TÌM HIỂU LỄ HỘI CỔ TRUYỀN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á -KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VŨ THỊ THOA
TÌM HIỂU LỄ HỘI CỔ TRUYỀN
Ở MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Vũ Thị Thoa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Bố cục của đề tài 3
CHƯƠNG 1. CÁC LỄ HỘI CỔ TRUYỀN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA ĐÔNG
NAM Á 4
1.1. Hoàn cảnh, đặc điểm tự nhiên của Đông Nam Á với sự ra đời của các lễ
hội cổ truyền 4

hấp dẫn. Đó là lễ hội cổ truyền của cộng đồng các dân tộc trong khu vực.
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, ra đời và phát triển
trong xã hội loài người. Lễ hội là một trong những “hoạt động văn hóa cao”, là
“hoạt động văn hóa nổi trội” trong đời sống con người nói chung, cư dân Đông
Nam Á nói riêng. Hoạt động trong lễ hội là hoạt động của cộng đồng hướng tới
“xử lí” các mối quan hệ của chính cộng đồng đó, được diễn ra với những hình
thức và cấp độ khác nhau nhằm thỏa mãn và phục vụ lợi ích đa dạng trước mắt
và lâu dài của các tầng lớp người, thỏa mãn nhu cầu của các cá nhân và tập thể
trong môi trường mà họ sinh sống. Lễ hội là môi trường thuận lợi để các yếu tố
văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát triển. Đây chính là tinh hoa được
đúc rút, kiểm chứng và hoàn thiện trong dọc dài lịch sử của bất cứ cộng đồng
cư dân nào.
Lễ hội cổ truyền ở Đông Nam Á là một loại hình văn hóa chứa đựng những
đặc điểm chung của bộ mặt văn hóa khu vực. Đó là màu sắc của văn minh nông
nghiệp trồng lúa nước, của khí hậu gió mùa nóng ẩm và đặc biệt là sự kết hợp
hài hòa giữa màu sắc của tín ngưỡng tôn giáo trong văn hóa bản địa với văn hóa
du nhập ngoại lai. Nhưng nổi lên trên hết là sự thể hiện phong tục tập quán lành
mạnh và đời sống tinh thần phong phú của cư dân. Lễ hội cũng là dịp để con
người gần gũi nhau, cảm thấy được sống giữa không khí chan hòa, đùm bọc
nhau. Trong khi cùng cúi đầu dâng hương trước một bàn thờ, rước một pho
tượng, hay cùng nhau hát một bài hát, chơi một trò chơi, người ta đã nói với
nhau lời giao ước vì một sự gắn bó bền lâu. Nhà Việt Nam học người Pháp
G.Dumoutier, sau khi dự một lễ hội Phù Đổng ở miền Bắc Việt Nam, đã viết:
“ Cái cảnh mà chúng tôi đã chứng kiến sẽ mãi mãi in trong tâm trí như một
trong những cảnh đáng ngạc nhiên nhất mà chúng tôi đã thấy được Tại châu
Âu cổ kính của chúng ta có dân tộc nào có thể tự hào là hằng nǎm còn kỷ niệm

2
một sự kiện anh hùng trong lịch sử của mình xảy ra cách ngày nay hàng hai
nghìn ba trǎm nǎm như thế…”.

Nam” (Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2002).

3
- Tác phẩm “Tập quán và lễ hội cổ truyền các dân tộc Lào” của Nguyễn
Văn Vinh (NXB TP Hồ Chí Minh) cũng giới thiệu khá chi tiết về các lễ hội
truyền thống của Lào.
Các tác phẩm trên đã khái quát được khung cảnh các lễ hội cổ truyền ở khu
vực Đông Nam Á nhưng chưa nghiên cứu kĩ càng và phân loại các loại hình lễ
hội trong tổng thể lễ hội ở khu vực này. Do đó, tôi chọn vấn đề “Tìm hiểu lễ hội
cổ truyền ở một số quốc gia Đông Nam Á” làm vấn đề nghiên cứu.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các lễ hội cổ truyền ở một số quốc
gia Đông Nam Á.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trong phạm vi là nghiên cứu về nguồn gốc, nội dung,
các đặc điểm chung và giá trị của các lễ hội cổ truyền trong đời sống văn hóa ở
khu vực Đông Nam Á.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát về hoàn cảnh, điều kiện tự nhiên của khu vực Đông Nam Á với
sự ra đời các lễ hội cổ truyền.
- Tìm hiểu một cách có hệ thống các loại hình lễ hội cổ truyền ở Đông Nam
Á, từ đó rút ra đặc điểm chung cũng như giá trị của các lễ hội này đối với đời
sống văn hóa trong khu vực.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tôi sử dụng các phương pháp truyền thống là phương
pháp lịch sử, phương pháp lôgic. Ngoài ra, tôi cũng sử dụng các phương pháp
khác như phân tích, tổng hợp, liệt kê… để nghiên cứu vấn đề đã đặt ra.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài có 2 chương:

