SỰ XUẤT HIỆN HAI KHỐI QUÂN SỰ ĐỐI ĐẦU NATO - VÁCXAVA VÀ CUỘC CHẠY ĐUA VŨ TRANG GIỮA HAI KHỐI ĐÔNG - TÂY (1947 - 1970) - KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGÔ KIM OANH SỰ XUẤT HIỆN HAI KHỐI QUÂN SỰ ĐỐI ĐẦU
NATO - VÁCXAVA VÀ CUỘC CHẠY ĐUA VŨ TRANG
GIỮA HAI KHỐI ĐÔNG - TÂY (1947 - 1970)

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các
thầy cô giáo trong khoa Sử - Địa. Đặc biệt là sự hướng dẫn, chỉ đạo tận tình của
cô giáo Đặng Thị Hồng Liên.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn, sự tạo điều kiện giúp đỡ của thư viện Trường
ĐH Tây Bắc, thư viện Sơn La và sự ủng hộ, động viên, giúp đỡ của các bạn sinh
viên lớp K50 ĐH sư phạm Lịch Sử.

Sơn La, tháng 5 năm 2003
Tác giả
Ngô Kim Oanh MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ của đề tài 3
4. Giới hạn đề tài, cơ sở tài liệu, phương pháp nghiên cứu 3
5. Bố cục 3
CHƯƠNG 1: SỰ XUẤT HIỆN HAI KHỐI QUÂN SỰ ĐỐI ĐẦU NATO -
VÁCXAVA 5
1.1. Bối cảnh quốc tế dẫn đến sự xuất hiện hai khối quân sự đối đầu 5
1.1.1. Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai 5
1.1.2. Sự đối lập về mục tiêu và chiến lược giữa hai cường quốc từ sau chiến
tranh thế giới thứ hai 7
1.1.2.1. Mục tiêu và chiến lược của Mỹ 7
1.1.2.2. Mục tiêu và chiến lược của Liên Xô 8
1.2. Sự xuất hiện hai khối quân sự đối đầu 11
1.2.1. Sự ra đời của khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) 11
1.2.2. Sự ra đời của khối Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Tương trợ

KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai (1939 - 1945), trên tất cả các bình diện từ
thời gian đến quy mô, cường độ cuộc chiến và nhất là sự tàn phá hủy diệt đều
vượt trội so với cuộc chiến tranh (1914 - 1918). Như một nghịch lí của lịch sử,
con người càng tiến dài hơn trên con đường văn minh, tiến bộ thì sự chém giết
lẫn nhau càng tàn bạo hơn từ các phương tiện kỹ thuật tân kỳ đến sự lùi lại hành
hạ thân xác và chà đạp nhân phẩm con người theo kiểu dã man trung cổ. Nhưng
sự tàn bạo phi nhân tính ấy đã bị trừng phạt, các nước phát xít Đức, Italia và
Nhật Bản đã bị đánh bại hoàn toàn.
Một trật tự thế giới mới được xác lập bằng những thỏa thuận của Hội nghị
tam cường Xô - Mỹ - Anh tại Ianta, thể hiện sự phân chia khu vực ảnh hưởng
trên thế giới chủ yếu là giữa hai siêu cường Mỹ và Liên Xô, những lực lượng
chủ lực đánh bại chủ nghĩa phát xít quốc tế. Với bản chất chế độ chính trị - xã
hội khác nhau, hai nước đã nhanh chóng từ liên minh chống phát xít trở thành
đối địch nhau, mỗi nước tập hợp chung quanh mình các nước đồng minh lập
thành hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Làm cho tình hình thế giới
lại lâm vào tình trạng căng thẳng, phức tạp chủ yếu giữa hai siêu cường Mỹ và
Liên Xô. Điều này đã trở thành nhân tố chi phối chủ yếu, trong quan hệ quốc tế
thời kỳ này, sự mâu thuẫn giữa hai siêu cường Xô - Mỹ càng trở nên quyết liệt
với việc thành lập hai khối quân sự NATO – VÁCXAVA. Đây là hai khối quân
sự lớn nhất toàn cầu, đối địch nhau, đều chạy đua vũ trang, trang bị những vũ
khí hiện đại để tăng cường sức mạnh của khối mình. Sự kình địch và chạy đua
vũ trang của hai khối quân sự đối địch này, là cuộc đối đầu chính của cuộc
“Chiến tranh lạnh”.
Thế nhưng, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến

