TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
=====O0O=====
BIẾN ĐỔI TRONG TẬP QUÁN XÂY DỰNG NHÀ Ở
TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ THẠCH
LÂM - HUYỆN THẠCH THÀNH - TỈNH THANH HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
MÃ SỐ: 608
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Anh Cường
Sinh viên thực hiện
: Quản Trọng Hải
Lớp
: VHDT 15A
Hà Nội - 2013
1
LỜI CẢM ƠN
Thật lấy làm vinh dự cho những sinh viên có may mắn được viết khóa
luận tốt nghiệp. Đây là một công việc khó khăn nhưng đầy thú vị đòi hỏi lòng
say mê nghiên cứu khoa học và nhiều kĩ năng. Trong quá trình thực hiện bài
khóa luận, bản thân sinh viên gặp nhiều trở ngại, tuy nhiên nhận được sự quan
5. Lịch sử nghiên cứu ........................................................................................ 8
6. Đóng góp của đề tài....................................................................................... 9
7. Bố cục đề tài .................................................................................................. 9
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT MÔI TRƯỜNG TỰ
NHIÊN, MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI VÀ NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ THẠCH
LÂM, HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA ......................... 10
1.1. Một số khái niệm. ................................................................................... 10
1.2. Khái quát môi trường tự nhiên ............................................................. 10
1.2.1 Vị trí địa lí .............................................................................................. 10
1.2.2 Địa hình .................................................................................................. 11
1.2.3. Khí hậu .................................................................................................. 12
1.2.4. Tài nguyên rừng .................................................................................... 12
1.2.5. Thổ nhưỡng ........................................................................................... 12
1.3. Môi trường xã hội ............................................................................ 12
1.4. Khái quát người Mường ở xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh
Thanh Hóa ..................................................................................................... 14
1.4.1 Tên gọi, tộc danh .................................................................................... 14
1.4.2 Nguồn gốc .............................................................................................. 15
1.4.3.Ngôn ngữ ................................................................................................ 16
1.4.4. Đặc điểm kinh tế ................................................................................... 16
3
1.4.5 Đặc trưng văn hóa .................................................................................. 21
1.4.5.1 Tổ chức cộng đồng .............................................................................. 21
1.4.5.2. Quan hệ xã hội ................................................................................... 21
1.4.5.3. Tín ngưỡng ......................................................................................... 21
1.4.5.4 Ẩm thực ............................................................................................... 23
1.4.5.5 Cư trú................................................................................................... 24
3.2. Tác động làm biến đổi trong tập quán xây dựng nhà sàn .................. 67
3.2.1 Tác động về kinh tế .............................................................................. 67
3.2.2 Một số chính sách của Đảng và Nhà nước ......................................... 68
3.2.3 Giao lưu văn hóa .................................................................................. 70
3.2.4 Phong tục, tập quán, tri thức dân gian .............................................. 71
3.2.5 Tài nguyên thiên nhiên ........................................................................ 72
3.3 Đánh giá tác động làm biến đổi trong tập quán xây dựng nhà sàn.... 72
3.3.1 Tích cực .................................................................................................. 72
3.3.2 Tiêu cực .................................................................................................. 74
3.4. Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị trong tập quán xây dựng nhà
sàn ................................................................................................................... 76
KẾT LUẬN .................................................................................................... 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 82
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 83
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hoá là một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội, hội tụ
những giá trị mà chính con người đã tạo nên. Những giá trị quý báu mà con
người tạo nên đó không tồn tại bất biến bao giờ. Mà theo thời gian và nhiều
yếu tố khác nó không còn giữ được những giá trị nguyên vẹn ban đầu, ta
không nhận ra được hết những dấu ấn thời đại trong đó nữa. Việt Nam là
nước đa dân tộc, mỗi dân tộc lại có bản sắc riêng, nên khẳng định rằng văn
hoá cũng khá đa dạng. Người Mường có truyền thống văn hoá rất đặc sắc, đặc
trưng, rõ nét và ít bị hoà lẫn với tộc người khác. Nhà sàn là một đặc trưng của
những thay đổi của nhà sàn hiện nay so với trước tại xã Thạch Lâm, huyện
Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Qua việc khảo sát giá trị văn hoá nhà sàn, đề xuất những giải pháp với
chính quyền địa phương, người dân những biện pháp bảo tồn giá trị văn hóa
nhà sàn.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu nhà ở người Mường ở các mặt:
- Quan niệm về tầm quan trọng nhà ở
- Dựng nhà và những công việc cần thiết: Chuẩn bị nguyên vật liệu, làm
mộc, quy trình dựng nhà.
