LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận nay, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới
các thầy cô giáo, đặc biệt là thầy giáo – Thạc sĩ Hoàng Xuân Thành – giảng viên
môn lịch sử Việt Nam – khoa Sử - Địa đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn thư viện trường Đại học Tây Bắc, thư viện
huyện Bát Xát cùng các cô, chú ở huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai đã tận tình giúp
đỡ em trong quá trình sưu tầm tài liệu và cung cấp những thông tin quan trọng.
Do thời gian thực hiện khóa luận còn nhiều hạn chế nên khóa luận không tránh
khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô
giáo và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện:
Hà Văn Việt
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cơ sở tư
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn hoá Việt Nam là một nền văn hoá đa dạng trong thống nhất, đa dạng
trước hết có thể thấy đất nước ta trải dài từ Lũng Cú (Hà Giang) đến đất Mũi Cà
Mau. Trên dải đất hình chữ S đó, 54 dân tộc anh em cùng tồn tại, chung sống và
phát triển. Mỗi một cộng đồng dân tộc với những đặc trưng văn hoá khác nhau,
phong tục tập quán riêng, đã tạo nên một nền văn hoá Việt Nam đa dạng, phong
phú, đậm đà bản sắc dân tộc. Nó đã tạo thành sợi chỉ đỏ xuyên xuất toàn bộ lịch
sử của dân tộc, nó làm nên sức mạnh giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua
mọi khó khăn để phát triển và lớn mạnh.
Người Hà Nhì cư trú chủ yếu ở vùng thung lũng các tỉnh Lào Cai, Lai Châu
và Điện Biên. Nhưng Hà Nhì ở Lào Cai chiếm một số dân khá đông. Mặc dù là
dân tộc thiểu số, cư trú trên địa bàn đồi núi hiểm trở, đời sống kinh tế của nhân
dân còn nhiều khó khăn, tuy nhiên cùng với quá trình lao động và sản xuất của
dân tộc mình người Hà Nhì đã góp phần to lớn vào quá trình phát triển cũng như
làm phong phú thêm bức tranh văn hoá các dân tộc Việt Nam. Do vậy, việc tìm
hiểu đời sống văn hoá tinh thần của người Hà Nhì đăc biệt là phong tục cưới xin
truyền thống là một việc vô cùng quan trọng. Bởi nó không chỉ giúp ta hiểu rõ
hơn về họ mà còn góp phần nâng cao hiểu biết một cách toàn diện, sâu sắc cũng
như nhìn nhận chính xác hơn về dân tộc Hà Nhì ở huyện Bát Xát nói riêng và ở
Lào Cai nói chung.
Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Hà Nhì. Nhưng
do nhiều lí do khác nhau mà phong tục cưới xin của người Hà Nhì ở huyện
Bát Xát - Lào Cai nói riêng, ở Việt Nam nói chung vẫn chưa có công trình
nghiên cứu chuyên sâu.
Đất nước ta, với hơn 20 năm đổi mới đã thay da đổi thịt từng ngày, nền
kinh tế không ngừng phát triển, sự phát triển đó đã tác động mạnh mẽ tới mọi
+ Chu Thùy Liên (2010), văn hóa dân gian dân tộc Hà Nhì, khái quát về
nguồn gốc lịch sử và các giá tri truyền thống văn hóa của người Hà Nhì ở các
tỉnh Lào Cai, Lai Châu và Điện Biên. Trong đó sơ lược qua về tục cưới hỏi của
người Hà Nhì ở một phạm vi rất hẹp.
Qua các tác phẩm trên, các tác giả đã phần nào đề cập đến cuộc sống con
người, bản sắc văn hóa và tục cưới xin của dân tộc Hà Nhì ở huyện Bát Xát, tỉnh
Lào Cai. Tuy nhiên các tác phẩm còn tản mạn, mang tính khái quát cao. Việc
tìm hiểu về phong tục cưới xin truyền thống hầu như sơ sài, chưa có một tác
phẩm nào đề cập một cách cụ thể, chuyên sâu. Do đó, đây là một vấn đề mới cần
được quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu sâu sắc hơn.