Năm 2008, NXB Giáo dục đã cho xuất bản cuốn sách “Lịch sử quan hệ
quốc tế hiện đại (1945 - 2000)” của Trần Nam Tiến. Đã làm sáng tỏ bức tranh
tổng thể về quan hệ quốc tế của một giai đoạn lịch sử đầy những bước quanh co,
phức tạp. Một phần nội dung chủ yếu của cuốn sách thể hiện sự chạy đua giữa
hai siêu cường lúc bấy giờ là Liên Xô và Mỹ.
Nhà xuất bản Giáo dục và nhà xuất bản Đại học sư phạm đã xuất bản các
loại giáo trình “Lịch sử thế giới hiện đại” trong đó có bài trình bày khái quát về
sự xuất hiện hai khối quân sự đối đầu và cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối
Đông - Tây.
Ngoài ra, còn một số công trình khác như: “42 đời tổng thống Mỹ”(William
AD Egre Gorio, NXB Chính trị quốc gia, năm 1988); “Một số chuyên đề lịch sử
thế giới” (Vũ Dương Ninh, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002).
Nhìn chung, các công trình trên mới chỉ đề cập đến một cách chung nhất về
cuộc “Chiến tranh lạnh” sau chiến tranh thế giới thứ hai trên bình diện rộng,
nhưng chưa có công trình nghiên cứu một cách chuyên sâu về việc thành lập hai
khối quân sự lớn nhất toàn cầu, đối địch nhau, chạy đua vũ trang để trang bị

3
những vũ khí hiện đại nhằm tăng cường sức mạnh cho khối mình, thể hiện cuộc
đối đầu chính trong “Chiến tranh lạnh” vẫn chưa được làm rõ.
Vì vậy, trên cơ sở các công trình nghiên cứu và các tài liệu liên quan đã
giúp tôi đi vào nghiên cứu làm rõ: Sự xuất hiện hai khối quân sự đối đầu
NATO - VÁCXAVA và cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối Đông - Tây
(1947 - 1970).
3. Mục đích, ý nghĩa, nhiệm vụ của đề tài
Tìm hiểu về sự xuất hiện hai khối quân sự đối đầu NATO - VÁCXAVA và
cuộc chạy đua vũ trang giữa hai khối Đông - Tây giúp người đọc hiểu rõ hơn về
cuộc đối đầu chính trong “Chiến tranh lạnh” đã diễn ra hơn nửa thế kỷ và đến
nay đã chấm dứt được hơn hai mươi năm. Nhưng dư âm và hệ quả của nó vẫn
còn kéo dài. Bên cạnh việc đề cao những nỗ lực của Liên Xô nhằm mục tiêu duy

CHƯƠNG 1: SỰ XUẤT HIỆN HAI KHỐI QUÂN SỰ ĐỐI ĐẦU

5
NATO - VÁCXAVA
1.1. Bối cảnh quốc tế dẫn đến sự xuất hiện hai khối quân sự đối đầu
1.1.1. Trật tự thế giới mới sau chiến tranh thế giới thứ hai
Đầu năm 1945 trong bối cảnh Hồng quân Liên Xô đang truy quét phát xít
ra khỏi biên giới đất nước và chuẩn bị tác chiến trên lãnh thổ các nước Đông Âu
đang chịu sự chiếm đóng của Đức quốc xã. Trong khi đó, quân đội đồng minh