Tổng diện tích Đông Nam Á hiện nay khoảng trên 4,5 triệu km
2
, bao gồm một
quần thể các đảo, bán đảo và quần đảo, các vịnh và biển chạy dài suốt từ Thái
Bình Dương đến Ấn Độ Dương. Xét về mặt địa lí hành chính, Đông Nam Á gồm
11 nước: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Malaixia, Xingapo,
Inđônêxia, Philippin, Brunây và Đôngtimo. Khu vực Đông Nam Á còn là nơi
giao nhau của các mảng địa chất có núi lửa và động đất hoạt động mạnh. Đông
Nam Á cũng có thể chia làm hai nhóm chính: Mianma, Thái Lan, Campuchia,
Lào và Việt Nam nằm ở Đông Nam Á lục địa, còn gọi là bán đảo Trung Ấn,
trong khi đó các nước còn lại tạo nên nhóm Đông Nam Á hải đảo. Nhóm Đông
Nam Á hải đảo này được hình thành bởi nhiều cung đảo thuộc về vành đai núi
lửa Thái Bình Dương và là một trong những khu vực có hoạt động núi lửa mạnh
nhất thế giới.
Dân số hiện nay khoảng gần sáu triệu người với nhiều sự khác biệt về diện
tích, dân số, mức sống giữa các nước.
Đông Nam Á từ lâu vẫn được coi là một khu vực có ý nghĩa quan trọng
trong toàn bộ lịch sử thế giới từ những bước đi đầu tiên của loài người và trong
từng chặng đường lịch sử. Song trước đây, người ta thường hiểu tầm quan trọng
của lịch sử Đông Nam Á chủ yếu ở vị trí địa lí của nó. Khu vực này từ xa xưa
vẫn được coi là “ngã tư đường”, là hành lang, cầu nối giữa thế giới với Trung
Quốc, Nhật Bản, với khu vực Tây Á và Địa Trung Hải. Vì thế, không phải ngẫu
nhiên mà mối liên hệ khu vực này với thế giới đã được xác lập ngay từ thời cổ

5
đại. Cũng không phải ngẫu nhiên mà ở đây từ lâu đã có mặt những nhà địa lí hay
du lịch, nhà truyền giáo hay ngoại giao của cả phương Đông và phương Tây như
Ptôlêmê, Khang Thái, Nghĩa Tĩnh, Pháp Hiển… Họ đến đây xem xét, ghi chép
và để lại những tài liệu quý giá cho đời sau.
Ý niệm về Đông Nam Á như một khu vực riêng biệt đã có từ lâu. Song cùng

xúc văn hóa giữa các quốc gia. Đồng thời, do vị trí nằm trên vành đai sinh

6
khoáng nên Đông Nam Á là vùng khá giàu có về khoáng sản: sắt, niken, đồng,
thiếc, kẽm, chì… Thiếc ở Đông Nam Á chiếm 70% trữ lượng thế giới (khoảng
3,6 triệu tấn) và có hàm lượng cao, Malaixia đứng hàng đầu (1,5 triệu tấn), sau
đó là Inđônêxia (gần 1 triệu tấn). Đồng có ở tất cả các nước nhưng nhiều nhất là
Philippin với trữ lượng 6 triệu tấn, rồi đến Inđônêxia (gần 1 triệu tấn), Malaixia
(80 vạn tấn). Quặng mangan có trữ lượng chung khoảng 25 triệu tấn. Trong đó
Inđônêxia khoảng 10 triệu tấn, Thái Lan 7 triệu tấn. Quặng sắt ở Inđônêxia (1,7
tỉ tấn), Philippin, Lào gần 1 tỉ tấn [11,74]. Trữ lượng dầu mỏ ở Đông Nam Á
khá lớn, tạo thành vành đai dọc bờ biển Sarawak, Sabah (Malaixia), Brunây cho
đến tận Nam Việt Nam.
Đông Nam Á có mạng lưới sông ngòi dày đặc. Đây là một nguồn lợi lớn về
kinh tế, trước hết là về mặt giao thông vận tải. Các con sông lớn có giá trị kinh
tế cao phần lớn đều nằm ở bán đảo Trung Ấn: sông Mê Công (dài 4500km, đoạn
chảy vào khu vực Đông Nam Á dài 2600km), sông Hồng, sông Saluen
(3200km), sông Iraoadi (2150km), sông Mê Nam (1200km). Các sông ở khu
vực hải đảo thường ngắn, dốc, có giá trị thủy điện cao. Hệ thống sông ngòi dày
đặc chính là một trong những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cuộc sống của
người dân Đông Nam Á ngay từ buổi đầu tiền sử của họ.
Điều đặc biệt là các nước trong khu vực Đông Nam Á nằm trong vùng nội
chí tuyến, chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa. Vì thế, Đông Nam Á còn được
mệnh danh là khu vực “Châu Á gió mùa”. Gió mùa đã điều hòa bớt những điều
kiện thông thường, giảm bớt sự không thuần nhất, sự gay gắt về khí hậu đáng lẽ
phải có và tạo nên hai mùa rõ rệt: mùa khô lạnh, mát và mùa mưa tương đối
nóng, ẩm. Khí hậu biển cũng là một đặc điểm quan trọng đối với tuyệt đại đa số
các quốc gia Đông Nam Á. Tuy có đường xích đạo chạy qua nhưng chỉ có khu
vực Đông Nam Á nằm trên biển. Đường bờ biển của Đông Nam Á rất dài. Đây
chính là nguyên nhân gây mưa nhiều, khiến cho lượng nước luôn dư thừa trên

