HỢP TÁC KINH TẾ ASEAN TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THỊ XUÂN
HỢP TÁC KINH TẾ ASEAN TRONG BỐI CẢNH
TOÀN CẦU HÓA. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Xuân

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

STT
VIẾT TẮT
DỊCH LÀ
1
AEC (ASEAN Economic
Community):
Cộng đồng kinh tế ASEAN
2
AFAS (ASEAN Framework
Agreement on Serrices):
Hiệp định khung về mậu dịch
3
AFTA (ASEAN Free Trade Area):
Khu vực thương mại tự do
ASEAN
4
AIA (ASEAN Investment Area):
Hiệp định khung về Khu vực đầu
tư ASEAN
5
AICO (ASEAN Industry
Cooperation):
Hợp tác công nghiệp ASEAN
6

Đầu tư trực tiếp nước ngoài
14
GDP (Gross Domestic Product):
Tổng sản phẩm quốc nội
15
GNP (Gross Nation Product):
Tổng sản phẩm quốc dân
16
HDI (Human Devlopment Index):
Chỉ số phát triển con người
17
IL (Inclusion List):
Danh mục cắt giảm thuế ngay
18
IMF (Internation Monetary Fund):
Quỹ tiền tệ quốc tế
19
LAFTA (Latin American Free
Trade Association):
Khu vực mậu dịch tự do Mĩ La
Tinh
20
NAFTA (North American Free
Trade Agreement):
Hiệp định khung thương mại tự do
bắc Mĩ
21
NICS (Newly Industrilizing
Countries):
Các nước công nghiệp mới

3.4 Đóng góp của đề tài 3
4. Cơ sở tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3
4.1. Cơ sở tư liệu 3
4.2. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Bố cục đề tài 3
CHƯƠNG 1. HỢP TÁC KINH TẾ ASEAN TRONG BỐI CẢNH TOÀN
CẦU HÓA 4
1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực 4
1.1.1. Bối cảnh quốc tế 4
1.1.2. Bối cảnh khu vực Đông Nam Á 5
1.2. Khái quát sự ra đời tổ chức ASEAN. 7
1.3. Đặc điểm kinh tế ASEAN dưới tác động của toàn cầu hóa 9
1.3.1. ASEAN là một tổ chức hợp tác kinh tế nhiều mặt 9
1.3.2. Hợp tác kinh tế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ 16
1.3.3. Hợp tác kinh tế ASEAN theo xu hướng đa dạng hóa quan hệ quốc tế và
giảm dần sự phụ thuộc vào một thị trường lớn 17
1.3.4. Những khó khăn của quá trình hợp tác kinh tế ASEAN trong bối cảnh
toàn cầu hóa. 25
CHƯƠNG 2. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT
NAM 29
2.1. Cơ hội 29
2.2. Về thách thức 45
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nền kinh tế thế giới trong những thập kỉ cuối của thế kỉ XX và những năm

Từ khi thành lập đến nay ASEAN đã từng bước khẳng định mình và trở
thành một tổ chức kinh tế - chính trị khu vực có uy tín trên trường quốc tế. Hợp