6
Ở châu Âu, quân đội Liên Xô sẽ chiếm đóng miền Đông Đức, Đông Béclin
và các nước Đông Âu do Hồng quân Liên Xô giải phóng; còn quân đội Mỹ,
Anh, Pháp chiếm đóng miền Tây Đức, Tây Béclin, Italia và một số nước Tây Âu
khác. Như vậy, vùng Đông Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô, còn vùng
Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mỹ.
Ở châu Á - Thái Bình Dương, các cường quốc tham gia Hội nghị cũng thống
nhất, để quân đội Mỹ được quyền chiếm đóng Nhật Bản, quân đội Liên Xô chiếm
đóng Bắc Triều Tiên và quân đội Mỹ chiếm đóng Nam Triều Tiên, lấy vĩ tuyến 38
làm ranh giới. Các vùng còn lại của châu Á (Đông Nam Á, Tây Á, Nam Á ) vẫn
thuộc phạm vi ảnh hưởng truyền thống của các nước phương Tây.
Những quyết định của Hội nghị cấp cao Ianta về những vấn đề quan trọng
nhất của thế giới sau chiến tranh đã đặt những tiền đề cơ sở, có tính chất nền
tảng cho việc hình thành một trật tự thế giới mới sau chiến tranh - thường được
gọi là “Trật tự thế giới hai cực Ianta”.
Sau khi phát xít Đức đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, chiến tranh kết
thúc ở châu Âu, nhiều mâu thuẫn mới và nhiều vấn đề quốc tế mới lại nổi lên.
Sự đoàn kết trong chiến tranh nay đã trở thành sự nghi kị lẫn nhau. Có thể thấy
rõ điều này ngay sau khi F.Rudơven qua đời (ngày 12/4/1945), người lên thay là
phó Tổng thống Truman, trong một cuộc họp tại Nhà Trắng (ngày 23/4/1945) đã
tuyên bố: “Tôi chủ trương phải có sự cứng rắn trong chính sách của mình đối
với nước Nga”[14,145]. Đường lối cứng rắn này nhanh chóng nhận được sự
hưởng ứng từ Thủ tướng Anh Churchill. Ngày 6/5/1945, Churchill đề nghị
Truman nhanh chóng tổ chức Hội nghị thượng đỉnh lần thứ ba giữa Liên Xô -
Anh - Mỹ để giải quyết tiếp những vấn đề đặt ra khi Đức đầu hàng. Sau nhiều
lần trì hoãn, cuối cùng ba cường quốc thỏa thuận tiến hành Hội nghị thượng
đỉnh Tam cường tại Potsdam (Đức) trong nửa sau tháng 7/1945. Hội nghị diễn ra
từ ngày 17/7 đến ngày 25/7 và từ ngày 28/7 đến ngày 2/8/1945, bị gián đoạn do
kết quả bầu cử Quốc hội Anh. Bất chấp những nghi kị các nhà lãnh đạo ba đại

cường Liên Xô và Mỹ trong quan hệ quốc tế thời hậu chiến tranh thế giới thứ
hai và đã góp phần tạo ra cục diện lưỡng cực kéo dài trong suốt thời kì Chiến
tranh lạnh.
1.1.2. Sự đối lập về mục tiêu và chiến lược giữa hai cường quốc từ sau
chiến tranh thế giới thứ hai
1.1.2.1. Mục tiêu và chiến lược của Mỹ
Nước Mỹ tham gia chiến tranh trong điều kiện an toàn và thuận lợi nên đã
làm giàu và phát triển mạnh mẽ về các mặt. Trong thời kì đầu, Mỹ lại đứng
trung lập đóng vai trò lái súng bán vũ khí cho các nước tham chiến, cho nên tư
bản Mỹ đã thu được 114 tỉ đô la lợi nhuận. Mỹ đã làm giầu trên sự đổ nát của
châu Âu và thế giới. Vì thế sau chiến tranh Mỹ trở thành nước giầu mạnh nhất,
chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong thế giới tư bản chủ nghĩa. Về quân sự,
lục quân, hải quân và không quân cũng vượt lên hàng đầu, bỏ xa các nước khác.
Thời gian đầu sau chiến tranh, Mỹ lại nắm độc quyền về bom nguyên tử. Về tài
chính, Mỹ có khối lượng vàng dự trữ lớn nhất thế giới “gần 25 tỉ đô la năm
1949, chiếm gần 3/4 khối lượng vàng của thế giới tư bản”[15,285]. Sau chiến
tranh, Mỹ là chủ nợ duy nhất trên thế giới, ngay cả Anh và Pháp trước đó đã
từng là chủ nợ nay cũng phải đi vay Mỹ. Về kinh tế, sản lượng công nghiệp Mỹ

8
chiếm quá nửa tổng sản lượng công nghiệp của thế giới tư bản (56,4 năm 1948).
Sản lượng nông nghiệp cũng gấp hai lần sản lượng của Anh, Pháp, Cộng hòa
liên bang Đức, Italia, Nhật cộng lại (1949).
Có thể nói, Mỹ vượt trội hơn tất cả các nước trở thành đế quốc đầu sỏ thế
giới, lớn mạnh về quân sự, kinh tế cũng như uy tín về chính trị. Từ đây tham vọng
làm bá chủ thế giới của Mỹ ngày càng bộc lộ, giới thống trị Mỹ đề ra chiến lược
toàn cầu, âm mưu thống trị toàn thế giới. Bởi giới thống trị Mỹ cho rằng: sau
chiến tranh sẽ là “thời đại của Mỹ”. Thời đại Mỹ có thể dùng sức mạnh để buộc
các dân tộc phải phục tùng. Mỹ đã đề ra ba mục tiêu cho“ chiến lược toàn cầu”:
“Một là: Ngăn chặn, đẩy lùi, tiến tới tiêu diệt hệ thống xã hội chủ nghĩa thế