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cơ
sở tư liệu
3
Đối tượng nghiên cứu: Tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở
huyện Bát Xát - Lào Cai.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Tái hiện một cách sinh động và phong phú thêm
phong tục cưới xin của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát - Lào Cai.
Phạm vi nghiên cứu: Tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện
Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử: Đây là phương pháp bao trùm của đề tài gồm: tái
hiện, mô tả, thống kê, liệt kê một cách cụ thể các sự kiện, hiện tượng để làm rõ
tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát – Lào Cai
- Phương pháp thu thập thông tin: Đây là phương pháp rất quan trọng trong
việc tiếp cận vấn đề. Những tài liệu thu thập được về mặt lí luận giúp chúng ta
hiểu rõ hơn về tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát -
Lào Cai cũng như tác động của xã hội tới nó.
- Phương pháp lôgic kết hợp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở những tài liệu
5. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần mục lục, đề tài
gồm 3 chương:
Chương 1 Vài nét khái quát về nguồn gốc lịch sử và đời sống văn hoá tinh
thần của dân tộc Hà Nhì ở huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Chương 2 Tục cưới xin truyền thống của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát -
tỉnh Lào Cai
Chương 3 Một số chuyển biến trong phong tục cưới xin truyền thống của
người Hà Nhì ở huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay
5
CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA NGƯỜI HÀ NHÌ Ở HUYỆN BÁT XÁT - TỈNH LÀO CAI
1.1. Nguồn gốc lịch sử
Hà Nhì tên gọi khác là U Ní, XÁ U Ní là một trong 54 dân tộc sống trên đất
nước Việt Nam, là một gia đình nhỏ tạo nên đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Vì vậy đã có nhiều bài viết, nhiều tác phầm…Viết về nguồn gốc của dân tộc Hà
Nhì nói chung và người Hà Nhì ở huyện Bát Xát (Lào Cai) nói riêng.
Cho đến ngày nay, nguồn gốc của dân tộc Hà Nhì vẫn đang là một vấn đề
khoa học cần được nghiên cứu. Theo lời truyền miệng thì dân tộc Hà Nhì có
nguồn gốc từ người Di (Yi) tách ra thành bộ tộc riêng khoảng 50 đời về trước.
Theo các nhà khoa học, thuỷ tổ của người Hà Nhì là tộc người Khương đã di cư
từ vùng cao nguyên Thanh Tạng (Trung Quốc) xuống phía Nam từ trước thế kỉ
III đến thế kỉ VIII, thư tịch cổ đã viết về sự có mặt của dân tộc Hà Nhì ở Tây
Bắc Việt Nam.
Mặc dù, có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của dân tộc Hà Nhì, song
tất cả đều có một điểm thống nhất đó là người Hà Nhì đã có mặt ở nước ta từ
khá sớm. Họ sống tập trung ở các tỉnh giáp Trung Quốc như: Điện Biên, Lai
“bến thác” vì “Pạc” cũng có nghĩa là “miệng”, ”Srạt” cũng có thể hiểu là “thác”.
Như vậy, dù có hiểu theo nghĩa nào thì tên gọi Bát Xát cũng rất đặc biệt và
mang ý nghĩa sâu xa.
Trong quá trình xây dựng và phát triển huyện Bát Xát, nơi đây đã diễn ra
quá trình giao lưu văn hoá giữa các dân tộc, tạo nên sự phong phú, đa dạng
nhưng thống nhất. Bởi vậy, mỗi dân tộc nơi đây lại có nét truyền thống văn hoá
riêng phù hợp với tâm tư và điều kiện sống của họ.
Hiện nay, người Hà Nhì ở huyện Bát Xát nói riêng và ở Việt Nam nói
chung đã định cư. Họ sống tập chung thành từng bản đông đúc, mỗi bản thường
lên tới trăm hộ. Bản là đơn vị cư trú của người Hà Nhì, thường đặt ở chân núi
cạnh suối hay khe. Tên bản của người Hà Nhì thường đặt theo vị trí mà bản đó
đặt như bản đó có bằng phẳng không? cạnh suối nào và nhiều đá hay không mà
đặt tên bản như: Lao Chải (làng lớn), Suối Tả Hồ…
Nhà ở cổ truyền của người Hà Nhì là nhà đất, kết cấu nhà ở khá đơn giản
và vững chãi. Bộ khung nhà cũng khá đơn giản, không cầu kì và cần nhiều xà,
cột như nhà sàn của người Thái. Nhà có mái hiên rộng, hiên cũng là nơi ngồi
nghỉ, hóng gió của người dân Hà Nhì sau ngày làm việc mệt nhọc trên nương,
trên ruộng. Đồng thời, mái hiên rộng còn có một tác dụng lớn đó là tránh nắng,
mưa rọi vào tường nhà. Người ta còn làm thêm một cột để trở thành vì bốn cột.
