Tìm về cội nguồn vẻ đẹp truyền thống của phụ nữ Việt Nam
1. Lời mở đầu
Có thể nói cái đẹp là hình thức khái qt của tư duy con người. Nó là sự
tổng hồ của nhiều phẩm chất, nhiều yếu tố hồ quyện với nhau tạo nên cái trác
tuyệt tổng thể. Ở đâu đó có con người, có sự sống thì ở đó có cái đẹp. Nó là sự
ngưỡng vọng và khám phá của mn đời:
"Anh
Lớn khơn
dưới bầu vú mẹ...
Và
dại khờ
Trước
vòm
ngực
của
em".
(Romance - Thế Hùng).
Có lẽ chính vì vậy mà chúng ta khơng ngạc nhiên khi cái đẹp là phạm trù
quan trọng nhất trong hệ thống khách thể thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài, cái
trác tuyệt) nói riêng và là phạm trù cơ bản, trung tâm của mỹ học nói chung.
Theo quan điểm duy vật biện chứng cái đẹp bắt nguồn từ hiện thực cuộc
sống. Nó tồn tại khách quan vừa mang tính thời sự lại vừa mang tính mn thuở.
Nó gắn liền với sự biến động và phát triển của xã hội lồi người. Nó biểu hiến
sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, theo quy luật tất yếu của lịch sử bao giờ cái
mới cũng chiến thắng. Thế nhưng “cốt lõi của tồn bộ cái đẹp là chân lý, bất cứ
cái đẹp nào cũng dẫn tới chân lý và điều kiện “(Henden), do đó sự vươn tới lý
tưởng thẩm mỹ của nó thì ln tồn tại vĩnh hằng. Nó tiềm ẩn trong đời sống con
người và được biểu hiện qua văn hố ứng xử, cái đẹp của tâm hồn, đạo đức, trí
tuệ, tư tưởng. Nó giúp con người ngày càng hồn thiện hơn . Còn “bản chất của
“Em là người đàn bà cho anh bài thơ hay nhất
Anh vắt cạn đời mình u em chân thật
Nên trong thơ có máu của mình
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
Có hồng hơn và có cả bình minh
Em là người đàn bà u anh nhiều nhất
Trên những nhỏ nhen
toan tính thấp hèn ...”
(Mãi đến tận cùng –Thế Hùng )
Chúng ta hồn tồn mạnh dạn nói rằng muốn tìm hiểu về vẻ đẹp của dân
tộc Việt Nam thì khơng thể khơng tìm về cội nguồn vẻ đẹp truyền thống của
những người phụ nữ đã góp phần khơng nhỏ làm nên vẻ đẹp ấy.
Tuy nhiên cấu trúc của quan hệ xã hội cổ truyền cũng như văn hố Việt
Nam thường được thể hiện sơ giản bởi mối quan hệ nhà - làng – nước. Do đó
khi xét địa vị, vị thế cũng như văn hố ứng xử của người phụ nữ trong xã hội cổ
truyền thì cũng phải đặt họ (vừa với tư cách là chủ thể, vừa với tư cách là đối
tượng) trong các mối quan hệ ứng xử vơi gia đình, gia tộc, láng giềng, cộng
đồng và quốc gia, dân tộc. Chính vì vậy vị thế của người phự nữ Việt trong xã
hội, trong gia đình ln bộc lộ sư đa dạng, phức tạp trong bản thân nó. Điều này
đã được lịch sử hàng nghìn năm nay minh chứng, ghi nhận, phản ánh trung thực
trong văn hố truyền thống, văn hố dân gian và văn hố hiện đại trong các
phương diện vật chất, tinh thần và tâm linh. Bởi thế tìm về cội nguồn vẻ đẹp
truyền thống của phụ nữ Việt Nam cũng chính là con đương đưa chúng ta tìm về
cội nguồn giá trị chân – thiện – mỹ của dân tộc Việt Nam.
2. Nội dung
2.1. Nhân dân ta có truyền thống tơn trọng phụ nữ
Từ buổi bình minh của lịch sử và trong giai đoạn của xã hội ngun thuỷ
ứng xử kém: “Chó dữ thì mất láng giềng. Dâu dữ thì mất họ hàng”. Một người
phụ nữ khi lấy chồng là gánh vác cả giang sơn nhà chồng. Gia đình người chồng
có được họ hàng kính nể, u thương hay khơng là do bà vợ quyết định. Đặc
biệt nếu ai quan tâm đến tin ngưỡng Việt Nam thì sẽ thấy thiên đình đạo giáo
Việt Nam do nữ giới làm chủ. Trong đời sống tâm linh người Việt tục thờ mẫu
đã trở thành một tín ngưỡng của con người với tự nhiên, lịch sử xã hội, con
người. Đó là Mẫu Thượng Thiên (Bà trời – cai trị thiên phủ), Mẫu Thượng Ngàn
(Thần cai trị núi rừng), Mẫu Thoải (Thần cai trị thuỷ phủ) Thánh Mẫu Liễu
Hạnh và hệ thống các nữ thần khác. Từ đó xuất hiện Mẹ lúa, Mẹ đất, Mẹ Âu Cơ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
của người Việt ... có thể nói tìm hiểu bất cứ loại hình cụ thể nào của văn hố
truyền thống Việt Nam ta cũng gặp hình ảnh người phụ nữ với tất cả những gì
phong phú đa dạng mà họ vốn có, sống động và đầy cuốn hút. Họ, đời sống văn
hố của họ, văn hố ứng xử của họ trở thành đề tài trung tâm của khơng ít loại
hình nghệ thuật Việt Nam. Điều này lý giải phần nào lý do vì sao trong đời sống
sinh hoạt người Việt các đồ dùng đều được gọi bắt đầu bằng từ “cái”: Cái ghế,
cái chày, cái trống, cái bát ...