2
tác kinh tế ASEAN là lĩnh vực mà ASEAN đạt được ở mức độ sâu, rộng nhất và
là động lực phát triển chính ASEAN. Cho nên hợp tác kinh tế ASEAN là vấn đề
thu hút được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu trong và ngoài nước nhưng
chưa có một công trình nào đi chuyên sâu nghiên cứu vấn đề hợp tác kinh tế
ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa. Cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế
Việt Nam.
Cuốn “Lịch sử Đông Nam Á”, Lương Ninh (chủ biên), NXB Giáo dục, Hà
Nội, 2005 đã khái quát lịch sử hình thành, quá trình hợp tác của các nước trên
các lĩnh vực. Tuy nhiên chưa có sự chuyên sâu về kinh tế thời kì toàn cầu hóa.
Trong cuốn “ASEAN và sự hội nhập của Việt Nam”, Đào Huy Ngọc (chủ
biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997 cũng đã đề cập đến quá trình hình
thành, hợp tác giữa các nước ASEAN. Song vấn đề hợp tác kinh tế trong bối
cảnh toàn cầu hóa còn rất ngắn gọn và khát quát chung.
Cuốn “Lịch sử thế giới hiện đại”, Trần Thị Vinh (chủ biên), NXB Đại học
sư phạm, Hà Nội, 2008 đã khái quát về Hiệp hội các nước Đông Nam Á
(ASEAN) và hội nhập Việt Nam - ASEAN từ 1975 đến nay trên các lĩnh vực.
Cuốn “Việt Nam trong ASEAN - nhìn lại và hướng tới”, Phan Đức Thành,
Trần Khánh (chủ biên), NXB KHXH, Hà Nội, 2006 tập trung phân tích vị thế,
vai trò của Việt Nam trong quan hệ hợp tác kinh tế ASEAN chứ chưa nói đến sự
hợp tác kinh tế ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Như vậy, hợp tác kinh tế ASEAN đã được nhiều công trình, bài viết của
nhiều tác giả đề cập đến. Song vấn đề hợp tác kinh tế ASEAN trong bối cảnh
toàn cầu hóa, cơ hội và thách thức của quá trình này đối với nền kinh tế Việt
Nam thì chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chi tiết.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ và đóng góp của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu

liệu cần thiết. Sau đó tôi sử dụng phương pháp lịch sử và lôgic để trình bày sự
kiện, nội dung theo vấn đề, đồng thời so sánh, đánh giá, phân tích để rút ra kết
luận, tìm hiểu và làm rõ mối quan hệ giữa các sự kiện lịch sử.
5. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu
thành 2 chương:
Chương 1. Hợp tác kinh tế ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa
Chương 2. Cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam 4
CHƯƠNG 1
HỢP TÁC KINH TẾ ASEAN TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
1.1. Bối cảnh quốc tế và khu vực
1.1.1. Bối cảnh quốc tế
Hợp tác kinh tế ASEAN hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh quốc tế có rất
nhiều thay đổi quan trọng.
Trước hết, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ phát triển sâu rộng, trực
tiếp tác động vào mọi ngành kinh tế quốc dân, mọi lĩnh vực xã hội, với 4 trụ cột
chính đó là: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng và
công nghệ thông tin. Điều này thúc đẩy năng suất lao động tăng, nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần con người, đòi hỏi phải đổi mới giáo dục và kinh tế tri
thức có vai trò hết sức quan trọng, thay đổi chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy
mạnh mẽ xu thế toàn cầu hóa.
Dưới tác động của khoa học - công nghệ, quá trình toàn cầu hóa, khu vực
hóa diễn ra một cách mạnh mẽ, chưa bao giờ như bây giờ toàn cầu hóa đang
vượt qua tất cả những thời đại trước, lôi cuốn ngày càng nhiều nước vào vòng
phát triển. Nhìn chung toàn cầu hóa thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tăng trưởng
kinh tế thế giới. Biểu hiện đó là trong hơn 50 năm nền kinh tế toàn cầu tăng hơn
9 lần từ hơn 3 nghìn tỉ USD vào giữa thế kỉ XX lên hơn 30 nghìn tỉ USD vào