Nhà tường trình rất dày, không có cửa sổ và cửa ra vào cũng ít phổ biến nhất là
7
nhà có một cửa ra vào được đặt ở mặt trước của nhà. Điều này phù hợp với điều
kiện sống của đồng bào Hà Nhì ở miền núi cao mưa nắng khắc nghiệt, cũng
nhằm tránh việc trộm cắp, thú rừng…
Nhà ở thường có ba gian ít nhà có bốn gian trở lên. Những nhà có nhiều thế
hệ sinh sống thì mới làm nhà bốn gian trở lên. Các gian trong nhà lại chia thành
các buồng nhỏ, làm phòng riêng cho các thành viên trong gia đình, nhất là đối
với thiếu nữ Hà Nhì thì ai cũng có một phòng dành riêng cho họ. Gian giữa được
coi là phòng khách, ở đây cũng có một bếp phụ và một cái giường dành cho
giới của làng, nhằm khẳng định địa giới của làng mình với làng khác và để xua
đuổi tà ma khỏi làng. Trong phạm vi địa giới đó, thành lập ba miếu thờ thần bảo
vệ cho cuộc sống dân bản, đó là các thần “Rừng” lập miếu thờ ở đầu làng; thần
“Nông” lập miếu ở ngang làng; thần “Bảo vệ” lập miếu ở cuối làng. Mỗi miếu
thờ một cây cổ thụ lâu năm. Ngoài phạm vi không gian địa giới của làng, mỗi
làng đều có một khu “rừng cấm” để bảo vệ nguồn lâm sản xung quanh khu vực
sinh sống, không ai được tự ý chặt phá cây cối, khai thác lâm sản trong rừng
cấm, chỉ trừ những ai lấy gỗ làm nhà mới được phép khai thác và phải xin phép
người quản lý khu rừng cấm do dân làng bầu chọn.
Hệ thống Hương ước của người Hà Nhì đen vô cùng chặt chẽ và khắt khe,
nhằm đảm bảo những giá trị văn hóa, quyền và nghĩa vụ của mỗi người dân
cũng như bảo vệ trật tự trị an trong làng. Bao gồm các Hương ước về: bảo vệ
rừng cấm; công tác hòa giải khi có trán chấp tài sản, ly hôn; xử phạt tội hoang
thai, hiếp dâm, trộm cắp; quy định về phép ứng xử giữa các thế hệ ttrong cùng
một gia đình…
Về ngôn ngữ giao tiếp: Người Hà Nhì thuộc ngữ hệ Tạng - Miến. Tuy
nhiên, ở ba nhóm địa phương khác nhau lại có cách phát âm khác nhau. Trong
giai đoạn hiện nay, do quá trình giao lưu văn hoá cũng như là chung sống hoà
hợp cùng với các dân tộc khác, mà điển hình là dân tộc kinh nên trong giao tiếp
hàng ngày người Hà Nhì cũng sử dụng tiếng kinh. Song tiếng mẹ đẻ vẫn là ngôn
ngữ chủ đạo của người Hà Nhì ở huyện Bát Xát nói riêng và Hà Nhì ở Việt Nam
nói chung.