Kháccốp, Cremênchuc, Xêvaxtôpôn, Dapôrôgie, Xmôlenxcơ, Nôvôrôxixcơ
gần như bị san bằng. Những công trình lớn như: nhà máy thủy điện Đơnhep, các
nhà máy luyện kim Adốp và Dapôrôgie, nhà máy sản xuất nông nghiệp Rôxtốp
phải ngừng hoạt động. Theo những số liệu chính thức: “trong chiến tranh hơn
27 triệu người dân Xô Viết đã hi sinh trên chiến trường, 1.710 thành phố, hơn
70 nghìn làng mạc, 31.853 cơ sở công nghiệp , 65 nghìn cây số đường sắt, 98
nghìn nông trại tập thể , 1.876 nông trường quốc doanh bị tàn phá nặng
nề”[7,141]. Nhân dân Liên Xô dưới sự lãnh đạo của Đảng, bắt tay vào công
cuộc khôi phục và phát triển đất nước với cả nhiệt tình và sự hi sinh cao cả cùng
với tinh thần tự lực tự cường đã hoàn thành thắng lợi kế hoạch 5 năm khôi phục
kinh tế (1945 - 1950) trong vòng 4 năm 3 tháng. Công nghiệp được phục hồi vào
năm 1947. Đến năm 1950, tổng sản lượng công nghiệp tăng 73% so với mức
trước chiến tranh, hơn 6.200 xí nghiệp được phục hồi hoặc xây dựng mới đi vào
hoạt động. Sản xuất nông nghiệp năm 1950 đạt mức trước chiến tranh. Đặc biệt
trên lĩnh vực khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng. Năm 1949, Liên Xô chế
tạo thành công bom nguyên tử, phá thế độc quyền vũ khí nguyên tử của Mỹ.
Với tư thế là người chiến thắng vĩ đại sau chiến tranh, uy tín chính trị và
địa vị quốc tế của Liên Xô được đề cao hơn bao giờ hết. Là một nước xã hội chủ
nghĩa hùng mạnh (một trong hai cực của trật tự Ianta) là chỗ dựa của phong trào
cách mạng thế giới. Trước tình hình trên, các nước phương Tây (do Mỹ cầm
đầu) đã thực hiện chính sách thù địch với Liên Xô, bao vây kinh tế, phát động
chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang, chuẩn bị cuộc chiến tranh tổng lực nhằm
tiêu diệt Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
Để đối phó lại âm mưu của Mỹ, Đảng và nhà nước Xô Viết đã thực hiện
chính sách nhằm mục tiêu và phương hướng cơ bản là:
“Đảm bảo những điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội, loại trừ nguy cơ chiến tranh, duy trì hòa bình và an ninh thế giới, mở rộng
việc hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa.
Góp phần củng cố và thúc đẩy sự tiến bộ của hệ thống xã hội chủ nghĩa,
phát triển quan hệ hữu nghị, bình đẳng với các nước mới giải phóng.

được quá xa”[10,264]. Mối quan hệ đồng minh trong cuộc chiến tranh chống
phát xít đã nhanh chóng tan rã để thay thế bằng quan hệ xuất phát trên những lợi
ích hoàn toàn khác nhau, luôn đấu tranh không khoan nhượng. Từ quan hệ đối
đầu giữa hai nước Liên Xô và Mỹ chuyển thành quan hệ đối đầu giữa hai phe:
phe xã hội chủ nghĩa và phe tư bản chủ nghĩa. Thế giới lại lâm vào tình trạng
“Chiến tranh lạnh” giữa hai siêu cường và trở thành nhân tố chi phối chủ yếu
trong quan hệ quốc tế thời kì này. Sự mâu thuẫn giữa hai siêu cường càng trở
nên quyết liệt với việc hình thành hai khối quân sự NATO và VÁCXAVA do
Mỹ và Liên Xô đứng đầu, tiến hành chạy đua vũ trang, trang bị vũ khí hiện đại
để tăng cường sức mạnh của khối mình. Sự kình địch và chạy đua vũ trang của
hai khối quân sự này là cuộc đối đầu chính của “Chiến tranh lạnh”, đã làm cho
tình hình thế giới ngày càng căng thẳng. Cuốn hút nhiều quốc gia, từng khu vực
chịu ảnh hưởng sâu sắc của cuộc đối đầu này.