Bản cũng đang dần phục hồi với tốc độ tăng trưởng kinh tế vào năm 2000 là
1,4%, cao hơn 1,0% năm 1999 [2, 213]. Cùng với đó thì các nền kinh tế khác
như châu Á, Châu Phi, Mĩ Latinh, Đông Âu hay Trung Đông cũng đang có
những chuyển biến tích cực.
Cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển trở
thành xu thế chủ đạo, chi phối quan hệ quốc tế. Tuy nhiên vẫn còn các cuộc
xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố. Vì vậy, các nước phải điều chỉnh
về đường lối để đảm bảo an ninh, có phương hướng phát triển tối ưu kinh tế cho
quốc gia và toàn khu vực.
1.1.2. Bối cảnh khu vực Đông Nam Á
Những diễn biến của tình hình quốc tế đã ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình
Đông Nam Á những năm đầu thế kỉ XXI.
Về chính trị - xã hội. Cùng với vấn đề trọng tâm là khôi phục, phát triển
kinh tế và ổn định chính trị - xã hội sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ năm
1997, Đông Nam Á còn đối mặt với sự gia tăng của nguy cơ khủng bố và li khai
ở một số nước như vụ đánh bom ở Bali - Inđônêxia (2002), hoạt động chống
chính quyền trung ương của nhóm Hồi giáo ở miền Nam Thái Lan (2004), vụ
cướp ngục ở Manila (2005). Bởi lẽ Đông Nam Á là khu vực có đông tín đồ Hồi
giáo (khoảng 20%), mặc dù phần lớn những người Hồi giáo ở đây là những tín
đồ Hồi giáo ôn hòa chống lại chủ nghĩa khủng bố và không có quan điểm chống
Mĩ công khai nhưng thực tế cho thấy mối liên hệ giữa các nhóm Hồi giáo cực
đoan Đông Nam Á với mạng lưới Al Qaeda.

6
Về kinh tế. Cơn lốc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 đã có tác động
tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia trong
khu vực và thế giới. Chính vì vậy, vấn đề hợp tác và liên kết kinh tế đã trở thành
yêu cầu bức thiết của ASEAN nhằm giúp đỡ nhau trong việc phục hồi kinh tế.
Với sự nỗ lực to lớn của mỗi nước, tự khơi dậy tiềm lực kinh tế quốc gia,
tiến hành cải cách điều chỉnh chiến lược kinh tế, xác định rõ nguyên nhân khủng


7
vừa tạo ra những cơ hội phát triển nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và thách thức
đòi hỏi các nước phải điều chỉnh chiến lược phát triển của mình cho phù hợp.
1.2. Khái quát sự ra đời tổ chức ASEAN
Hiệp hội các nước Đông Nam Á (Associtation of the South East Asian
Nation - ASEAN) là một tổ chức liên minh về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội
của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Thành lập ngày 8/8/1967 tại Hội
nghị ngoại trưởng 5 nước thuộc khu vực Đông Nam Á là Thái Lan, Malaixia,
Singapo, Philippin và Inđônêxia. Từ 5 nước thành viên ban đầu, đến nay
ASEAN đã có 10 thành viên bao gồm 5 thành viên gia nhập sau là Brunây
(1984), Việt Nam (1995), Lào (1997), Mianma (1997) và Campuchia (1999).
Trụ sở của ASEAN đặt tại Jakarta, Inđônêxia ASEAN có tổng diện tích khoảng
4,5 triệu km2, dân số khoảng 500 triệu người [13, 19].
ASEAN hoạt động dựa trên 7 mục tiêu cơ bản sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong
khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm
tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các nước Đông Nam Á hòa bình và
thịnh vượng.
- Thúc đẩy hòa bình và thịnh vượng khu vực bằng việc tôn trọng công lí và
nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các nước trong khu vực và tuân thủ
nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc.
- Thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cùng quan
tâm trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học - kĩ thuật và hành chính.
- Giúp đỡ lẫn nhau dưới các hình thức đào tạo và cung cấp các phương tiện
nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kĩ thuật và hành chính.
- Cộng tác có hiệu quả hơn để sử dụng tốt hơn nền nông nghiệp và các
ngành công nghiệp của nhau, mở rộng mậu dịch, kể cả việc nghiên cứu các vấn
đề buôn bán hàng hóa giữa các nước, cải thiện các phương tiện giao thông, liên
lạc, nâng cao mức sống nhân dân.