Về ẩm thực: Trong bữa ăn hàng ngày, người Hà Nhì quen ăn cơm tẻ và cơm
nếp, thực phẩm chủ yếu là từ săn bắt và hái lượm. Vào dịp lễ tết, họ thường
làm nhiều loại bánh mà nguyên liệu chính là bột gạo như bánh trưng, bánh dầy,
bánh trôi…và cả nhiều món ăn truyền thống khác như thịt nướng, thịt xào và đặc
biệt trong ngày tết của người Hà Nhì không thể thiếu cháo ám nấu với thịt gà
hoặc thịt lợn. Trong các bữa ăn sáng, bữa trưa và bữa tối người Hà Nhì rất coi
trọng bữa sáng. Từ sáng sớm thiếu nữ Hà Nhì đã dậy để chuẩn bị bữa sáng cho
cả nhà. Trước khi đi làm, cả nhà phải ngồi quây quần bên nhau ăn sáng mới đi
thực hiện. Đó là lễ tưởng nhớ tổ tiên dòng họ, đọc tên từng tổ tiên và mọi người
cùng nhắc lại. Tên từng người được gọi theo cách gọi phù tử liên danh, tên cha
nối với tên con, nên có vần điệu dễ nhớ. Có nơi nghi lễ này cũng được thực hiện
trong lễ nhập quan cho người chết. Việc thờ cúng tổ tiên có ý nghĩa lớn cho thế
hệ sau, nó vừa nhắc nhở con cháu phải giữ gìn truyền thống tốt đẹp của gia đình
dòng họ, dân tộc vừa là sự tôn kính, sự cảm tạ của con cháu đối với những người
đã khuất và cầu mong họ trở che, phù hộ độ trì cho gia đình khoẻ mạnh, no ấm
và hạnh phúc.
Về ma chay: Người Hà Nhì không chôn cất người chết vào mùa mưa, vào
mùa mưa nếu có chôn cất thì cũng chỉ là quan tài của người được treo xuống
10
huyệt nhưng không lấp mà làm mái che để vậy, hết mùa mưa họ làm lễ chôn cất.
Theo quan niệm của họ, mùa mưa là mùa vạn vật sinh nở, đất ẩm ướt và mát vì
thế khi chôn vào mùa mưa xác người sẽ không thể tan mà xác sẽ sống lại. Với
người Hà Nhì xác chết sau một quãng thời gian dài mà sống lại là một điểm gở
đối với gia đình và dòng họ. Ngoài ra, người Hà Nhì chọn điểm huyệt bằng cách
ném trứng, trứng vỡ ở đâu thì đào huyệt ở đấy. Còn có một số lễ cúng như là lễ
cúng bản vào tháng 3 (âm lịch) và các nghi lễ nông nghiệp như lễ hội “Khu Già
Già”, ăn lúa mới…
Đó là những nét cơ bản về hệ thống tôn giáo tín ngưỡng truyền thống của
người Hà Nhì.
Về thể loại văn học dân gian: Văn học dân gian của người Hà Nhì cũng rất
phát triển bao gồm nhiều thể loại như: truyện thần kì, cổ tích, trường ca, ca dao,
thành ngữ…Dân ca, dân vũ là những hình thức được mọi lứa tuổi ưa thích. Tuy
nhiên, tất cả các tác phẩm văn học của người Hà Nhì thì không được ghi chép lại
cụ thể mà truyền miệng từ người này sang người khác, từ thế hệ này sang thế hệ
khác vì vậy không ai biết rõ tác phẩm ra đời vào thời kì nào và là công trình của
sáng tác tập thể. Các thể loại văn học của người Hà Nhì mang ý nghĩa sâu sắc,
đó là những tác phẩm về lòng tự hào dân tộc, giáo dục cho thế hệ trẻ về lòng yêu
nhịp, trẻ thơ, nam nữ thanh niên vui chơi, hẹn hò, người già thì kể lại cho nhau
nghe những câu chuyện về lai lịch dòng tộc từ 9, 10 đời trước hoặc nói về những
ước nguyện sâu xa, về dâu hiền cháu thảo…
Ngoài ra, đồng bào Hà Nhì còn một số tết như tết tháng 6 khu già già.Tết
diễn ra vào thời điểm cuối hè khi cây lúa bắt đầu lên đồng, ngô gieo đã lên xanh
với ý nghĩa cầu mong một vụ mùa bội thu. Bằng các nghi lễ cổ truyền, người Hà
Nhì thể hiện sự tôn kính đối với thần rừng, núi, trời và thần đất.