- Loại hình, kết cấu
- Những công việc sau khi dựng nhà: Nghi lễ tân gia, bố trí mặt bằng
sinh hoạt, những kiêng kị liên quan đến trước và sau dựng nhà.
- Những thay đổi của nhà sàn người Mường hiện nay.
- Chỉ ra nguyên nhân biến đổi
7
- Đánh giá sự tác động của các yếu tố tác động đến sự thay đổi tập quán
xây dựng nhà sàn
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu đã sử dụng các phương
pháp như:
- Điền dã dân tộc học
- Điều tra, quan sát
- Phỏng vấn người dân
Thạch Thành. Phát hiện ra những nét văn hoá địa phương ẩn chứa trong văn
hoá người Mường nói chung.
- Khảo sát giá trị văn hóa nhà sàn; chỉ ra những thay đổi trong tập quán
xây dựng nhà sàn; thấy được mối liên hệ của những yếu tố tác động.
- Góp thêm cơ sở khoa học cho việc định hướng và tạo lập các chính
sách về kinh tế, văn hoá, xã hội đối với người Mường ở xã Thạch Lâm trong
thời gian tới.
- Đóng góp giải pháp cụ thể nhằm giữ gìn văn hoá truyền thống tốt đẹp
của người Mường ở xã Thạch Lâm.
7. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục bài nghiên cứu có các phần sau:
Chương 1. Cơ sở lí luận và khái quát môi trường tự nhiên, môi trường
xã hội và người Mường ở xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh
Hóa.
Chương 2: Tập quán xây dựng nhà của người Mường ở Thạch Lâm,
huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
Chương 3: Tác động của các yếu tố làm biến đổi tập quán xây dựng nhà
sàn người Mường ở xã Thạch Lâm,, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
9
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN,
MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI VÀ NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ THẠCH LÂM,
HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA
1.1. Một số khái niệm.
Nho Quan tỉnh Ninh Bình.
Xã Thạch Lâm có 7 thôn bao gồm: Thôn Thượng, thôn Đăng, thôn Nội
Thành, thôn Thống Nhất, thôn Nghéo, thôn Biện, thôn Đồi. Trong đó có 5
thôn nằm một phần và toàn bộ trong vườn Quốc gia Cúc Phương.
1.2.2 Địa hình
Xã Thạch Lâm chạy dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh, địa hình không
có sự đồng nhất và tương đối đa dạng bao gồm cả đồi núi và những cánh
đồng bằng phẳng. Bao quanh xã là những ngọn đồi, không chia cắt mà bao
bọc lấy toàn xã. Xem như một ưu tiên của tự nhiên, đồng bào ở đây sử dụng
tương đối hiệu quả vào các hoạt động nông nghiệp. Trên đó, họ trồng nhiều
loại cây trồng nhưng đáng chú ý và nhiều nhất vẫn là cây mía. Thực tế đây là
cây công nghiệp ngắn ngày quan trọng nhất của cư dân nơi đây, trở thành
nguồn thu nhập chính, công việc chính bên cạnh một số cây trồng khác như
cây lúa và một vài cây trồng ngắn ngày khác.