bản địa của nền văn hóa Đông Nam Á, một đặc trưng rất nổi bật so với các
vùng, miền khác trên thế giới.
Lễ hội dân gian Đông Nam Á thể hiện rõ những đặc trưng trên, nó mang
đậm màu sắc của nền văn minh lúa nước và chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng, tôn
giáo bản địa lẫn ngoại lai. Cho nên có thể khẳng định rằng, điều kiện tự nhiên,
điều kiện xã hội là cơ sở quan trọng cho việc hình thành các lễ hội dân gian với
những đặc trưng về nội dung và phong phú về thể loại, hình thức.
Không ai có thể đưa ra một bảng thống kê đầy đủ tất cả các lễ hội ở khu
vực Đông Nam Á bởi số lượng của nó quá nhiều. Có lễ hội của chung cho cả các
quốc gia dân tộc, có lễ hội cho một vùng và cũng có những lễ hội chỉ diễn ra
trong một làng, một bản. Về đại thể, lễ hội ở Đông Nam Á có thể chia thành 3
loại hình chính: lễ hội nông nghiệp, lễ hội tôn giáo và lễ hội tưởng niệm các vị
danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc, thành hoàng…
1.2. Các loại hình lễ hội cổ truyền ở Đông Nam Á
1.2.1. Lễ hội nông nghiệp
Nông nghiệp trồng lúa mà chủ yếu là lúa nước đã trở thành đặc trưng kinh
tế của khu vực Đông Nam Á. Lúa được coi là linh hồn trong lao động sản xuất

8
và sinh hoạt văn hóa tinh thần của cư dân khu vực này. Có thể nói, chính nghề
nông trồng lúa nước đã nảy sinh các lễ hội cổ truyền ở Đông Nam Á.
Do cây lúa được coi là cây trồng quan trọng nhất nên cư dân Đông Nam Á
rất quan tâm đến yếu tố tự nhiên, thời tiết,… Trong dân gian Việt Nam lưu
truyền rộng rãi những câu ca dao như:
“Người ta đi cấy lấy công
Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời yên, biển nặng mới yên tấm lòng.”