Về các trò chơi giải trí: Trẻ em Hà Nhì thích chơi các trò chơi đòi hỏi lòng
dũng cảm, khéo léo như đấu vật, đuổi bắt, trốn tìm, chơi cù, đu quay. Bên cạnh
đó còn có một số trò chơi giải trí như ném Còn. Ném Còn của người Hà Nhì
khác với ném Còn của người Thái. Người Hà Nhì ném Còn chỉ cần 2 đội ở cách
xa nhau đến vài chục mét, hai đội thi nhau ném, khi nhóm này ném sang thì
nhóm bên kia phải bắt quả còn, nếu bắt trượt sẽ phải cởi bỏ một thứ đồ trên
người như mũ, vòng tay, dép…Bên nào hết đồ trước thì bên đó thua.
Nói chung, những ngày lễ tết với các trò chơi giải trí đều mang ý nghĩa lành
mạnh. Nó nói lên mong ước của người dân lao động muốn làm sao cho mùa
màng bội thu, đời sống no ấm, hạnh phúc. Đồng thời cũng nhằm cải thiện phần
nào đời sống của người lao động sau những ngày lao động vất vả trên đồng
ruộng, trên nương rẫy.
Với những bản sắc văn hoá riêng, người Hà Nhì ở huyện Bát Xát - tỉnh
Lào Cai đã góp phần nhỏ bé làm phong phú thêm cho bức tranh văn hoá chung
của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Ngày nay, cùng với sự quan tâm của các
12
cấp uỷ đảng, nhà nước, những tập quán cổ hủ, lạc hậu dần được loại bỏ thay
vào đó là những nếp sinh hoạt văn hoá lành mạnh, góp phần xây dựng văn hoá
huyện Bát Xát nói riêng và tỉnh Lào Cai nói chung ngày càng tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc.
Hai cách dẫn tới hôn nhân:
- Hôn nhân được tiến hành giữa đôi trai gái trên cơ sở tình yêu đôi lứa, qua
quá trình tìm hiểu với nhau từ trước
Nam nữ Hà Nhì khi đến tuổi “trăng tròn” đã có những hiểu biết xã hội cơ
bản và làm được những công việc của người lớn thì tự ý thức được số phận của
bản thân, lo lắng cho tương lai sau này của mình và bắt đầu đi tìm một người
yêu có cùng lý tưởng sống, cùng hoàn cảnh và cùng sở thích cá nhân. Tình yêu
đôi lứa được xây dựng và lớn lên trong các lễ hội “chùm chăn”, “khu già già”,
14
“ka tho tho”, những đêm hẹn hò, hát giao duyên dưới ánh trăng tròn họ tâm
tình với nhau, kể cho nhau nghe về hoàn cảnh gia đình, ước mơ trong cuộc sống
sau này, những kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày khi tìm hiểu kỹ về
nhau, thấy có cùng chung chí hướng, tin tưởng vào nhau thì đôi trai gái quyết
định đi đến hôn nhân và cùng hẹn ước.
Lúc này, người con trai sẽ đưa cho người con gái một vật giao ước, người
con trai xin của bố mẹ hoặc anh, chị năm đồng bạc trắng, một nắm thuốc lào,
kèm theo một số đồ nữ trang tất cả được gói gọn trong một cái khăn mùi xoa
làm vật giao ước. Vật giao ước mà người con trai đưa cho người con gái được
coi là vật đính hôn đồng thời là lời thề ước sẽ ở bên nhau trọn đời. Khi người
con trai trao vật giao ước cho người con gái, người con gái không chìa tay ra
nhận ngay mà e thẹn lấy tà áo đỡ vật giao ước, điều đó nói lên rằng người con
gái đón nhận tình cảm và lời cầu hôn của người con trai bằng cả tấm lòng chân
thành và nguyện đi theo chàng trai suốt đời.
- Hôn nhân được tiến hành trên cơ sở sự tác hợp của gia đình và dòng họ
Như đã nói trên, nam nữ Hà Nhì được tự do tìm hiểu và lựa chọn bạn đời
không bị lệ thuộc vào sự sắp đặt của bố mẹ. Tuy nhiên, nếu ai đó nhất là con trai
đã đến tuổi mười tám đôi mươi mà vẫn không tìm được cho mình một người
yêu, không thông báo cho bố mẹ chuyện lấy vợ thì bị coi là người kém cỏi, bị
bạn bè chê bai. Bố mẹ cũng lo lắng và hối thúc con. Lúc này, bố mẹ sẽ cất công
công việc nặng nhọc như: Đi cày, bừa, vác gỗ làm nhà, biết trình tường, rào
vườn, đào ruộng bậc thang…biết giao lưu bạn bè bốn phương để mở mang tầm
mắt, đi tìm người yêu, đi kiếm vợ.