Tuy nhiên, có thể kết luận rằng phần lớn đồng bào ở đây cư trú ở những
nơi đất bằng phẳng hoặc triền núi thoai thoải, điều này thuận lợi về mọi mặt
trong đời sống. Ở những nơi như vậy thuận lợi cho cả việc xây cất nhà, đi lại
giao lưu cũng thuận tiện nên dễ hiểu vì sao đồng bào ở đây thường co cụm lại
với nhau xung quanh những khoảng đất bằng phẳng hoặc thoai thoải hiếm
hoi.
11
1.2.3. Khí hậu
Khí hậu ở đây mang đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc, tức là mang
một số tính chất như nhiệt đới ẩm gió mùa, mưa nhiều và mưa theo mùa, và
mang thêm một đặc điểm nữa của dải đất miền trung là chịu sự tác động của
hiệu ứng gió phơn Tây Nam, hay còn gọi là gió Lào chỉ có hai ngọn đồi với
nhiều khó khăn là xã nghèo, có xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp, tỉ lệ hộ
nghèo năm 2012 chiếm 60,2% đời sống của người dân còn rất khó khăn hiện
vẫn phải dựa tới 100% vào ngân sách Trung ương. Giao thông đi lại khó khăn
gây cản trở cho việc giao lưu kinh tế - xã hội. Cơ sở vật chất còn hạn chế chủ
yếu được đầu tư từ các chương trình, dự án của nhà nước. Xã có chiều dài từ
đầu xã đến cuối xã hình chữ Y dài hình thành 7 cụm dân cư, còn gọi là 7 thôn
xóm và chia thành 2 khu Thạch Lâm I, Thạch Lâm II. Xã còn gặp nhiều khó
khăn, thôn xa trung tâm xã là 14 km, có 3 thôn bản nằm ở bên kia sông Bưởi,
nhất là mùa mưa bão đi lại rất khó khăn cho nhân dân khi mùa lũ lụt, xã
Thạch Lâm có 2 dân tộc sinh sống chủ yếu đó là Mường và dân tộc Kinh.
Trong đó:
- Dân tộc Mường chiếm: 94%.
- Dân tộc Kinh chiếm: 6%
Là xã có điểm xuất phát kinh tế thấp, xã đặc biệt khó khăn, người dân
tộc thiểu số chiếm trên 98% dân số, trình độ dân trí còn thấp tỉ lệ lao động đã
qua đào tạo tại các trường dạy nghề, trung cấp, cao đẳng, Đại học chỉ chiếm
2,5% dân số, đa số người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc ứng dụng
các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất. Số người trong độ tuổi lao động có
công việc và thu nhập ổn định chiếm tỉ lệ nhỏ, cơ sở hạ tầng yếu kém đặc biệt
là đường giao thông đi lại khó khăn.
13
1.4. Khái quát người Mường ở xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh
Thanh Hóa
1.4.1 Tên gọi, tộc danh
Ở xã Thạch Thành, người Mường có tên tự gọi là Mol (hoặc Mon, Mual)
Không phải ngay từ buổi đầu lịch sử, họ đã có tộc danh như ngày nay.
“Thuở xưa, khi con người chưa xuất hiện, trời làm hạn hán, cây cối khô
mà chết, rồi trời lại mưa. Một trận mưa to chưa từng thấy. Nước chảy thành
suối thành sông. Đất lở bồi thành đồng bằng. Đá lăn chất đầy thành gò thành
đống, thành đồi thành núi. Từ dưới đất mọc lên một cây si. Cây si lớn như
thổi trở thành to lớn, cành lá che kín cả bầu trời. Cây si bị sâu đục ăn làm cho
gãy cành rụng lá. Từ gốc cây si đẻ ra một đôi chim. Chim Ây là đực, Cái ứa là
cái. Đôi chim rủ nhau bay lên cành cây si làm tổ, cành si gãy. Chim bay lên
cây đa làm tổ. Cây đa đổ. Chim Ây và Cái Ứa lại rủ nhau bay lên núi đá lấy
cỏ làm thành tổ Hang Hao. Cái Ứa đẻ ra trăm ngàn quả trứng. Trứng chim nở
ra thành muôn loài muôn vật. Còn lại một trăm cái trứng thì nở ra con người.