các hàng rào thuế quan và phi thuế quan thông qua việc thực hiện Hiệp định về
công trình thuế quan ưu đãi hiệu lực chung (CEPT). Theo kế hoạch của CEPT 6
nước thành viên ban đầu phải thực hiện cắt giảm thuế quan 0 - 5% vào năm
2003, các nước thành viên mới sẽ hoàn tất AFTA muộn hơn. Tiếp đó, ASEAN
xác định 12 lĩnh vực ưu tiên hội nhập (gỗ, cao su, nông nghiệp, thủy hải sản, dệt
may và giày dép, xe hơi, điện tử, dịch vụ, du lịch, hàng không, y tế, hậu cần) để
sớm đẩy mạnh hơn nữa thương mại nội khối.
Song song với tăng cường hợp tác kinh tế nội bộ, ASEAN tích cực tăng
cường hợp tác kinh tế - thương mại với các nước, các nền kinh tế lớn trong khu
vực Châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới nhất là đàm phán thiết lập khu
vực mậu dịch tự do (FTA) với hầu hết các nước đối thoại của ASEAN: Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Niu Di Lân, Ốtxtrâylia… Đối với các nước
trong khu vực Đông Á, ASEAN chủ động đưa ra cơ chế hợp tác mới “Hợp tác
ASEAN +3” (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản).

9
Có thể nói, thành công của hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 4 là bước
chuyển biến quan trọng trong khuôn khổ hợp tác ASEAN, chuyển từ hợp tác
chính trị là chủ yếu sang hợp tác kinh tế là chủ yếu. Cũng từ đây, hợp tác kinh tế
ASEAN ngày càng phát triển và biến đổi mạnh mẽ trong quá trình toàn cầu hóa
hiện nay.
1.3. Đặc điểm kinh tế ASEAN dưới tác động của toàn cầu hóa
Dựa trên nền tảng những thành tựu phát triển kinh tế và hợp tác khu vực
giữa các nước thành viên trong hơn 3 thập kỉ qua, các nhà lãnh đạo cao cấp
ASEAN đã đưa ra nhận định rằng vào năm 2020 Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á sẽ là một khối hài hòa các quốc gia trong khu vực hướng ra bên ngoài,
sống trong hòa bình, ổn định, thịnh vượng liên kết với nhau bằng mối quan hệ
đối tác phát triển năng động và một cộng đồng xã hội quan tâm lẫn nhau. Phải
tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay bởi lẽ:
Thứ nhất, các quyết định về tăng cường tự do hóa thương mại khu vực

lớn để đáp ứng yêu cầu khu vực về các hàng hóa cơ bản, thiết yếu. Ưu tiên sử
dụng vật liệu có sẵn tại các quốc gia góp phần tăng cường sản xuất lương thực,
tăng năng suất lao động, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Cùng với đó,
với chương trình hợp tác thông qua ba dự án quan trọng tại Hội nghị công
nghiệp ASEAN (AIC), dự án liên doanh công nghiệp ASEAN (AIJV) và nhờ
chính sách công nghiệp hóa, nền công nghiệp các nước ASEAN đã đạt những
thành tựu rất đáng ghi nhận.
Từ thập niên 80 đến nay, Singapo, Malaixia là những nước sản xuất các sản
phẩm kĩ thuật cao: linh kiện điện tử, con chíp điện tử. Ngành công nghiệp khai
thác dầu khí có vai trò quan trọng, Inđônêxia là nước có sản lượng khai thác dầu
khí lớn (60 triệu tấn/năm). Năm 2005, nước này sản xuất 1,02 triệu thùng/ngày.
Singapo và Malaixia là những nước có nền công nghiệp lọc dầu phát triển.
Inđônêxia có sản lượng khai thác than lớn khoảng gần 50 triệu tấn/năm. Ngoài
ra, các ngành công nghiệp khai thác mỏ đồng, bôxit, chì, kẽm cũng khá phát
triển ở Malaixia, Inđônêxia, Philippin. Công nghiệp chế biến lương thực thực
phẩm với các sản phẩm: gạo, đường mía, hải sản đông lạnh phát triển.
Bên cạnh đó còn có Chương trình hợp tác công nghiệp ASEAN (AICO)
nhằm khuyến khích liên kết sản xuất giữa các xí nghiệp của các nước ASEAN,
kể cả xí nghiệp vừa và nhỏ phải sử dụng có hiệu quả nguồn lực của ASEAN.
Theo đó cho phép các công ty có đủ điều kiện tham gia AICO sẽ được hưởng
mức thuế quan ưu đãi 0 - 5% theo quy định của AFTA ngay lập tức. Tính đến
tháng 7 năm 2003, đã có 114 trong tổng số 169 đơn vị xin gia nhập AICO đã
được chấp thuận, theo tính toán thì 114 công ty này có thể tạo ra tổng kim ngạch
thương mại khoảng 1,2 tỷ USD mỗi năm [13, 38].
Singapo đứng đầu hàng ngũ các nước công nghiệp mới (NICs) trở thành
trung tâm dịch vụ, chính trị, thương mại quốc tế. Hiện nay Singapo trở thành
trung tâm của các ngành công nghiệp có kĩ thuật và công nghệ cao: công nghiệp
điện tử, đóng tàu, dàn khoan dầu trên biển, lọc dầu, chế tạo máy chính xác.