11
Quan hệ giữa Liên Xô và Mỹ mặc dù mâu thuẫn, nhưng vẫn phụ thuộc
và kiềm chế nhau, đều thực hiện chiến lược phòng ngự, đều tránh đụng đầu
trực tiếp với nhau. Vì thế, về đại cục, hòa bình thế giới được duy trì trong
suốt thời kì chiến tranh lạnh và cả sau đó để không diễn ra một cuộc chiến
tranh thế giới thứ III.
1.2. Sự xuất hiện hai khối quân sự đối đầu
1.2.1. Sự ra đời của khối Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO)
Ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình thế giới chuyển
biến mau lẹ, ngày càng có lợi cho Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa, bất lợi
cho Mỹ và đồng minh của Mỹ. Đầu năm 1947 ở các nước Đông Âu, khu vực
ảnh hưởng của Liên Xô, chính quyền lần lượt vào tay nhân dân lao động. Ở Thổ
Nhĩ Kì, Hy Lạp, phong trào đấu tranh vũ trang do Đảng Cộng sản lãnh đạo dấy
lên mạnh mẽ. Ở Pháp, Italia, Bỉ, Đảng Cộng sản tham gia chính phủ thực hiện
những cải cách về kinh tế, xã hội tiến bộ. Ở châu Á, Quân giải phóng Trung
Quốc đã giáng cho quân đội Tưởng Giới Thạch những đòn chí mạng. Trong bối

trên, theo đề xuất của thủ tướng Anh - Attlec và sự hưởng ứng nhiệt tình của
Pháp, một số nước Tây Âu xúc tiến kế hoạch xây dựng một khối liên kết chính
trị, quân sự để chống lại ảnh hưởng của Cộng sản ở châu Âu. Từ ngày 4 đến
ngày 12/3/1948, năm nước (Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Lucxembua) họp Hội nghị
thương lượng trên cơ sở dự thảo Hiệp ước của Bộ ngoại giao Anh. Ngày
17/3/1948, sau khi được các Chính phủ chấp thuận, năm nước trên đã kí Hiệp
ước Brussels. Nội dung chủ yếu của Hiệp ước là thiết lập mối liên kết về chính
trị và quân sự giữa năm nước thành viên, nhằm chống lại một cuộc xâm lược từ
bên ngoài (Hiệp ước có giá trị trong vòng 50 năm kể từ ngày ký ). Hiệp ước bao
gồm 10 điều khoản, đặc biệt trong điều 4 của Hiệp ước nêu rõ: “Nếu như nước
kí kết hiệp ước là đối tượng bị tấn công ở khu vực châu Âu, các thành viên khác
của hiệp ước sẽ hành động theo quy định của điều 51 Hiến chương Liên Hợp
Quốc để hỗ trợ mặt quân sự” [14,72]. Từ Hiệp ước Brussels, dẫn tới việc hình
thành một tổ chức gọi là Liên hiệp Tây Âu (WEU - Western European Union).
Đây được xem là một trong những bước “dậm nhảy” cho việc hình thành một
liên minh quân sự sau này là Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).
Mỹ hưởng ứng với việc hình thành liên minh quân sự phương Tây nhưng
không thỏa mãn vì liên minh này không có tác dụng lớn về mặt quân sự và Anh
lại chiếm địa vị lãnh đạo trong khối này. Hơn nữa, Mỹ gặp khó khăn khi tham
gia vào khối liên hiệp Tây Âu, vì trong luật pháp của liên bang có quy định
chính quyền Mỹ không được thiết lập liên minh quân sự với Tây Âu trong thời
bình. Cho nên, Mỹ cố nắm lấy khối này và dựa vào khối này làm nòng cốt cho
việc xây dựng “Khối Bắc Đại Tây Dương - NATO” rộng lớn hơn, trong đó Mỹ
sẽ giữ vai trò lãnh đạo.
Để xúc tiến việc thành lập, Mỹ đã tiến hành những cuộc vận động trong
quốc hội Mỹ và thương lượng giữa Mỹ với khối Liên hiệp Tây Âu.
Ngày 11/6/1948, Thượng nghị viện Mỹ Vandenbeng trong cuộc họp thứ
80, phiên họp thứ hai đã bỏ phiếu thông qua Nghị quyết thượng viện số 239 hay
còn gọi là “Nghị quyết Vandenbeng”. Theo Nghị quyết này, Vandenbeng giới