Ở tuổi 15, 16 bố mẹ cũng thường lưu tâm dạy dỗ con trai về những kinh
nghiệm sống, kinh nghiệm sản xuất, chăn nuôi, dạy con trai biết đan địu, đan
mâm cơm, đóng bàn ghế để sớm trở thành trụ cột trong gia đình
Nếu không làm được những công việc kể trên thì người con trai sẽ bị coi là
kém cỏi, chưa trưởng thành và thua xa bạn bè. Do đó sẽ rất khó kiếm được
người yêu và khó lấy được vợ.
Những công việc mà người con gái phải làm
Nếu người con trai Hà Nhì từ nhỏ được bố mẹ cho đi học cày bừa, biết trình
tường, đan địu thì người con gái Hà Nhì ngay từ khi mới 11 tuổi, 12 tuổi đã
được bố mẹ dạy bảo chu đáo.
Trong cuộc sống của dân tộc Hà Nhì, vai trò của người phụ nữ luôn luôn
được đề cao, người Hà Nhì quan niệm: Trong cuộc sống, nếu không có sự dung
hợp của cả nam và nữ thì sẽ không duy trì được nòi giống, xã hội sẽ mất cân
bằng, bị đảo lộn. Để xứng đáng với vai trò và vị trí của mình, con gái Hà Nhì
phải học rất nhiều việc hơn con trai trước khi làm dâu, làm mẹ và làm vợ.
16
Trước hết, các bà mẹ dạy con gái biết ăn ở sạch sẽ, gọn gàng, biết giặt giũ,
quét dọn nhà cửa, dạy con gái biết sắp xếp đồ đạc trong gia đình, dạy con cách
chăn gà, chăn vịt…dạy cách trồng các loại hoa màu. Đặc trưng kinh tế của
người Hà Nhì là sống tự cấp, tự túc vì vậy, con gái Hà Nhì phải biết trồng các
loại hoa màu và thực phẩm thiết yếu như: đỗ tương, lạc, khoai, sắn…và đặc biệt
là biết trồng ớt.
Cũng như các dân tộc khác sinh sống trên dải đất hình chữ S, tiêu chuẩn
một phụ nữ hoàn thiện của người Hà Nhì đó là biết thêu thùa, biết may vá, biết
dệt vải, xen tơ. Vì vậy, con gái Hà Nhì khi đến tuổi trưởng thành bắt buộc phải
học được cách dệt vải, thêu, may. Đầu tiên, các cô gái sẽ được mẹ dạy cho
trai gái chính thức trở thành vợ chồng. Lần cưới thứ hai, cưới bên nhà gái. Lần
cưới này được tổ chức sau lần cưới thứ nhất từ 5 đến 6 tháng hoặc có thể lâu
hơn, không bị giới hạn về thời gian, cho đến khi nào nhà trai đã làm ăn khấm
khá mới tổ chức lần cưới thứ hai. Vì ở lần cưới thứ hai này đòi hỏi phải chuẩn bị
nhiều lễ vật, tốn nhiều tiền của hơn lần cưới thứ nhất.
Sự chuẩn bị cho đám cưới lần 1 (bên nhà trai)
Con trai Hà Nhì sau khi đã tìm được người yêu thì cùng người yêu chọn
ngày cưới thích hợp rồi đến nhờ bạn bè hoặc anh, chị, em báo giúp cho bố mẹ
biết là mình muốn lấy vợ. Việc thông báo sẽ cưới vợ cho bố mẹ có thể cách 3
ngày trước khi cưới, cũng có trường hợp chỉ cách có 1 ngày.