chồng nhà nọ, sống cạnh kho thóc cãi nhau, gây tiếng ồn ào khó chịu, làm phiền
đến thần Lúa. Thần Lúa bỏ đi ẩn náu ở một khe núi. Thế là nạn đói xảy ra ở
vùng đó. Người Khơ me tìm mọi cách mời Thần về nhưng đều bị Thần từ chối.
Cuối cùng, một người có tín nhiệm được cử đến mời mọc mãi, Thần mới chịu trở
về. Nhưng từ đó trở đi, thóc không tự bay về nữa mà người dân phải mất công
gặt hái để mang thóc lúa về nhà” [2,127].
Nhiều truyền thuyết khác ở các nước Đông Nam Á cũng có cốt truyện
tương tự như hai truyền thuyết trên. Với nội dung như thế, con người muốn răn
dạy thế hệ sau phải biết quý trọng thành quả lao động của mình, sống thủy
chung, có trước, có sau. Và khi đã tin rằng cây lúa có hồn như vạn vật khác, con
người đã nảy sinh tư tưởng sùng bái. Do vậy, lễ hội nông nghiệp quan trọng nhất
là lễ hội gắn với cây lúa và vòng đời của nó, những nghi lễ phức tạp diễn ra
trong chu trình trồng lúa như một quy luật tuần hoàn, bất kì tháng nào, mùa nào
ở Đông Nam Á cũng có lễ hội như một nét văn hóa, tập tục không thể thiếu
được trong đời sống tinh thần và sản xuất của cư dân. Đi cùng với lễ hội nông
nghiệp về lúa còn là sự biểu hiện đa dạng của tín ngưỡng phồn thực - tín ngưỡng
bản địa, nó là niềm mơ ước về sự sinh sôi, nảy nở của vạn vật, mùa màng.
Gắn với đời sống sinh hoạt, tập quán canh tác mà ở mỗi nước, lễ hội lúa lại
được thực hiện dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Quy trình trồng lúa
đầu tiên là cày, bừa, gieo hạt, đã được phản ánh trong nhiều lễ hội khác nhau ở
các quốc gia Đông Nam Á.
Đầu tiên có thể kể đến lễ dựng chòi cày. Đây là lễ mở đầu cho công việc
đồng áng hàng năm của người Chăm. Trước khi khởi đầu công việc gieo cấy,
người Chăm thường dựng lên một cái chòi nhỏ ở gần ruộng của mình để trú ngụ
tránh mưa, nắng và để dụng cụ lao động trong thời gian cày cấy. Lễ này được
thực hiện trên thửa ruộng của từng gia đình. Thầy cúng lễ là ông “cai mương”
(Hamu ia) hoặc “Ong từ” (Camưney). Ngày cúng lễ là ngày thứ tư hay thứ bảy
trong tuần. Lễ vật gồm có một cặp gà, năm mâm cơm, rượu, trứng, trầu, cau…
Mục đích của lễ này là cầu mong cho mưa thuận, gió hòa, công việc cày cấy
được suôn sẻ, mùa màng tốt tươi…

hiện của sự sinh sôi, nảy nở và gửi gắm những ước mơ, khát khao về cuộc sống
ấm no, an lành. Một hồi chiêng vang lên, thầy mo thắp hương, đọc lời khấn và
bắt đầu những nghi lễ. Thầy mo tay cầm nậm nước làm bằng vỏ bầu khô (do
những thiếu nữ đẹp nhất, còn trinh trắng của các bản mường lấy về từ đầu
nguồn) ngửa mặt lên trời cầu khấn rồi vẩy nước ra khắp bốn phương. Đó là thứ
nước tượng trưng cho nước thiêng từ Mường trời tưới xuống nhân gian, cho cây
cối tươi tốt, mùa màng sinh sôi, cuộc sống ấm no.

11
Lễ hội xuống đồng của người Mường (Thanh Sơn - Phú Thọ) cũng diễn ra
rất sôi động. Ngay từ sáng sớm các gia đình trong bản đã dậy để làm lễ khai
canh. Nhà nhà rong trâu ra ruộng, cày hai đến ba đường gọi là “làm phép”
những thửa ruộng của mình và cầu khấn quanh năm thóc lúa đầy đụn (bồ đựng
thóc quây tròn, không có đáy).
Còn nhân dân làng Ngà (Quế Võ - Bắc Ninh) có hình thức lễ hội xuống
đồng mang đậm tín ngưỡng phồn thực. Lễ hội này đã biến thành “hội Chen” -
nam và nữ xô chen nhau xuống bờ ruộng. Đây là hành động cầu mong cho vạn
vật sinh sôi, nảy nở.
Trong khi đó, nhân dân Campuchia lại có lễ hội ban phát giống lúa thiêng
về cho các địa phương rất độc đáo. Trong lễ hội, người đón vua Mâkh châm lửa
vào lúa. Nhân dân té nước dập lửa. Lúa đã qua lửa đỏ và nước lạnh được phân
phát cho người đứng đầu các tỉnh để mang về làm giống cho các địa phương.
Trong nông nghiệp, muốn được mùa màng bội thu ngoài yếu tố giống còn
có các yếu tố khác như đất, nước, ánh sáng… Cho nên mùa gieo hạt cũng là mùa
của các lễ hội cầu mưa, lễ hội tế thần đất, nước, mặt trời và các lực lượng siêu
nhiên khác được diễn ra khắp nơi.
Nước là yếu tố cực kì quan trọng, thiết yếu cho sự sống của con người và
sinh vật. Đối với nông nghiệp, nước lại càng cần thiết hơn. Có đủ nước thì cây
cối mới sinh trưởng và phát triển tốt được. Do đó, ở khu vực Đông Nam Á cũng
có nhiều lễ hội liên quan đến việc cầu nước, cầu mưa.