và các văn kiện phê chuẩn sẽ trao cho Mỹ lưu trữ. Hiệp ước không có giới hạn
thời gian, nhưng có quy định rằng có thể xem xét lại sau 10 năm (điều 12). Sau
20 năm mỗi nước thành viên có quyền chấm dứt sự tham gia với điều kiện thông
báo trước một năm.
Hiệp ước được kí kết vào ngày 4/4/1949 nhưng để Hiệp ước bắt đầu có giá
trị thực sự thì cần có sự phê chuẩn của các nước tham gia. Vì vậy, mà trong
Quốc hội Mỹ cũng trải qua 12 ngày căng thẳng tranh cãi đến từng điều khoản

14
của Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Cuối cùng, vào ngày 21/8/1949, Thượng
viện thông qua Hiệp ước với 82 phiếu thuận /13 phiếu trống. Bốn ngày sau
25/8/1949 các quốc gia tham gia phê chuẩn. Hiệp ước bắt đầu có giá trị thật sự.
Như vậy, tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương gọi tắt là NATO (North Atlantic
Treaty Orgnisation) đã ra đời.
Về mục đích của Hiệp ước NATO, trên các văn bản giấy tờ kí kết về hình
thức là bảo vệ hòa bình cho Mỹ - Tây Âu nhưng thực chất Mỹ muốn thao túng
các nước tư bản phương Tây để chĩa mũi nhọn vào Liên Xô và các nước xã hội
chủ nghĩa, nhằm đạt được mục tiêu cho chiến lược toàn cầu cũng như âm mưu
bá chủ thế giới của Mỹ.
Về hệ thống tổ chức, cơ quan cao nhất của NATO là Hội đồng tổ chức Hiệp
ước Bắc Đại Tây Dương, gồm đại diện thường trực Chính phủ của tất cả các nước
thành viên, các vị Bộ trưởng của các nước đó (Bộ ngoại giao, Quốc phòng hoặc
Tài chính) và một Tổng thư kí đứng đầu bộ phận thường trực của Hội đồng. Trực
thuộc Hội đồng có Ủy ban quân sự do Tổng tham mưu trưởng ba nước Mỹ, Anh,
Pháp đảm nhiệm và Ủy ban kế hoạch (về hàng hải, về giao thông đường bộ, về
dầu khí). Ngoài ra, trực thuộc Ủy ban Quân sự có Bộ tư lệnh tối cao quân đội
đồng minh của NATO (do Đại tướng Mỹ Eisenhoner là Tổng tư lệnh đầu tiên) và
các tư lệnh khác tại Bắc Đại Tây Dương - Địa Trung Hải. Các Bộ tư lệnh này sẽ
tập hợp quân đội các thành viên trong khối NATO để trở thành một lực lượng vũ
trang liên kết. Các cơ quan chủ yếu của NATO đặt ở thủ ở Pari (Pháp), riêng

hành kí kết những Hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tương trợ lẫn nhau: “Nam Tư -
Ba Lan (ngày 18/3/1946), Nam Tư - Tiệp Khắc (ngày 9/5/1946), Nam Tư -
Bungari (ngày 8/8/1947), Ba Lan - Bungari (ngày 29/3/1948), Tiệp Khắc - Bungari
(ngày 23/4/1948), Bungari - Hunggari (ngày 16/7/1948).” [6,167].
Các Hiệp ước được kí kết giũa Liên Xô và các nước Đông Âu, giữa các
nước Đông Âu với nhau đã liên kết các nước này thành một khối quân sự. Nếu
một trong những nước tham gia kí kết lâm vào tình trạng chiến tranh, bị nước
ngoài xâm lược, các nước trong liên minh được xem như là những mắt xích có
liên đới và có trách nhiệm tương trợ. Các Hiệp ước này bảo đảm an ninh cho
từng nước, nhưng Liên Xô do lực lượng quân sự mạnh nhất, có quân đội đóng
trên lãnh thổ các nước đó (trừ Nam Tư và Albania), nên Liên Xô có ảnh hưởng
lớn và giữ vai trò quyết định trong việc phòng vệ và trong chính sách đối ngoại
của các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, mới được thành lập ở Đông Âu.
Đặc biệt, sau khi cách mạng Trung Quốc thắng lợi và nước Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa thành lập, ngày 14/2/1950 hai chính phủ Liên Xô và Trung Quốc
đã kí kết “Hiệp ước hữu nghị liên minh tương trợ Xô - Trung”, xác định về mặt
pháp lí khối Liên minh giữa Liên Xô và Trung Quốc nhằm chống lại mọi âm
mưu tấn công xâm lược của chủ nghĩa đế quốc bên ngoài. Ngoài ra, Liên Xô còn
cho Trung Quốc vay tiền, giúp đỡ chuyên gia và kĩ thuật để Trung Quốc có thể
khôi phục và phát triển kinh tế.
Kể từ năm 1949, tình hình thế giới ngày càng trở nên căng thẳng với việc
Mỹ và các đồng minh của Mỹ đẩy mạnh chính sách “Chiến tranh lạnh” ráo riết