Do con trai báo tin mừng “đột ngột”, bố mẹ không có sự chuẩn bị từ trước
nên việc chuẩn bị diễn ra khẩn trương và nhanh gọn. Trong nhà có con lợn, con
gà béo nào thì bố mẹ đem ra mổ, hàng xóm láng riềng cũng góp gạo, góp rau,
góp gà…để mừng cho lễ cưới của đôi bạn trẻ. Đại thể ở lần cưới thứ nhất này
gồm có: một con lợn (khoảng 40 - 50kg), một con gà trống, một gói xôi, nếu nhà
nào có điều kiện thì sự chuẩn bị có thể nhiều hơn.
Ngoài ra, bố mẹ chú rể phải đi tìm hai người phụ nữ có tuổi trong làng để
giữ nhiệm vụ “bà đón dâu”, chú rể phải tìm một người bạn thân nhất để làm
“phù rể”, cùng chú rể đi rước dâu bên nhà gái. Một cô đón dâu nữa không thể
thiếu trong đoàn đón dâu, và cô đón dâu này thường là em gái của chú rể.
Đối với bên nhà gái, người cô cũng báo tin “đột ngột” và trước ngày cưới 2
đến 3 ngày, khoảng thời gian ấy, bố mẹ nhà gái dạy con cách búi tóc, dạy con
gái cách làm dưa chua, chuẩn bị cho con bộ trang phục mới mặc trong ngày
cưới, một cái túi đeo cũng là vật không thể thiếu trong hành trang người thiếu nữ
Hà Nhì về nhà chồng.
Sự chuẩn bị cho đám cưới lần 2 (bên nhà gái)
Đám cưới lần thứ hai bên nhà gái thường được tổ chức sau đám cưới bên
nhà trai từ 5 đến 6 tháng, khi nhà trai đã chuẩn bị đầy đủ đồ sính lễ theo yêu cầu
của nhà gái. Tuy nhiên, lần cưới thứ hai này không giới hạn về thời gian, có
cuộn chỉ màu đen cuốn qua đầu, trên đỉnh đầu đội chiếc khăn được đan bởi
những bàn tay khéo léo của cô thôn xóm núi.
Đối với trang phục của chú rể, quần áo của họ thường màu đen có viền cổ
màu xanh, trên đầu là chiếc khăn vấn thay cho chiếc mũ đội đầu, vừa có tác
19
dụng che nắng và thấm mồ hôi. Hàng cúc áo bằng vải cài trước ngực tương đối
đơn giản, dễ làm. Cả cô dâu và chú rể đều mặc quần đen, ống to truyền thống.
2.3.3. Tổ chức đám cưới của người Hà Nhì
Tổ chức đám cưới bên nhà trai (Dí Bà Đú)
- Chàng trai đi rước dâu:
Đến ngày cưới không khí trong nhà vui rộn hẳn, người Hà Nhì có câu:
“nhộn như cô gái cưới chồng”, trong nhà đâu đâu cũng tiếng cười nói, tiếng
chúc tụng, tiếng trẻ con đùa nghịch, tiếng gà, tiếng lợn vang rọi cả vùng chân
trời mờ xa. Tất cả đã ở thế sẵn sàng cho lễ kết duyên giữa đôi “nam thanh nữ
tú”, cho buổi kết nạp một thành viên mới trong gia đình.
Lễ đón dâu của người Hà Nhì diễn ra không phức tạp, không nhiều công
đoạn như một số dân tộc khác, mà chỉ có hai người: Chú rể và phù rể. Hai người
âm thầm đến địa điểm đã thoả thuận để đón dâu.
Trước khi về nhà chồng, cô dâu được bố mẹ trang điểm, chuẩn đồ dùng cần
thiết, dặn dò những lễ nghi, phép tắc. Bà mẹ dạy con những kiến thức cơ bản về
sức khoẻ sinh sản, cách tự chăm sóc bản thân và những bí quyết để giữ gìn, xây
dựng hạnh phúc gia đình.
Một điều đặc biệt riêng có của người Hà Nhì là trong lần cưới thứ nhất này,
bên nhà gái không tổ chức một hoạt động, lễ nghi gì mừng con gái đi lấy chồng.
Các thành viên trong gia đình vẫn làm các công việc thường nhật và cứ coi như
trong nhà không có chuyện gì xảy ra cả. Ngược lại, với người mẹ của cô dâu thì
đây còn là một sự mất mát lớn, bởi vì người mẹ đã nuôi nấng, dưỡng dục con
gái từ ngày còn thơ bé đến ngày lấy chồng. Sau khi lấy chồng người con gái sẽ
trở thành thành viên của một gia đình khác và bắt đầu cuộc sống mới, hai mẹ
Em có cùng anh về nhà?”