Đó là người Mường và người Kinh.”
Kể về lịch sử cư trú của người Mường nơi đây, nhiều cụ già kể lại rằng
trong lịch sử xảy ra nhiều cơn đói khủng khiếp, mất mùa họ không có cái ăn.
Buộc những cộng đồng này đi nhiều nơi để kiếm cái ăn, mảnh đất Thạch
Thành là nơi họ dừng chân, họ không di cư ồ ạt mà từng dòng họ. Dòng họ
nào đến trước, có số lượng đông đảo thì cử người cai quản các bản Mường
gọi là Lang. Một đợt di cư khác là những năm kháng chiến, chiến tranh tàn
phá và sự truy đuổi của giặc buộc họ phải tìm nơi an cư mới. Và dần dần có
sự ổn định như ngày hôm nay. Bao thế hệ Mường đã sinh sống, lao động trên
mảnh đất này, dần dần họ đã tạo được bản sắc riêng cho mình. Trở thành một
vùng Mường đặc sắc.
15
1.4.3.Ngôn ngữ
Người Mường không có chữ viết, chỉ có tiếng Mường. Tiếng Mường
thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á) rất gần với tiếng Việt,
có thể nói một cách khái quát như sau:
sắc thì thành dấu huyền.
1.4.4. Đặc điểm kinh tế
Như bao cộng đồng khác cư trú trên địa hình đồi núi thấp của tỉnh
Thanh Hóa. Hoạt động kinh tế của đồng bào bị giới hạn, bị chi phối mạnh mẽ
bới các yếu tố tự nhiên như địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu. Hoạt động kinh tế
của đồng bào chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt và hái lượm.
- Trồng trọt:
Hình thái kinh tế này rất phổ biến, những cây trồng chủ yếu bao gồm:
lúa nương, khoai, sắn, đậu tương, mía, ở một số khoảng đất trống trên đồi
đồng bào trồng thêm cây sả, ớt.
16
Lúa nương được trồng trên địa hình bằng phẳng hiếm hoi, một năm đồng
bào gieo trồng được hai vụ. Với phương thức canh tác thu công là chính, sử
dụng cày, bừa, cuốc, một vài dụng cụ diệt cỏ thủ công, sức kéo trâu bò được
tận dụng chứ ít dùng máy móc. Cây lúa chỉ đáp ứng nhu cầu lương thực trong
gia đình là chính.
Nghề nông trồng lúa nước được tiến hành ở những nơi có địa bàn bằng
phẳng gần sông, ngòi. Đó là những mảng đồng bằng thung lũng hay những
doi đất nhỏ hẹp dưới chân các dãy núi, ven các đồi gò thấp. Người Mường rất
coi trọng cây lúa nếp, vì trong cuộc sống, bữa ăn truyền thống thì cơm nếp là
nguồn lương thực chủ đạo. Bên cạnh đó, người Mường còn trồng cả lúa tẻ và
ngày càng phổ biến giống lúa này cho năng suất cao. Ngoài những thửa ruộng
nước ở đồng bằng, người Mường đa phần làm ruộng bậc thang tận dụng đất ở
sườn, chân đồi gò. Loại ruộng này thường hẹp về chiều rộng nhưng lại dài
như những cánh cung vòng quanh các đồi gò. Do ruộng bậc thang làm ở trên
cao, nguồn nước tưới tiêu khó khăn nên người Mường biết đào mương bắc
khác như trâu bò. Một số gia đình tổ chức được mô hình chăn nuôi trang trại
quy mô hộ gia đình.
Hoạt động chăn nuôi nhằm mục đích chính là cung cấp thực phẩm và lấy
sức kéo. Gà, vịt, ngan, cá cung cấp nguồn thực phẩm đáng kể cho người dân
nơi đây, tuy nhiên chủ yếu là phục vụ cho gia đình. Trâu bò được sử dụng vào
sản xuất nông nghiệp như lấy sức kéo, địa hình đồi núi phù hợp với sử dụng
sức kéo trâu bò hơn là sử dụng máy móc công nghiệp.