11

thúc đẩy kinh tế phát triển, nhiều mặt hàng nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn.
Về giao thông vận tải, đây là vấn đề đặt ra đối với quá trình liên kết xã hội
giao thông vận tải và thông tin liên lạc. Đến nay đã có khoảng hơn 1000 dự án
đã được triển khai và tập trung vào 4 lĩnh vực chủ yếu: cảng và vận tải thủy, vận
tải đường bộ, hàng không và dịch vụ hàng không dân dụng, bưu điện viễn thông.

12
Tăng cường hợp tác khu vực nhằm củng cố hệ thống bưu điện viễn thông liên
quốc gia các dự án trên bắt dầu có hiệu quả.
Các nước ASEAN có nhiều cảng nước sâu, có trọng tải lớn như các cảng
của Singapo, Malacca của Inđônêxia trở thành nơi trung chuyển hàng hóa và là
một trong những tuyến đường giao thông quan trọng trên thế giới nối liền Ấn Độ
Dương và Thái Bình Dương. Điều này tiết kiệm thời gian và tiền của, thúc đẩy
quá trình hợp tác nội bộ diễn ra có hiệu quả hơn. Các dự án hiện đại hóa cảng,
dự án “lục giác kinh tế” đang được triển khai sau khi ở Đông Nam Á đã hình
thành 4 tam giác phát triển lớn mà chuyên gia kinh tế gọi là “khu chuyển tiếp
kinh tế”. Ngoài ra, Thái Lan cũng khảo sát kế hoạch xây dựng bẩy tuyến đường
nối liền tỉnh Đông Bắc Thái Lan với các nước Đông Dương trong tương lai.
Đối với vận tải hàng không thì vận tải hàng hóa và vận tải hành khách được
tự do hóa. Thông qua việc thực hiện toàn cầu hóa theo nguyên tắc “10 - X”
ASEAN sẽ mở cửa bầu trời (cho phép các hãng hàng không nước ngoài được
đưa đón hành khách bất kì nước nào trong ASEAN), đến cuối năm 2006 sẽ thực
hiện tự do hoàn toàn thương quyền 3 và 4 đồng thời tăng lượng hàng hóa chuyên
chở và các điểm đến trong khu vực ASEAN và đến 2008 sẽ thực hiện tự do hóa
hoàn toàn trong khu vực đối với vận tải hàng hóa.
Hiện nay các nước ASEAN đã hòa mạng viễn thông liên lạc trực tiếp, sử
dụng hệ thống vệ tinh Palapa. Thêm vào đó còn thiết lập hệ thống cáp điện thoại
ngầm dưới biển đặc biệt vào tháng 3/2002, kênh truyền hình Đông Nam Á hình
thành, đánh dấu hợp tác chặt chẽ trong khu vực. Như vậy, giao thông vận tải giữ
vai trò quan trọng trong hợp tác quốc tế, là cầu nối để gắn kết các quốc gia.