thường rửa chân tay trước khi đi ngủ. Nhờ khả năng hiểu ngôn ngữ của loài
chim, Thammabane đã có được đáp án chính xác giúp chàng trai chiến thắng
được cuộc đấu trí với các vị thần. Theo cam kết Kabinlaphom phải chặt đầu của
mình. Với khả năng phi thường của một vị thần và biết trước được những tai
họa sẽ xảy ra nên ngài đã dặn dò lại 7 người con gái yêu của mình phải giữ gìn
đầu của ngài cẩn thận vì nếu đầu của ngài rơi xuống đất sẽ khiến cho vạn vật bị
thiêu cháy, ném xuống biển nước sẽ ngay lập tức bị khô cạn, còn tung lên trời sẽ
gây ra hạn hán. Nghe lời cha, những người con gái của vị thần đã đặt đầu của
ngài lên một cái đĩa vàng và cất giữ ở đỉnh núi thiêng. Hàng năm, 7 người con
gái cùng với chư tiên có nhiệm vụ rước đầu vị thần đi diễu hành 3 vòng quanh
núi và ngày đó được xem là ngày đầu năm của Phật lịch [13,45].
Tại đất nước Mianma, câu chuyện được lưu truyền lại trong dân gian là sự
đấu trí giữa vị thần Indra và thần Brahma. “Theo cách kể của Mianma, thần
Indra và thần Brahma tranh cãi nhau về chiêm tinh học. Không ai chịu thua
cuộc nên họ ra điều kiện kẻ nào thua cuộc sẽ bị mất đầu. Kết cục, dù thắng cuộc
nhưng Indra không đành vứt đầu Brahma xuống biển vì sẽ làm biển cạn hết
nước, cũng không thể vứt xuống đất vì trái đất sẽ nổ tung. Thần Indra quyết để
giao cho các Nat (các vị thần bảo hộ của người Miến) thay phiên nhau bưng cái
đầu đó. Tết năm mới được tổ chức vào dịp đầu của Brahma được chuyển từ Nat
này sang Nat kia. Trong khi đó người dân Campuchia tin rằng mỗi năm có vị
thần trên trời (Tê Vô Đa) được sai xuống để chăm lo cho cuộc sống và con
người, hết năm lại về trời để vị thần khác xuống hạ giới” [6,43].

13
Lễ hội té nước này được người Campuchia gọi là Chôn Chơnam Thơmây,
người Lào gọi là Bun Pimày, là lễ mở đầu cho vụ lúa chính trong năm. Lễ hội
gắn liền với đạo Phật Tiểu thừa và đạo Bàlamôn, kéo dài hai, ba tuần đến cuối
tháng tư thông qua tục té nước tắm Phật. Vào thời gian này, người dân đều
chuẩn bị nước thơm dùng để té trong ngày năm mới. Đây là thứ nước hỗn hợp
gồm nước, nghệ, bồ kết nướng, hoa và dầu thơm. Đôi khi nước đã được ướp sẵn


14
như số hạt cát trên núi của mình. Tại Thái Lan, tập tục này mang đậm màu sắc
triết lí Phật giáo. Mỗi hạt cát biểu trưng cho một lời cầu nguyện cứu rỗi linh
hồn. Núi cát còn biểu hiện cho ngọn núi Tudi, nơi tu hành của đức Phật và là
ngọn núi ngăn không cho mây bay đi. Do vậy, con người có mưa mà trồng lúa.
Cũng như vậy, người Campuchia và Mianma coi phong tục này là sự biểu lộ ước
vọng cầu mưa, cầu phúc của con người. Ngoài ra, trong lễ hội còn diễn ra rất
nhiều trò chơi có nội dung gắn với nông nghiệp, ẩn giấu ý nghĩa cầu mùa như
tục té nước, trò kéo co, đá cầu chuyền, đánh phết…
Còn ở Việt Nam, người dân gửi những ước vọng cầu mưa, cầu nước của
mình thông qua những tục - trò dân gian như tục ném pháo đất ở chùa Keo (Vũ
Thư - Thái Bình), giả làm tiếng sấm. Theo kinh nghiệm lâu đời của những người
làm nông nghiệp, tiếng sấm đầu mùa còn có thêm ý nghĩa để chiêm nghiệm mùa
màng của một năm, nếu tiếng sấm xuất hiện trong lúc mọi người no bụng hay
đang đói sẽ là biểu hiện của một năm mùa màng bội thu hay thất bát. Hay tục
đua thuyền với những tay chèo khoẻ mạnh, tập trung sức lực làm khuấy động cả
một vùng sông nước càng mạnh càng tốt khiến cho thần Nước giận dữ mà làm
mưa xuống.
Nước quan trọng là vậy nhưng khi thừa nước cũng mang lại những tai ương
cho con người và sản xuất. Do đó, khi thừa nước, người ta lại cầu tạnh như lễ chặn
nguồn nước (Kap kraung Halau) của người Chăm, cầu nguyện thánh Ala xin đừng
mưa nhiều gây lũ lụt phá hoại mùa màng, nhà cửa, xóm làng. Thả diều ở một số địa
phương của Thái Bình (Việt Nam) cũng là một hình thức phổ biến của lễ cầu tạnh.
Bởi muốn thả được diều thì thời tiết phải tốt: không mưa, có gió, độ ẩm thấp. Thả
diều là sự cầu mong thời tiết khô ráo, một bầu trời quang tạnh. Diều lên được là
báo hiệu cho mọi người biết sẽ có thời tiết tốt lành, mưa lũ sẽ qua đi.
Ở Campuchia vào tháng mười một, mười hai, người dân có mùa làm ruộng
khô. Vào thời điểm này, mùa mưa đã kết thúc, người dân đã tổ chức những hoạt
động đón Mặt trời, đón Ánh sáng, thần Khô ráo và tống tiễn Trăng.