Hoạt động săn bắn và hái lượm là hoạt động kinh tế phụ gắn bó với cuộc
sống thường ngày của người Mường. Nguồn rau rừng như rau tầu bay, rau
rớn, rau vi, đắng cảy, măng giang, măng nứa… được khai thác một cách hợp
lý.
Các cây củ cho bột như củ nâu, củ mài, củ vớn … chỉ được người
Mường khai thác và những năm đói kém, mất mùa. Việc thu hái rau rừng
18
thường được thực hiện cùng với các công việc khác như lấy củi, đi nương rẫy
hoặc lấy rau lợn… Họ tranh thủ làm việc này sau khi đã hoàn tất các công
việc khác mà theo họ là quan trọng hơn. Hoạt động săn bắn chim thú, bổ sung
cho bữa ăn là công việc thường xuyên và là đặc quyền của người đàn ông
Mường. Ngoài ra, săn bắn còn xuất phát từ nhu cầu của việc bảo vệ nương rẫy
khỏi sự phá hoại của chim thú cũng như việc mất mát các con vật nuôi. Trong
gia đình người Mường, người đàn ông thường có những chiếc nỏ súng cho
riêng mình. Họ rất tự hào và chăm sóc chu đáo cho dụng cụ mà họ cho rằng
thể hiện nam tính cũng như vai trò của mình trong gia đình. Con trai Mường
ngay từ nhỏ đã được ông, cha cho theo trong mỗi lần đi săn, làm bẫy thú nên
khi lớn lên rất thạo việc săn bắn. Người Mường biết làm nhiều loại bẫy thú
với những kiểu dáng khác nhau để bẫy những con thú lớn, thú nhỏ và chim.
còn có tơ tằm. Nghề trồng dâu, sắn nuôi tằm tương đối phổ biến trong mỗi gia
đình. Bên cạnh đó, nghề mộc cũng tương đối phát triển. Hầu như ở bản làng
nào của người Mường đều có đội mộc riêng của mình để phục vụ trong xây
dựng nhà cửa, đình miếu hoặc làm hậu sự cho lễ tang… Đàn ông Mường rất
khéo tay trong nghề này. Họ làm ra những sản phẩm tương đối độc đáo như
bao dao, làm cung, nỏ, đồ thổi xôi từ gỗ và các vật dụng khác phục vụ cho
cuộc sống.
- Hoạt động trao đổi hàng hóa
Hoạt động này tập trung ở trung tâm của xã. Nơi đồng bào trao đổi
nguồn thực phẩm tự mình trồng được, đôi khi là măng rừng, mộc nhĩ, nấm
hương, hay một số sản phẩm chăn nuôi khác.
Hoạt động buôn bán ngày càng len lỏi vào tận các bản mường xa, từng
bước tạo nên mối quan hệ giữa miền xuôi và miền ngược, giữa người Mường,
người Kinh và các dân tộc khác, góp phần vào giao lưu văn hoá - kinh tế giữa
các tộc người gần gũi nhau.
20
1.4.5 Đặc trưng văn hóa
1.4.5.1 Tổ chức cộng đồng
Trước kia, ở Thạch Lâm tồn tại chế độ Lang đạo. Lang đạo là người cai
quản bản Mường về tất cả mọi mặt. Lang đạo là người của một dòng họ lớn,
được cử ra để cai quản bản Mường. Giúp việc cho Lang là các Ậu, đây là lớp
tay sai của Lang. Dưới cùng của xã hội là những người lao động bình thường
được gọi là Nọong, họ không có quyền hành gì trong xã hội, họ lao động trên
mảnh đất của Lang, do Lang cấp và cai quản. Tuy nhiên nó chỉ tồn tại trong
xã hội cổ truyền.