16
chạy đua vũ trang và thành lập liên minh quân sự nhằm chuẩn bị một cuộc chiến
tranh chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Tháng 4 năm 1949, tổ chức
Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) ra đời với sự tham gia của 12 nước tư
bản phương Tây làm cho tình hình thế giới căng thẳng, bởi đây là liên minh
quân sự lớn nhất, quan trọng nhất của Mỹ và các đồng minh. Tiếp đó là việc tái
vũ trang Cộng hòa Liên bang Đức và kết nạp nước này vào NATO, đe dọa


17
Về cơ cấu tổ chức Hiệp ước VÁCXAVA gồm: Uỷ ban tư vấn chính trị, để
trao đổi ý kiến về các vấn đề mà các thành viên cùng quan tâm. Bộ chỉ huy liên
hiệp lực lượng vũ trang được tách ra theo sự thỏa thuận của các nước thành viên,
sau này lập thành Ủy ban các Bộ trưởng quốc phòng các nước thành viên.
Sau khi ra đời với những hoạt động của mình, tổ chức Hiệp ước VÁCXAVA
đã có những ảnh hưởng tích cực và to lớn đối với sự phát triển tình hình ở châu
Âu và thế giới. Như một đối trọng với NATO, tổ chức Hiệp ước VÁCXAVA đã
có những ảnh hưởng tích cực và to lớn đối vơi sự phát triển tình hình ở châu Âu
và thế giới. Sự lớn mạnh của Liên Xô và các thành viên đã đưa tới sự hình thành
thế chiến lược cân bằng về sức mạnh quân sự giữa các nước xã hội chủ nghĩa và
các nước tư bản chủ nghĩa. Với mục đích cao cả là giữ gìn hòa bình, an ninh
châu Âu và thế giới các nước thành viên Tổ chức Hiệp ước VÁCXAVA đã
nhiều lần bày tỏ ý đồ sẵn sàng giải thể trong điều kiện khối NATO cũng đồng
tình làm như thế.
1.2.3. Tác động của việc hình thành hai khối quân sự trong mâu thuẫn
Xô - Mỹ
Cuộc đối đầu giữa Liên Xô và Mỹ, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư
bản không phải chỉ bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới thư hai, mà nó nảy sinh
ngay từ sau cách mạng tháng Mười (1917) với sự ra đời của nước Nga Xô viết.
Lúc bấy giờ, các nước tư bản phương Tây đã tập trung lực lượng và tìm mọi
cách “bóp chết” nước Nga Xô viết: 14 nước tư bản đã đưa quân can thiệp chống
nước Nga trong những năm 20 - 30 của thế kỉ XX, đặc biệt trong cuộc xâm lược
Liên Xô của nước Đức trong những năm 1941 - 1945. Mặc dù vậy, nhà nước
chủ nghĩa xã hội đầu tiên vẫn đứng vững, tồn tại và ngày càng hùng mạnh.
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô và các nước Mỹ, Anh, Pháp đều là
nạn nhân của cuộc xâm lược phát xít và họ đã liên minh với nhau để chống chủ
nghĩa phát xít, nhưng mâu thuẫn giữa Liên Xô và các nước tư bản này vẫn luôn
luôn tồn tại. Khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị tiêu

