống chính trị với tư cách chủ thể, đương nhiên cần
được tổ chức xây dựng một cách hợp lý và không ngừng cải cách, đổi mới về
tổ chức, bộ máy theo sự phát triển của xã hội qua mỗi thời kỳ. Tuy nhiên, như
thế vẫn chưa đủ, vấn đề là cùng với xây dựng tổ chức bộ máy, phải xác định
được phương thức hoạt động phù hợp với vai trò, chức năng, tính chất của tổ
chức, bộ máy đó và phù hợp với điều kiện xã hội. Phương thức hoạt động là
hệ thống các phương pháp, hình thức, biện pháp được các tổ chức trong hệ
thống chính trị sử dụng tác động đến đối tượng của mình. Do đó, phương thức
16
hoạt động chính là con đường để hiện thực hoá mục tiêu của các tổ chức trong
hệ thống chính trị và của cả hệ thống chính trị.
Nội dung hoạt động của hệ thống chính trị và phương thức hoạt động
của hệ thống chính trị luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó nội
dung hoạt động là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất, phương thức hoạt động là
yếu tố rất quan trọng. Nội dung hoạt động tốt, phương thức hoạt động phù
hợp thì hiệu quả hoạt động sẽ cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng.
Nếu có nội dung hoạt động tốt mà phương thức hoạt động kém hoặc không
phù hợp thì hiệu quả thực hiện nội dung đó sẽ không cao. Lẽ dĩ nhiên, không
thể có một phương thức hoạt động tốt nếu nội dung hoạt động không được
xác định đúng đắn hoặc chất lượng thấp. “Kinh nghiệm cho thấy, mức độ
thành công của công cuộc đổi mới phụ thuộc vào tính đúng đắn của đường
lối, đồng thời còn trực tiếp phụ thuộc vào khả năng tìm kiếm, lựa chọn các
triển của các sự vật, hiện tượng sẽ dẫn đến việc thay thế cái cũ không còn phù
hợp bằng cái mới tốt hơn, tiến bộ và phù hợp hơn. Theo nghĩa chung nhất đó
chính là sự đổi mới.
Mặt khác, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin khi
chứng minh tính thống nhất của thế giới cũng đồng thời chỉ ra rằng mọi yếu
tố, mọi trạng thái tồn tại của thế giới đều có mối liên hệ tác động và ảnh
hưởng lẫn nhau trong một quá trình đa dạng, phong phú.
Trong mối quan hệ biện chứng và khuynh hướng vận động phát triển
đó, khi một yếu tố, một trạng thái bất kỳ của thế giới biến đổi, chuyển hoá đều
có thể tác động, gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến toàn bộ hệ thống.
Hệ thống chính trị là một bộ phận của hệ thống xã hội, do đó cũng luôn
vận động, phát triển và không ngừng đổi mới. Trong hệ thống xã hội, với vị
trí, chức năng của mình, hệ thống chính trị là nhân tố cơ bản quyết định sự
phát triển của xã hội; nhưng mặt khác, sự tồn tại và phát triển của hệ thống
chính trị lại được quy định bởi cơ sở kinh tế - xã hội và cơ sở chính trị xã hội
18
của nó. Do đó, khi cơ sở kinh tế - xã hội và cơ sở chính trị - xã hội biến đổi,
tất yếu hệ thống chính trị sẽ biến đổi. Đổi mới hệ thống chính trị trước hết là
yêu cầu tự thân của chính hệ thống chính trị trong quá trình phát triển, hoàn
thiện; đổi mới chính là để tiếp tục phát triển.
Sự vận động phát triển, đổi mới của hệ thống chính trị với tư cách là một
chỉnh thể thống nhất, đòi hỏi sự vận động, phát triển của các yếu tố cấu thành
trong hệ thống và theo đó, là sự vận động phát triển, đổi mới của phương thức
hoạt động của cả hệ thống cũng như của mỗi thành tố trong hệ thống chính trị.
Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là một yêu cầu
khách quan, sự đổi mới đó nhằm đạt tới một phương thức hoạt động phù hợp
với chủ thể của hoạt động là các thành tố của hệ thống chính trị đã và đang
đổi mới; đảm bảo cho hệ thống chính trị hoạt động có hiệu quả cao nhất.
làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân.
Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng tiếp tục khẳng định hai nhiệm vụ chiến
lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững
chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Về nhiệm vụ xây dựng CNXH, Đảng xác
định: Nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong những năm còn lại của
chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục
xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá XHCN
trong chặng đường tiếp theo. Đồng thời, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ
xây dựng CNXH, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đề cao cảnh giác, tăng
cường khả năng quốc phòng và an ninh của đất nước, quyết đánh thắng kiểu
chiến tranh phá hoại nhiều mặt của địch, bảo đảm chủ động trong mọi tình
huống để bảo vệ Tổ quốc.
20
Nội dung hoạt động của hệ thống chính trị thay đổi nhằm đáp ứng những
yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng, do đó, đòi hỏi Đảng ta phải lãnh đạo đổi
mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị.
* Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị xuất phát từ
yêu cầu khắc phục những hạn chế trong phương thức hoạt động của hệ thống
chuyên chính vô sản thời kỳ trước đổi mới.