Như vậy, những năm gần đây hợp tác giữa các nước ASEAN trong lĩnh
vực tài chính ngân hàng, thuế và bảo hiểm đóng vai trò quan trọng cho các hoạt
động thương mại, đầu tư và hợp tác trong khu vực.
Về thương mại, đây là hoạt động nổi bật và có hiệu quả nhất trong hợp
tác khu vực ASEAN. Buôn bán trong nội bộ ASEAN ngày càng được đẩy
mạnh, để thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển hơn nữa đồng thời nới
lỏng hàng rào thuế quan và các ràng buộc thương mại khác. Đặc biệt, tại Hội
nghị cấp cao ASEAN - 4 tại Singapo năm 2002, ASEAN đã ra tuyên bố chung
về thành lập khu vực thương mại tự do (AFTA) và khung thuế quan ưu đãi
hiệu quả chung (CEPT).
AFTA ra đời là bước ngoặt trong hợp tác kinh tế ASEAN ở một tầm cao
mới. Nhằm tự do hóa khu vực bằng việc loại bỏ hàng rào thuế quan trong nội bộ
khu vực và cuối cùng là các rào cản phi thuế quan. Điều này sẽ khiến các doanh
nghiệp sản xuất của ASEAN phải hoạt động có hiệu quả và khả năng cạnh tranh
hơn trên thị trường thế giới, đồng thời người tiêu dùng mua được những hàng
hóa có chất lượng và giá cả hợp lí trong ASEAN dẫn đến sự tăng lên trong
thương mại nội khối. Bên cạnh đó còn thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực
bằng việc tạo ra một thị trường sâu rộng hơn. Làm cho ASEAN thích nghi với
những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đặc biệt là với sự phát triển của
các thỏa thuận thương mại khu vực (RTA) trên thế giới.

14
Còn CEPT là một thỏa thuận chung giữa các nước thành viên ASEAN về
giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN xuống còn 0 - 5%, đồng thời loại bỏ tất cả
các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế quan trong 10 năm, bắt đầu
từ 1/1/1993 và hoàn thành vào 1/10/2003. CEPT đưa ra bốn danh mục giảm thuế
là danh mục giảm thuế ngay (IL); Danh mục miễn trừ tạm thời (TEL); Danh
mục các sản phẩm nhạy cảm (SEL); Danh mục miễn trừ hoàn toàn (GEL).
CEPT cũng trải qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện để rút ngắn thời gian
thực hiện AFTA. Theo đó, các cam kết giảm thuế quan đối với các sản phẩm