Mỹ và Liên Xô đứng đầu, đối địch nhau, chạy đua vũ trang của hai khối quân
quyết liệt. Đây cũng chính là cuộc đối đầu chính của “chiến tranh lạnh”, trong
nửa cuối thế kỉ XX đã làm cho tình hình thế giới ngày càng căng thẳng. Đánh
dấu cục diện của hai phe, sự đối đầu Đông - Tây trong quan hệ quốc tế và cuốn
hút từng quốc gia, từng khu vực chịu ảnh hưởng sâu xắc của cuộc đối đầu này.
Trong suốt thời gian tồn tại và hoạt động của mình hai tổ chức này đã ráo riết
chạy đua vũ trang và tiến hành những hoạt động quân sự, có ảnh hưởng đến an
ninh và hòa bình thế giới.
Khối quân sự NATO được thành lập, dưới sự cầm đầu của Mỹ, được che
đậy dưới danh từ lừa bịp như “phòng thủ để bảo vệ hòa bình và an ninh chung”,
“bảo vệ tự do”. Khối quân sự NATO đã trở thành một trung tâm gây chiến, xâm
lược của đế quốc Mỹ chuyên câu kết với các thế lực phản động của các nước tư
bản để tiến hành những hành động phản cách mạng ở châu Âu và thế giới. Đối
với phe tư bản mà nói, khối NATO là một tổ chức quân sự, chính trị qua đó đế
quốc Mỹ khống chế các nước ký kết về quân sự (để Mỹ thiết lập các căn cứ
quân sự, đóng quân và buộc các nước hội viên phải cung cấp nhân, tài, lực).

19
Điều này tác động lớn đối từng quốc gia tham gia khối NATO nói riêng và cục
diện thế giới cũng trở nên căng thăng bởi các khối quân sự do Mỹ đứng đầu hình
thành thế bao vây, cô lập Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa.
Ngược lại, khối VÁCXAVA do Liên Xô đứng đầu được thành lập nhằm
duy trì hòa bình, an ninh châu Âu, củng cố tình hữu nghị, sự hợp tác và sức
mạnh của các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Là một tổ chức mang tính chất liên
minh phòng thủ về quân sự, chính trị của các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu.
Khối VÁCXAVA trở thành đối trọng với khối NATO và góp phần không nhỏ
vào việc ổn định an ninh, chính trị trên thế giới. Với vai trò của mình khối
VÁCXAVA đã góp phần kiềm chế những hoạt động quân sự của khối NATO,
giảm bớt nguy cơ chiến tranh, buộc khối NATO phải tôn trọng một số quyền lợi
chủ quyền của các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

Mỹ với thị trường bên ngoài [2,21] Do đó, ở Mỹ đã hình thành nên cái mà người
ta gọi là tổ hợp quân sự công nghiệp - tức là một liên minh chặt chẽ giữa giới
công nghiệp và giới quân sự, giữa bọn trùm tư bản lũng đoạn với Lầu năm góc
(Trụ sở Bộ Quốc phòng Mỹ - biểu tượng của quân đội Hoa Kỳ) và chính phủ
Mỹ nói chung. Đứng đầu các tập đoàn này có thể nắm giữ cả các chức vụ cao
nhất trong chính quyền, kể cả chức Tổng thống. Điều đó đã quyết định đến
chính sách phản động hiếu chiến và xâm lược của Chính phủ Mỹ. Không chỉ
chống đối công nhân và các lực lượng dân chủ, tiến bộ ở Mỹ, tấn công vào đời
sống của người lao động. Giới thống trị Mỹ còn đề ra chiến lược toàn cầu, âm
mưu thống trị toàn thế giới và chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản.
Vì vậy, Mỹ tập trung mọi nỗ lực chống Liên Xô và khối VÁCXAVA, đầu tư
phát triển lực lượng quốc phòng, bố trí các đơn vị cho các hệ thống vũ khí đều
dựa trên cơ sở đánh giá mối đe dọa từ Liên Xô. Mỹ và phương Tây nỗ lực hiện
đại hóa quân đội, hoạnh định các chính sách tác chiến và tăng ngân sách cho
công nghiệp quân sự.
Ngành công nghiệp và các cơ sở nghiên cứu của chính phủ Mỹ, phối hợp
chặt chẽ với nhau để duy trì ưu thế về số lượng vũ khí. Dành các khoản ngân
sách đầu tư cho công nghiệp quốc phòng và phát triển công nghệ Mỹ để dần dần
xóa bỏ khoảng cách công nghệ so với Liên Xô.
Chiến lược quốc phòng của Mỹ còn được dựa trên sự bố trí lực lượng của
Tổ chức Hiệp ước VÁCXAVA, chủ yếu ở các nước xã hội chủ nghĩa như Đông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status