những nét riêng theo quan niệm tín ngưỡng hồn lúa của mình. Lễ hội diễn ra rất
tưng bừng, náo nhiệt, được tổ chức khá công phu ở ngoài đồng. “Người ta lấy
rơm, kết lại thành hình một người phụ nữ rồi đặt ở ngoài đồng cùng lụa là, các
lễ vật khác: bánh chuối, trứng và một nắm cơm; ngoài ra còn có thêm bộ quần
áo mới may cho vừa người rơm. Họ cầu mong Nữ thần lúa sản sinh nhiều lúa,
sao cho thóc đầy vựa, cơm đầy nồi” [6,34].
Gắn với giai đoạn lúa ngậm đòng này còn có các hình thức lễ hội phong
phú như lễ hội Êu Bhum, lễ Padai Dok Tan… của người Chăm. Lễ Êu Po Bhum
là lễ cúng thần ruộng lúa lúc lúa phát triển. Lễ vật cúng cho lễ này gồm một cặp
gà, năm mâm cơm, rượu… giống như lễ cúng dựng chòi cày. Lễ Dok Tian - lễ
cúng lúa trổ đòng tức là đang dậy thì con gái. Họ cho rằng đây là giai đoạn quyết
định và ảnh hưởng đến năng suất cây lúa. Lễ vật này khác với lễ trước là lễ vật
cúng một con dê, năm mâm cơm, rượu, trứng, trầu cau… Chủ tế lễ là thầy
Kadhar kéo đàn Rabap (đàn tương tự như đàn nhị người Kinh), ông Cai mương
(Hamu ia) hoặc ông Camưney. Các vị thần linh được mời về dự lễ cũng tương tự
như lễ vừa nêu trên nhưng nội dung hành lễ này phong phú hơn. Thầy Kadhar

16
vừa kéo đàn Rabap vừa mời các vị thần và hát về những bài thánh ca, ca ngợi
công đức của các vị thần Mẹ (Po Inư Nưgar) đã dạy người trồng lúa, cày cấy
đem lại lúa gạo cho người Chăm và hát ngợi ca các vị thần thủy lợi như Po
Kluang Garai, Po Rame đã đem nước về cho dân làng tưới tiêu, trồng lúa.
Giai đoạn thu hoạch lúa chín là khoảng thời gian hạnh phúc và vui sướng
nhất của người dân. Hàng loạt các lễ hội được tổ chức để mừng mùa lúa chín, tạ
ơn tổ tiên, thần linh. Có thể nói đây là giai đoạn có nhiều lễ hội với nhiều hình
thức và hoạt động cầu kì nhất. Lúc đó, ngày gặt đầu tiên đã trở thành ngày hội
lớn đối với nhân dân khu vực Đông Nam Á.
Ở Malaixia, Java, Bali, trong nghi lễ gặt đầu tiên, người chủ lễ Pawang sẽ
dùng chiếc liềm nhỏ bằng lòng bàn tay cắt thật nhẹ nhàng những nhánh lúa đầu
mùa tránh làm phật lòng hồn lúa. Bảy nhánh lúa tốt nhất sẽ được các Pawang bó