Người con gái nghe vậy cũng e thẹn đáp lại:
“Ê chị bơ à nhí ế co
Nga chị lệ nô chị à mê thề nga
Ngà lệ a có chị nghé
Nu chị no co gụ ly chị bo
Nò bơ má bi gụ ly”.
Dịch nghĩa:
“Hỡi anh con trai nhà người
Em cũng phận thấp bé
21
Cũng nhà bố mẹ nghèo khó
Đã thương anh từ thuở nào
Muốn cùng anh xây đắp hạnh phúc
Anh có cho em cùng về?”
Sau lời đối đáp cầu hôn đầy áp tình cảm giữa cô dâu và chú rể, hai phù dâu
sẽ chuyển tới chú rể lời dặn dò, lời chúc hạnh phúc của mẹ vợ và cuối cùng họ
chúc đôi bạn trẻ trăm năm hạnh phúc rồi quay trở về làng. Cô dâu, chú rể và phù
rể tiếp tục hành trình rước dâu về làng chú rể.
- Rước cô dâu vào nhà:
Khi chú rể và phù rể rước dâu đến đầu làng (chú rể), em gái chú rể đã đợi
sẵn ở đó để đón cô dâu về nhà. Việc cô em gái ra đầu làng đón chị dâu là một
việc làm thể hiện sự vui mừng, mong ngóng của cả nhà, của các anh chị em
trong gia đình. Ngay sau khi gặp, cô em gái sẽ tâm sự, hỏi thăm chị nhằm hiểu
chị hơn cũng như mong muốn chị em trong gia đình sẽ sớm hoà nhập, thân thiết
với nhau.
Ở gia đình chú rể, lúc này mọi thứ đã ở thế sẵn sàng để đón dâu, mâm cỗ đã
chuẩn bị xong xuôi, khách khứa đã đến đông đủ. Hai bà đón dâu cũng đã ở vị trí
đón dâu.
cả rượu, thịt đi mời từng vị khách để cùng ăn mừng.
Sau lễ cúng tổ tiên, bố mẹ sẽ chuẩn bị một mâm cơm gồm có: Một gói xôi
mà cô dâu đem theo từ nhà, bốn bát con xếp đối diện với nhau, 2 đôi đũa, trong
4 bát con, 2 bát bên trái sắp xôi, 2 bát bên phải mỗi bát sắp một cái đùi gà. Hai
đôi đũa được sắp dọc ở giữa 2 bát xôi và 2 bát đùi gà. Sau đó, cắt đôi một quả
trứng luộc, chia cho mỗi bát xôi nửa quả, nhưng nửa quả của bát này phải úp
xuống và nửa quả ở bát kia sẽ ngửa lên.
Sau khi đã sắp xong như trên thì thực hiện bước tráo đổi trình tự sắp xếp
như sau:
Bát xôi bên dưới ở phía bên trái sẽ đổi với bát đùi gà bên dưới ở phía bên
phải để cả hai bên trái và bên phải mỗi dãy đều có cả xôi và thịt, sau đó lại đổi vị
trí 2 đôi đũa với nhau, tiếp đó sắp lại chúng từ chiều dọc xuống chiều ngang.
Cuối cùng, cô dâu và chú rể sẽ phải thực hiện nghi thức ăn, chú rể sẽ ăn xôi và
đùi gà bên phải, có nửa quả trứng úp xuống. Còn cô dâu sẽ phải dùng xôi và thịt
bên tay trái, có nửa quả trứng ngửa lên.
Việc sắp và tráo đổi vị trí của bát xôi, đôi đũa như trên về bề ngoài có vẻ
phức tạp và không có ý nghĩa gì, nhưng theo quan niệm của người Hà Nhì thì
đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với cô dâu và chú rể trong ngày
cưới của họ. Sự phân chia trên thể hiện một quan niệm sống bình đẳng, có vai
trò và nghĩa vụ như nhau giữa hai người (vợ và chồng). Đồng thời, là sự quyết