Hệ thống chuyên chính vô sản của nước ta từ khi được xây dựng sau
Cách mạng tháng Tám luôn được chăm lo xây dựng, củng cố và đã phát huy
tốt vai trò thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động Việt Nam, đặc biệt là trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân.
Trong những năm cả nước thống nhất đi lên xây dựng CNXH, hệ thống
chuyên chính vô sản giữ vai trò quan trọng trong tổ chức và phát huy sức
mạnh của cả dân tộc thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN,
cán bộ chưa được xác định rõ ràng… Phong cách làm việc nặng về hình thức,
giấy tờ… việc tổ chức thực hiện lại yếu” [23, tr.115]. Các cơ quan nhà nước
không chú trọng làm công tác vận động quần chúng, mà nhấn mạnh các biện
pháp mệnh lệnh hành chính.
Về tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể: Đảng
chưa phát huy tốt vai trò và chức năng của các đoàn thể trong việc giáo dục,
động viên quần chúng tham gia quản lý kinh tế - xã hội. Các đoàn thể chưa
tích cực đổi mới phương thức hoạt động đúng với tính chất của tổ chức quần
chúng; còn tình trạng quan liêu trong các cơ quan quản lý và các tổ chức
chuyên trách về công tác quần chúng.
Những hạn chế trên đây cùng với những yêu cầu của công cuộc đổi
mới, đặt ra yêu cầu phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ
thống chính trị.
Đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị là một yêu
cầu tất yếu khách quan xuất phát từ sự phát triển theo quy luật tự thân của
22
hệ thống chính trị với tư cách là một bộ phận của đời sống xã hội. Mặt
khác, đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị còn nhằm khắc
phục những hạn chế, khuyết điểm của hệ thống chuyên chính vô sản trong
những thời kỳ trước đây; nhằm đạt tới một phương thức hoạt động phù hợp
hơn, đáp ứng sự phát triển nội dung hoạt động của hệ thống chính trị trước
những yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng. Đổi mới phương thức hoạt
động của hệ thống chính trị là một yêu cầu có ý nghĩa hết sức quan trọng
nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi quá trình đổi mới hệ thống chính trị nói
riêng và thắng lợi của sự nghiệp đổi mới nói chung.
1.1.2. Chủ trương của Đảng về đổi mới phương thức hoạt động của
hệ thống chính trị
1.1.2.1. Quan điểm của Đảng về đổi mới phương thức hoạt động của
phối toàn bộ quá trình đổi mới hệ thống chính trị nói chung cũng như đổi mới
phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nói riêng.
Thứ hai, đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị phải
nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, đảm bảo quyền
lực thuộc về nhân dân.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH khẳng
định: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai
đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân” [23, tr.421 - 422].
Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài gian khổ dưới sự
lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta mới giành được độc lập dân tộc, giành
được quyền làm chủ đất nước, làm chủ đời sống xã hội, kết quả đó là ý
nghĩa đích thực của cách mạng XHCN. Quyền làm chủ đó thể hiện ở
quyền lực của nhân dân thông qua các tổ chức, các thiết chế xã hội mà tập
trung nhất là thông qua hệ thống chính trị. Do đó, đổi mới phương thức
24
hoạt động của hệ thống chính trị phải đảm bảo cho hệ thống chính trị hoàn
thành chức năng thực thi quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế. Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ:
Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một nội dung cơ bản của đổi
mới hệ thống chính trị ở nước ta. Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để
thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối
với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, thực hiện tốt
cơ chế làm chủ của nhân dân, làm chủ thông qua đại diện, làm chủ trực
tiếp cùng các hình thức tự quản tại cơ sở [23, tr.638].
Như vậy, quá trình đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống
chính trị phải gắn liền với quá trình bảo đảm quyền lực chính trị thực
sự thuộc về nhân dân, từng bước hoàn thiện và nâng cao trình độ nền
động của hệ thống chính trị thì việc giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng là
một yêu cầu hệ trọng và quyết định nhất.
Mặt khác, đổi mới ở lĩnh vực chính trị là vấn đề nhạy cảm, liên
quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành. “Chính trị là lĩnh vực
cực kỳ phức tạp. Khi chưa được chuẩn bị các tiền đề cần thiết mà đã vội
vàng đẩy nhanh đổi mới chính trị và đổi mới không đúng sẽ dẫn đến tình
trạng mất ổn định về chính trị, mà chính trị đã không ổn định thì toàn bộ
công cuộc đổi mới sẽ gặp nhiều khó khăn, trắc trở” [23, tr.380]. Do đó,
đổi mới phương thức hoạt động của hệ thống chính trị nhất thiết phải trên
cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc; phải có hình thức, bước đi
và biện pháp thích hợp; không chủ quan, nóng vội dẫn đến sai lầm, chệch
hướng. Chỉ có như vậy, mới giữ vững được ổn định chính trị và định
hướng XHCN, tạo tiền đề thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hoá, xã
hội…Nói cách khác, giữ vững ổn định chính trị và định hướng XHCN là