chuyển biến đáng kể đối với các nhóm sản phẩm nhất định. Năm 2004, hoạt
động thương mại đã có nhiều khả quan hơn: tổng kim ngạch của 10 nước thành
viên tăng 20,7% từ 456,7 tỉ USD (2003) lên 551,19 tỉ USD (2004). Trong đó,
Singapo là nước đứng đầu ASEAN về xuất khẩu hàng hóa. Năm 2002, xuất
khẩu của Singapo đạt 125,18 tỉ USD, năm 2003 đạt 159,96 tỉ USD, năm 2004
đạt 198,63 tỉ USD, năm 2005 đạt 271,39 tỉ USD [3, 6].
Trao đổi thương mại giữa các nước thành viên cũng tăng nhanh chóng, kim
ngạch xuất khẩu của Việt Nam năm 2002 sang Inđônêxia là 330 triệu USD thì
năm 2005 tăng lên 1,03 tỉ. Năm 2005 Malaixia xuất khẩu sang Việt Nam 1,8 tỉ
USD, sang Thái Lan 8,49 USD, sang Inđônêxia 3,89 tỉ USD, tổng kim ngạch
xuất khẩu là 159,56 tỉ USD [10, 17]. Cũng trong năm này, kim ngạch xuất khẩu
của Thái Lan sang Việt Nam là 3,07 tỉ USD, sang Singapo 8,47 tỉ, sang
Inđônêxia là 3,03 tỉ USD. Về tổng thể, các nước tư bản phát triển như Nhật Bản,
Mĩ, EU, Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn là những đối tác thương mại hàng đầu
ASEAN chiếm lần lượt là 13,8%; 13,17%; 123,1%; 8,31%; 4,1% tỉ trọng thương
mại trong tổng kim ngạch xuất khẩu ASEAN năm 2003 [7, 25].
Những năm gần đây tự do hóa thương mại và đầu tư vẫn sẽ là xu hướng
hợp tác chủ đạo trong khối ASEAN, theo kế hoạch đến năm 2015 mọi rào cản
đối với thương mại sẽ được xóa bỏ giữa các nước thành viên và đến năm 2015
ASEAN sẽ trở thành một khu vực tự do, toàn Đông Nam Á sẽ trở thành một thị
trường lớn hướng ra thị trường thế giới. Trên tinh thần đó, tại Hội nghị cấp cao
không chính thức lần thứ 4 ở Singapo năm 2000 các nhà lãnh đạo ASEAN đã
thông qua “Sáng kiến liên kết ASEAN” (IAI) với nội dung, biện pháp cụ thể là:
- Xác định lợi thế so sánh của các nước thành viên để tìm ra phương án bổ
sung cơ cấu cho nhau giữa các nền kinh tế.
- Giúp các nước thành viên mới xây dựng lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế.
- Tăng cường nỗ lực trong việc xây dựng chương trình phát triển tiểu vùng
và tam giác tăng trưởng kinh tế, tập trung vào hai khu vực chính là tiểu vùng
sông Mê Công mở rộng để giúp đỡ các nước ASEAN - 4 phát triển và Khu vực
tăng trưởng kinh tế Đông ASEAN (BIMP - EAGA) để giúp đỡ các vùng nghèo

kỳ ảnh hưởng mạnh mẽ của toàn cầu hóa.
Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính khu vực nổ ra (7/1997) thế giới từng
chứng kiến đây là cộng đồng phát triển năng động. Thái Lan trong thời kì này
liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng cao: năm 1984 là 6% thì năm 1990: 10%,
năm 1993: 7,5%, năm 1995: 8,6%, năm 1996: 10%. Ở Malaixia, với việc thực
hiện các mũi đột phá trong kinh tế mà nền kinh tế Malaixia được đẩy mạnh, cụ
thể là: năm 1993 tăng trưởng đạt 7,6%, năm 1994: 8,1%, năm 1995: 8,5%.
Singapo với mô hình kinh tế được coi là thành công nhất khu vực với mức tăng
trưởng hàng năm từ 1990 - 1998 đạt 8%. Nhưng từ giữa năm 1997 cuộc khủng
hoảng tài chính và tiền tệ khu vực đã tác động mạnh mẽ vào nền kinh tế khu
vực. Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng kinh tế của toàn khu vực giảm sút nặng nề,
giảm từ 2 - 13%. Tốc độ tăng trưởng của Thái Lan từ 7% (1996) giảm xuống âm
0,4% (1997) và âm 8% (1998). Tương tự, Inđônêxia giảm 8% (1996) xuống âm