Sau khi xong xuôi, mọi người ăn uống, vui chơi ngay trên sân đập. Trước khi cất
thóc vào kho, người dân Thái còn dựng một chòi lễ bằng tre, lợp rơm, trên có cắm
một vài bông lúa. Trong chòi có bệ đặt tượng Phật, cùng đồ lễ và một bình chứa,
thóc rơi vãi ngoài đồng. Các vị sư được mời đến tụng kinh, vẩy nước thiêng vào
bình thóc và vào thóc giống để tăng sức sống cho thần Lúa. Sau cùng là lễ thức
đóng cửa kho chứa thóc. Nghi lễ tiến hành giống như lễ cất thóc.
Lễ mừng cơm mới được tổ chức ở Lào và một số địa phương ở Việt Nam
cũng mang ý nghĩa mừng vụ mùa thắng lợi, cầu chúc cho nhà nhà no đủ, bản
làng bình an.
Trong thời gian nhàn rỗi sau khi thu hoạch, cư dân Đông Nam Á tổ chức
rất nhiều lễ hội mừng lúa về nhà và tỏ lòng biết ơn các đấng thiêng liêng đã phù
hộ độ trì cho mùa.
Lễ hội Bun Khảu Chỉ Khảu Nay Lan - ngày hội vun thóc trên sân của Lào
là để mừng mùa mới được tổ chức vào tháng hai Phật lịch. Ngày hội vun thóc
còn là dịp để người ta làm phúc, làm việc thiện. Họ hi vọng những điều tốt làm
được sẽ giúp thần Lúa cảm động mà mang tới cho họ một mùa màng bội thu vào
năm sau, cho lúa trong kho múc ăn không vơi, đong ra không cạn. Khi mùa
màng đến, họ vun thóc thành đống lớn trên sân. Các tác giả cuốn lịch sử Lào cho
biết: Trong ngày hội này, các nhà chuẩn bị đồ cúng, dâng lên thần Lúa, như bún,
bánh, đồ xôi cùng hương hoa và vài âu nước lạnh. Gia chủ sẽ lấy chỉ trắng giăng
thành nhiều vòng quanh đống thóc, rồi mời các vị tăng sư và họ hàng tới dự.
Cũng giống như Thái Lan, các vị sư được mời đến đọc kinh và vẩy nước thiêng.
Nước còn lại sẽ được gia chủ đem vẩy ở ruộng, vẩy lên trâu, bò và các nông
cụ….Sau đó, gia đình sẽ làm lễ cúng tổ tiên và ăn uống vui vẻ và trò chuyện trên
sân đập lúa. Buổi tối, các nhà dâng hương lên chùa và nghe tụng kinh, còn ngoài
sân đập lúa, thanh niên vui đùa, ca hát.
Sau hội vun thóc trên sân, thóc được chuyển vào kho bằng một lễ rước rất
náo nhiệt. Trên chiếc xe đầu tiên, người ta chở một hình nhân bằng rơm cùng
các lễ vật, rồi tiếp theo là xe chở thóc. Khi tới kho, người ta người ta đặt hình
nhân vào kho. Đóng cửa kho xong, người ta treo các cành lá cầu may ở cửa kho

pha trộn với các lễ thức Phật giáo, hay tín ngưỡng Vua - Thần ở thời đại Ăngco.
Ở Việt Nam, các vua Lí - Trần đã từng coi Tam giáo (Nho giáo, Đạo giáo, Phật
giáo) đều có chung một nguồn gốc. Còn ở Thái Lan, người ta cho rằng Phật giáo
và Hinđu giáo đã hòa vào nhau. Trong một số chùa ở Đông Nam Á, tượng đức
Phật được đặt ngồi trên tòa sen có rắn thần Naga làm lọng che mưa nắng… Điều
này có lẽ “bắt nguồn từ tính dễ thích nghi, tính cởi mở và uyển chuyển của bản
thân con người Đông Nam Á” [2,136]. Đồng thời một điều nhận thấy rõ nữa là
các tôn giáo khi vào khu vực, chúng đã hòa nhập với các tín ngưỡng bản địa.
Điều này thể hiện rõ trong các lễ hội cổ truyền của khu vực giờ đây đã mang