Truyền thuyết kể rằng mẹ Âu Cơ chính là người sinh ra dân tộc Việt Nam
– con Lạc cháu Hồng. Bọc trứng nở ra trăm con là kết quả của mối tình thắm
thiết giữa Mẹ và Lạc Long Qn đã trở thành biểu tượng cho tình đồn kết đồng
bào thuở khai sơn phá thạch. Mẹ Âu Cơ đem 50 con lên núi, cha Lạc Long Qn
đem 50 con xuống biển để tạo ra đại gia đình các dân tộc Việt Nam phong phú
và đa dạng như ngày nay.
Những thế hệ nhà Hùng cha truyền con nối làm thủ lĩnh tối cao đã chuyển
dần xã hội Việt Nam thời cổ từ mẫu hệ sang phụ quyền. Đây là mốc đánh dấu
xuất hiện sự đối kháng giữa đàn ơng và đàn bà, sự đối kháng này đã phần nào
phản ánh sự đối kháng giai cấp. Mặc dù vậy chế độ phụ quyền khơng phải bất
cứ ở đâu và lúc nào cũng đều mang hình thức cổ điển, hà khắc như ở Hy Lạp.
Nếu gần họ thì xấc xược, nếu xa họ thì họ ốn – Dương Hổ dịch). Chính những
tư tưởng ấy đã một thời khiến những người phụ nữ Việt Nam khơng thốt khỏi
cảnh cá chậu chim lồng, làm tơi làm tớ. Nói như vậy cũng có nghĩa tất cả những
điều ấy rốt cuộc cũng chỉ là Nho giáo Trung Hoa còn bản lĩnh của nhân dân lao
động Việt Nam, đạo lí dân gian Việt Nam, sự ổn định trong các gia đình Việt
Nam truyền thống đã giúp người Việt Nam duy trì một nền văn hố tốt đẹp ngay
trong ngheo khổ, “trai mà tri, gái mà tri; sinh ra có ngãi có nghì thì thơi”. Nhân
dân ta vừa kính cha vừa ơn mẹ “chữ hiếu hai vai”. Trong đó người mẹ có tầm
quyết định đối với sự phát triển của các con về nhiều mặt (thể chất, tình cảm,
đạo lí làm người ...): “Đức hiền tại mẫu”, “cha sinh chẳng tày mẹ dưỡng”, “tinh
cha huyết mẹ”... .Hay trong các thành ngữ, khái niệm tiếng Việt phản ánh sự gắn
bó giữa hai người thì yếu tố đứng trước phải là bậc trên: Cha con, ơng cháu, anh
em, cậu mợ ... nhưng vợ chồng thì yếu tố “vợ” lại đứng trước. Đây khơng đơn
thuần là vấn đề hình thức mà tiếng Việt phản ánh tâm hồn, tính cách người Việt.
Và người Việt Nam hồn tồn có quyền tự hào về truyền thống tơn trọng phụ nữ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
của dân tộc mình. Đó chính là bản lĩnh dân tộc, cái đã tạo nên bản sắc văn hố
mà hàng nghìn đời nay nó đã đứng vững trước biết bao sóng gió bạo tàn của gót
giầy qn xâm lược. Càng trong những hồn cảnh khó khăn, cực khổ thì phụ nữ
Việt Nam càng kiên cường đứng lên đấu tranh và liên tục đấu tranh qua các thời
đại để giữ địa vị và vai trò của mình trong đời sống kinh tế, văn hố, xã hội,
trong sự nghiệp đánh giặc cứu nước, đẩy mạnh sự phát triển của dân tộc ta, xã
hội ta ngày càng lên cao.
2.2. Phụ nữ Việt Nam "Anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang"
2.2.1. Phụ nữ với trách nhiệm với tổ quốc
Trên thế giới nước nào mà chẳng có những người anh hùng, nhưng một
đất nước tồn nữ anh hùng thì chỉ có ở Việt Nam. Hạnh phúc của những người
phụ nữ ấy khơng phải chỉ là lắm tiền của, có địa vị cao sang, cuộc sống n ổn,