17
13,7% (1998). Tỉ lệ thất nghiệp ở Inđônêxia lên tới 6,4 triệu người, Thái Lan là
1,5 triệu người [11, 522].
Để đối phó và hạn chế tác động của khủng hoảng chính phủ các nước Đông
Nam Á đã nhanh chóng đưa ra các biện pháp khác nhau, nhờ sự nỗ lực của các
nước cũng như những giải pháp tập thể ASEAN và sự giúp đỡ của cộng đồng
quốc tế, các nước ASEAN dần thoát khỏi khủng hoảng. Sau đó các nhà lãnh đạo
ASEAN chủ trương phát triển quan hệ gắn bó, liên kết chặt chẽ hơn và thu hẹp
khoảng cách phát triển giữa các nước thành viên.
Trong những năm gần đây ASEAN đã đưa ra hàng loạt biện pháp mới
nhằm mở rộng hợp tác giữa các nước thành viên thông qua các văn kiện
“chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mê Công” (1995), “Sáng kiến hội nhập
ASEAN” (2000), Tuyên bố về thu hẹp khoảng cách phát triển nhằm tăng cường
liên kết ASEAN (2001).
Hiện nay khu vực kinh tế ASEAN vẫn tiếp tục được coi là “đèn hiệu của
Châu Á”. Nhiều dự báo đều cho rằng thế kỷ XXI vẫn là thế kỷ của Châu Á,

của nhau.
Để tăng cường quan hệ thương mại - đầu tư với ASEAN, Mỹ đưa ra “Sáng
kiến doanh nghiệp ASEAN” (2002) nhằm tạo điều kiện cho việc kí kết các Hiệp
định thương mại tự do song phương giữa Mỹ và các nước ASEAN. Ngày
17/11/2005, lãnh đạo cấp cao các nước ASEAN và Mỹ thông qua Tuyên bố tầm
nhìn chung về quan hệ đối tác tăng cường với nội dung khá toàn diện và tích cực
nhằm tạo ra khuôn khổ cho quan hệ đối tác lâu dài giữa ASEAN và Mỹ đồng
thời cũng thông qua Kế hoạch hành động với nhiều biện pháp cụ thể triển khai
tuyên bố. Hai bên cùng ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác quan trọng về kinh tế
như Thỏa thuận khung về thương mại và đầu tư (TIFA).
Hai bên cũng đang xây dựng Chương trình hỗ trợ và đào tạo kĩ thuật
ASEAN - Mỹ giai đoạn 2 (TATF) và triển khai các hoạt động hợp tác trong
chương trình Viễn cảnh phát triển ASEAN (ADVANCE) trị giá 150 triệu USD
nhằm hỗ trợ các chương trình khu vực và song phương của ASEAN cũng như
nỗ lực liên kết kinh tế và xây dựng cộng đồng của ASEAN, hai bên cũng tiếp
tục đàm phán hoàn tất Hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ.
Trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 44 (AEM -
44), Hội nghị tham vấn giữa các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN và Bộ trưởng
Thương mại Mỹ, hai bên đã cam kết mở rộng các cơ hội để tăng cường quan hệ
kinh tế, thương mại và đầu tư.
Tại Hội nghị, các Bộ trưởng lưu ý quan hệ thương mại giữa ASEAN và
Mỹ tiếp tục phát triển mạnh, Mỹ hiện đứng thứ tư trong các đối tác thương mại
lớn nhất của ASEAN và ASEAN là đối tác trao đổi thương mại đứng hàng thứ
năm của Mỹ. Đồng thời, Mỹ đứng hàng thứ ba trong số các nhà đầu tư nước
ngoài lớn nhất vào ASEAN. ASEAN và Mỹ được coi là những động lực của các
hoạt động và sự phát triển kinh tế toàn cầu, do đó việc tăng cường hơn nữa các
mối quan hệ kinh tế có tầm quan trọng to lớn đối với cả ASEAN và Mỹ.

19
Trước năm 1997, ASEAN là một thị trường tăng trưởng khá nhanh đối với

triển sâu rộng. Các nước ASEAN là đối tác kinh tế, đầu tư quan trọng hàng đầu
của Trung Quốc.
Giá trị thương mại hai chiều tăng từ 59,6 tỉ USD năm 2003 lên 171,1 tỉ
USD năm 2007 và đạt 192,5 tỉ USD năm 2008. Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc
vào ASEAN đạt 3,6 tỉ USD năm 2007, tổng đầu tư hai chiều đến năm 2008 là 60


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status