19
màu sắc tôn giáo và ngược lại tác động của các tín ngưỡng bản địa ấy cũng làm
biến thể một chút trong hình thức của các ngày lễ tôn giáo.
Trước tiên là đạo Islam (đạo Hồi), đây là một tôn giáo được truyền vào
Đông Nam Á từ thế kỉ XIII. Cũng như Phật giáo và Hinđu giáo, Hồi giáo đến
Đông Nam Á không phải bằng con đường gươm giáo, bằng những cuộc chiến
tranh “thần thánh” như đã từng diễn ra ở Trung Cận Đông và Ấn Độ mà bằng
con đường hòa bình. Chính vì vậy, ngay từ đầu, nó dễ dàng được người dân địa
phương tiếp nhận và trên thực tế đã gây nhiều ảnh hưởng trong đời sống chính
trị, kinh tế, đặc biệt là văn hóa của cư dân Đông Nam Á. Các lễ hội Hồi giáo rất
phổ biến ở các quốc gia như Malaixia, Inđônêxia, Philippin…
Ở Inđônêxia, Islam là quốc giáo với gần 90% dân số là tín đồ nên phần lớn
những ngày lễ công cộng là những lễ hội của đạo này. Inđônêxia có 12 ngày lễ
Hồi giáo chính thức. Nổi bật nhất là lễ hội Lebaran (còn gọi là Idul Fitri) là một
lễ hội quan trọng nhất ở Inđônêxia được tổ chức vào cuối tháng ăn chay
Ramadam theo luật của đạo Islam với không khí rất sôi động, náo nhiệt. Ngày lễ
kéo dài từ một tuần đến một tháng. Trong thời gian này, mọi người mặc áo mới,
đốt pháo, đến thăm bạn bè, người thân, tặng nhau những chiếc bánh ngọt và món
ăn cầu kì, đặc biệt là món bánh ketupat làm từ gạo gói bằng lá dừa hấp chín. Lời
chúc Selaamt Indul Fitri: “Máân Labhir batin” (Chúc lễ Lebaran hạnh phúc và

nhịn uống rượi bia, không gây gổ, cãi vã làm mất đoàn kết trong cộng đồng.
Trong thời gian thực hành tháng Thánh lễ, đồng bào không được tổ chức vui
chơi, hát xướng. Tháng Ramadan còn được biết đến là tháng của những điều tốt
lành, những hành vi và cử chỉ nghĩa hiệp, nhân ái, qua đó để mọi người càng yêu
thương, giúp đỡ người nghèo khó hơn mình. Trong tháng lễ Thánh linh thiêng
này, người Hồi giáo làm những việc thiện, hữu ích cho cộng đồng, tránh mọi
việc làm xấu, bất kính với thánh Ala. Ðây cũng là ngày “hẹn truyền thống” của
những thành viên trong cộng đồng đồng bào Chăm theo Hồi giáo. Tất cả những
người đi làm ăn phương xa đều trở về đoàn tụ với gia đình, thăm hỏi bà con thân
thuộc, xóm giềng. Người Chăm ở An Giang xem đây là những ngày vui nhất,
nhà nào cũng sẵn sàng cơm nước, và chuẩn bị đầy đủ đặc sản để đãi khách, bất
kể thân, sơ, gọi là tết Roya, ngày này vui như người Việt ăn Tết Nguyên đán.
Các lễ hội Hồi giáo thường có tính chất truyền thống, tương đồng ở các nước
đạo Hồi ở Đông Nam Á và Trung Đông. Do vậy, lễ hội đạo Hồi ở Malaixia,
Inđônêxia, Philippin… dù tên gọi có khác nhau nhưng đều giống nhau về nội dung
như lễ hội Hari rây pura ở Malaixia để kết thúc tháng ăn chay Ramadam giống với
lễ hội Lebaran ở Inđônêxia và Aidifitri của thế giới đạo Hồi
Phật giáo là tôn giáo lớn thứ hai ở Đông Nam Á sau Hồi giáo. Phật giáo
vào Đông Nam Á khá sớm (từ những thế kỉ đầu Công nguyên) theo hai con
đường: Phật giáo Tiểu thừa từ Ấn Độ theo đường biển phương Nam qua
Srilanca vào Thái Lan, Lào, Campuchia Con đường thứ hai qua Trung Hoa
vào Việt Nam và một số nước Đông Nam Á khác, chủ yếu là Phật giáo Đại thừa.
Phật giáo trở thành tư tưởng chính thống của nhiều quốc gia và là quốc giáo ở
một số nước Đông Nam Á. Phật giáo giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong đời
sống tinh thần của người dân Đông Nam Á. Ở một số nước như Lào, Thái Lan,

21
Mianma người ta đều khẳng định rằng Phật giáo đã có những đóng góp nhất
định vào việc xây dựng một nền văn hóa thống nhất, trong nền văn hóa dân tộc
đều mang màu sắc Phật giáo. Chúng ta không cường điệu mà nói rằng, hầu như

tháng tư cho đến kỳ trăng tròn của tháng mười.
Kandy là một thành phố đẹp của Sri Lan Ka. Trên một ngọn đồi nhỏ tại
thành phố này có một ngôi chùa rất lớn được xem là một thánh tích, vì ngôi chùa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status