Hiện nay, Người Mường được sống bình đẳng với mọi người trong xã
mường đất là nơi trú ngụ của những linh hồn đã khuất, ở đó họ vẫn tiếp tục
cuộc sống. Từ quan niệm này mới có chuyện, những người mắc bệnh mà chết
được đồng bào chữa bệnh cho trước khi đem đi chôn. Họ mời thầy cúng đến
làm lễ, thực hiện một vài nghi thức và họ yên tâm rằng người chết đã hết
bệnh, không mang bệnh tật về cuộc sống bên kia, và họ có thể khỏe mạnh mà
sống ở mường đất.
Qua đây thấy được tinh thần nhân đạo sâu sắc của đồng bào. Muốn cho
người thân của họ có được cuộc sống bên kia khỏe mạnh.
Người Mường ở đây theo tín ngưỡng đa thần. Đồng bào qua niệm rằng
tất cả mọi vật đều có linh hồn, cho đến những thứ tưởng như vô tri vô giác
như hòn đá. Từ quan niệm đó hệ thống ma này có ma nhà, ma cây, ma đá,
ngoài ra còn có thần sông, thần suối, thần núi, thần thổ địa. Khi tiến hành bất
kì công việc gì có thể đụng chạm đến các thần, các ma đều phải sửa lễ mà xin
phép. Lễ vật thường rất đơn giản, là những thứ mà chủ nhà tự sản xuất, phổ
biến như chai rượu trắng, xôi nếp, gà luộc, hay thịt lợn.
Sở dĩ đồng bào coi trọng thần thổ địa, thần sông suối, thần núi là vì
những vị thần này gắn liền và liên quan mật thiết với cuội sống của đông bào.
Họ thường cúng xin thổ địa khi cần dùng đất hoặc khởi công làm công trình
nào đó trong gia đình mà phổ biến nhất là nhà sàn. Đồi núi, sông suối thì rất
22
gần gũi với cuộc sống của đồng bào, liên quan đến canh tác nông nghiệp. Họ
cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mọi việc suôn sẻ để yên tâm lao động, sản
xuất.
Cũng vì xuất phát từ quan niệm rừng núi, cây cối, dòng sông, suối cũng
có linh hồn, do thần linh hoặc ma quỷ cai quản. Cho nên, họ tránh làm nương
rẫy ở những vạt rừng, cây cổ thụ coi là linh thiêng - nơi ngự trị của thần rừng,
vào sử dụng.
Một điểm rất riêng là dù cúng hay ăn uống bình thường, đồng bào
thường có thói quen bày biện lễ vật đồ cúng lên lá chuối, cây chuối có nhiều
trong không gian sống của người Mường.
Ẩm thực người Mường xã Thạch Lâm thể hiện nét độc đáo trong việc
khai thác tự nhiên của đồng bào, những văn hóa đặc sắc này vẫn còn được lưu
giữ trong nét sinh hoạt văn hóa hằng ngày của đồng bào.
1.4.5.5. Cư trú
Nơi cư trú của người Mường nơi đây phụ thuộc nhiều vào địa hình, tuy
nhiên họ thường ưu tiên lựa chọn những địa hình bằng phẳng. Nơi cư trú của
đồng bào thường gần nương rẫy, gần nguồn nước tiện cho sinh hoạt và sản
xuất. Mỗi gia đình thường sinh sống trên một khoảng đất rộng, chứ truyền
thống người Mường không sống theo hàng lối. Ngoài khoảng đất làm nhà còn
có khoảng đất trống để trồng rau và một vài loại cây ăn quả.
Người Mường Thạch Lâm cũng như người Mường ở nhiều địa phương
khác đều sinh sống trên nhà sàn. Đây là không gian sinh hoạt của cả gia đình.
1.4.5.6. Sinh đẻ
Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm
một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ.
Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng
nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi. Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng
dao nứa lấy từ đầu chiếc rui trên mái nhà. Nếu là con trai thì dùng dao nứa
mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau. Cuống rốn của
24
các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng làm
như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau.