BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
HOÀNG THỊ NHÂM
SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI VIỆT NAM
TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN Ở
CAO BẰNG (22/12/1944 – 15/5/1945) KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
luận này.
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn tới tập thể sinh viên K50 Đại học sư
phạm Lịch Sử và toàn thể bạn bè đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa
luận này.
Để khóa luận thêm hoàn thiện em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý
của quý thầy cô và các bạn sinh viên.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện:
Hoàng Thị Nhâm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ và đóng góp của đề tài 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu 4
3.3. Nhiệm vụ của đề tài 4
3.4. Đóng góp của đề tài 5
4. Cơ sở tài liệu, phương pháp nghiên cứu 5
4.1. Cơ sở tài liệu 5
4.2. Phương pháp nghiên cứu 5
5. Bố cục của đề tài 5
CHƯƠNG 1. SỰ CHUYỂN HƯỚNG CHỈ ĐẠO CHIẾN LƯỢC CÁCH
MẠNG TRONG THỜI KỲ 1939 - 1941 VÀ CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG
TRONG VIỆC LỰA CHỌN CAO BẰNG ĐỂ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG
ngày 22/12/1944 tại Nguyên Bình - Cao Bằng. Sự ra đời của Đội Việt Nam
tuyên truyền giải phóng quân đánh dấu bước phát triển rất quan trọng của lực
lượng vũ trang nhân dân ta trong quá trình hình thành và phát triển từ năm 1930.
Đó cũng là cái mốc đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự nghiệp đấu
tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.
Xuất phát từ kinh nghiệm đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc và lý
luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Bác Hồ và Đảng ta đã xác định: “phải dùng
bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng”. Chính vì vậy, ngay
từ khi mới ra đời Đảng ta đã rất coi trọng từng bước xây dựng lực lượng vũ
trang, trong Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt năm 1930 - cương lĩnh
đầu tiên của Đảng ta do Bác Hồ khởi thảo đã đề ra vấn đề thành lập “Quân đội
công nông”. Thực hiện chủ trương ấy của Đảng, từ rất sớm, các đội Tự vệ đỏ
trong Xô viết Nghệ - Tĩnh, đội du kích Bắc Sơn, du kích Nam kỳ, du kích Ba
Tơ, các đội Cứu quốc quân… đã ra đời. Khi cách mạng đã phát triển thành cao
trào, cần tích cực chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa, Bác Hồ đã nhận định đúng tình
hình, sáng suốt đề ra chủ trương lập “đội quân chủ lực” - Đội Việt Nam tuyên
truyền giải phóng quân.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là đội quân chủ lực, đội viên
của Đội được chọn từ những thành viên ưu tú trong hàng ngũ các lực lượng vũ
trang địa phương, các đội du kích Cao - Bắc - Lạng, đội quân Nam tiến, một số
là đội viên Cứu quốc quân. Vừa mới ra đời, với lực lượng rất non trẻ, dù chưa
được huấn luyện quân sự cùng nhau ngày nào, Đội đã ra quân đánh thắng giòn
giã trận Phai Khắt và trận Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống “đã ra quân là
đánh thắng” và truyền thống đánh thắng trận đầu của quân đội ta.
Trước những chuyển biến nhanh chóng của tình hình thế giới và trong
nước, sự phát triển của phong trào cách mạng, sự lớn mạnh của các đơn vị vũ
trang, tháng 5/1945, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã thống nhất
với cứu quốc quân và các lực lượng vũ trang các địa phương trong cả nước
thành một lực lượng vũ trang thống nhất có tên gọi là Việt Nam giải phóng quân
để cùng nhân dân tiến hành khởi nghĩa từng phần, tiến tới Tổng khởi nghĩa.
đổi mới của Đảng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tiến lên công nghiệp hóa -
hiện đại hóa, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ
quốc (1975 - 2000). Trong đó có đề cập đến tình hình cách mạng Cao Bằng
trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945 và sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên
truyền giải phóng quân (22/12/1944).
+ Cuốn “Cao Bằng - Lịch sử đấu tranh vũ trang cách mạng (1930 - 1954)”
do Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Cao Bằng tổ chức biên soạn và xuất bản năm 1990
3
viết về thời kì ra đời và phát triển lực lượng vũ trang tỉnh Cao Bằng (1930 -
1954). Trong đó sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được
coi là bước ngoặt của cuộc đấu tranh cách mạng ở Cao Bằng.
+ Cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Nguyên Bình (1930 - 1945)” tập 1, do
Ban Chấp hành Đảng bộ Nguyên Bình xuất bản năm 1994 đã khái quát toàn bộ
hoạt động của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc huyện Nguyên Bình từ khi ra
đời đến năm 1945. Trong đó có đề cập đến sự ra đời của Đội Việt Nam tuyên
truyền giải phóng quân và các hoạt động của Đội ở Nguyên Bình.
+ Cuốn “Lịch sử Đảng bộ xã Tam Kim (1930 - 2000)” do Ban Thường vụ
Huyện ủy Nguyên Bình xuất bản năm 2005 đã khái quát toàn bộ quá trình lịch
sử đấu tranh cách mạng giai đoạn (1930 - 2000) của Đảng bộ và nhân dân xã
Tam Kim. Trong đó có đề cập đến hoạt động của Đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân ở Tam Kim những năm cuối 1944 đầu năm 1945.
+ Cuốn “Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” của Nhà xuất bản
Quân đội nhân dân, 2003, đã khái quát quá trình ra đời và hoạt động của Đội
Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân từ tháng 12 năm 1944 đến tháng 5 năm
1945, nhưng còn mang tính chung chung, sơ lược, chưa đi sâu phân tích tình
hình cách mạng Việt Nam 1939 - 1945 và yêu cầu cấp thiết của việc thành lập
đội quân chủ lực của lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam, chưa làm rõ ý
nghĩa của việc thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.
+ Cuốn “Lịch sử quân sự Việt Nam” tập 9 của Nhà xuất bản Chính trị
Có thể nói, tất cả các công trình nghiên cứu trên đều đã đề cập đến vấn đề này
dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau nhưng sự phản ánh đó còn rất chung
chung. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên cũng đã góp phần định hướng và
là nguồn tài liệu tham khảo quý để chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài này, làm rõ
thêm một số vấn đề khoa học mà các công trình trước chưa có điều kiện thực hiện.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ và đóng góp của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự ra đời và hoạt động của Đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về sự ra đời và các hoạt động tiêu biểu của Đội
Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ở Cao Bằng trong khoảng thời gian từ
ngày 22 tháng 12 năm 1944 đến ngày 15 tháng 5 năm 1945.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
- Làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn cách mạng đưa đến sự ra đời của Đội Việt
Nam tuyên truyền giải phóng quân.
- Các hoạt động của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ở Cao
Bằng từ ngày 22 tháng 12 năm 1944 đến ngày 15 tháng 5 năm 1945.
- Làm rõ vai trò và những đóng góp của Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân đối với cách mạng Cao Bằng và cách mạng cả nước.
5
3.4. Đóng góp của đề tài
- Làm rõ sự ra đời và các hoạt động của Đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân.
- Góp phần làm rõ vai trò và những đóng góp của Đội Việt Nam tuyên
truyền giải phóng quân đối với phong trào cách mạng Cao Bằng nói riêng và
cách mạng cả nước nói chung.
- Khơi dậy truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc của thế hệ trẻ, tinh
thần tự lực tự cường và truyền thống bách chiến bách thắng của Quân đội nhân
1.1. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng của Đảng trong thời kỳ
1939 - 1941
1.1.1. Tình hình cách mạng Việt Nam trong những năm 1939 - 1941
* Thế giới:
Do tác động của quy luật phát triển không đồng đều về kinh tế và chính trị
giữa các nước tư bản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa đã làm cho lực lượng so
sánh trong thế giới tư bản thay đổi căn bản, làm cho việc tổ chức và phân chia
thế giới theo hệ thống Vecxai - Oasinhtơn do kết quả của Chiến tranh thế giới
thứ nhất không còn phù hợp nữa. Điều đó nhất định dẫn đến một cuộc chiến
tranh mới giữa các nước đế quốc để phân chia lại thế giới.
Đặc biệt, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 làm cho những
mâu thuẫn trên thêm sâu sắc, dẫn tới việc lên cầm quyền của Chủ nghĩa phát xít
ở một số nước với ý đồ gây chiến tranh để phân chia lại thế giới.
Trong khi chủ nghĩa phát xít Đức, phát xít Italia và chủ nghĩa quân phiệt
Nhật Bản đang ráo riết chuẩn bị chiến tranh thì các cường quốc phương Tây lại
thực hiện chính sách hai mặt, điều đó đã tạo điều kiện cho phe phát xít gây ra
cuộc chiến tranh thế giới thứ hai tàn sát nhân loại.
Nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới khó tránh khỏi đang đến gần đã làm
cho tình hình thế giới càng trở nên căng thẳng.
Trên thế giới, từ những năm 30 của thế kỉ XX các nước phát xít mở rộng
xâm lược nhằm phân chia khu vực thống trị thế giới. Năm 1935, Đức chiếm
đóng vùng Xarơ do Hội Quốc Liên quản trị. Tháng 10 năm 1935, Italia xâm
lược Êtiôpia. Mùa hè năm 1936, Đức và Italia can thiệp quân sự vào Tây Ban
Nha, giúp bọn phát xít Franco chống chính quyền cộng hòa. Cũng trong năm
1936, Đức chiếm đóng vùng Rênani do Hội Quốc Liên quản trị.
Tháng 3 năm 1938, Đức chiếm đóng Áo. Tháng 3 năm 1939, Đức chiếm
Praha, sau đó chiếm cả Tiệp khắc. Tháng 4 năm 1939, Italia chiếm đóng Anbani.
Hơn nữa, Đức còn định lôi kéo cả Anh Và Mĩ đánh Liên Xô.
7
Sự thất bại và đầu hàng nhanh chóng của Pháp làm cho uy thế của Pháp bị
sụp đổ trên trường quốc tế, toàn bộ hệ thống thuộc địa của Pháp bị lung lay.
Pháp đầu hàng Đức, làm cho Anh bị cô lập, đặt Anh trước nguy cơ mất
nước. Mĩ cũng cảm thấy nguy cơ chiến tranh sẽ đe dọa đến nước mình. Vì vậy,
tháng 9 năm 1940, Hiệp nghị Anh - Mĩ được kí kết, liên minh Anh - Mĩ hình
thành do Mĩ khống chế.
8
Sau khi chiếm đóng nước Pháp, từ cuối năm 1940 đến đầu năm 1941, Đức
đánh chiếm Nam Tư và Hi Lạp.
Trong vòng một năm rưỡi kể từ khi chiến tranh bùng nổ, phát xít Đức đã
thôn tính và đặt ách thống trị của mình lên hầu hết các nước châu Âu tư bản chủ
nghĩa. Đức trở thành cường quốc quân sự mạnh nhất, là kẻ cạnh tranh nguy
hiểm nhất của Mĩ và Anh trên thị trường thế giới, đang trực tiếp uy hiếp sự tồn
tại của Anh, Mĩ, Liên Xô và toàn thế giới.
Ngày 27 tháng 9 năm 1940, tại Béclin, Nhật Bản, Đức và Italia ký “Hiệp
ước tay ba” nhằm phân chia khu vực thống trị thế giới. Nhật công nhận sự thống
trị của Đức và Italia ở châu Âu. Đức, Italia công nhận sự thống trị của Nhật ở
Đông Á.
Gây ra chiến tranh thế giới, chủ nghĩa phát xít đã gieo rắc đau thương, tang
tóc và bắt nhân dân các nước làm nô lệ cho chúng. Tập đoàn phát xít Đức - Italia
- Nhật là kẻ thù nguy hiểm nhất của loài người.
Khi đã chiếm được Pháp và châu Âu tư bản chủ nghĩa, Đức chuẩn bị xâm
lược Liên Xô, mang tên kế hoạch “Bacbarot” với mục tiêu tiến công chớp
nhoáng chiếm Liên Xô trong vòng ba tháng và hủy diệt hàng loạt dân thường.
Chiến tranh thế giới thứ hai ngày càng phát triển ác liệt với quy mô rộng
lớn chưa từng thấy, lôi cuốn loài người vào một cuộc hủy diệt.
Trước sự phát triển mạnh mẽ của chiến tranh thế giới thứ hai, một yêu cầu
đặt ra cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể loài người là giải
phóng dân tộc thoát khỏi ách nô dịch của phát xít Đức, Italia và Nhật Bản, cứu loài
đánh vào Lạng Sơn, đổ bộ vào Hải Phòng, chính thức phát động cuộc chiến
tranh xâm lược Đông Dương, buộc thực dân Pháp phải dâng Đông Dương cho
Nhật. Chính quyền của thực dân Pháp ở Đông Dương từ Toàn quyền Catơru đến
Đờcu phải liên tiếp nhượng bộ các quyền lợi của thực dân Pháp ở Đông Dương
cho Nhật.
Đông Dương từ chỗ là thuộc địa của Pháp đến nay trở thành thuộc địa
chung của Pháp và Nhật.
Sự đầu hàng của chính phủ phản động Pháp và việc quân Nhật vào Đông
Dương đã làm đảo lộn mọi mặt của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở khu vực
này và cả Đông Dương bị lôi kéo vào guồng máy chiến tranh.
Về chính trị, chính quyền thực dân đã thủ tiêu các quyền tự do dân chủ mà
nhân dân ta đã giành được trong thời kỳ đấu tranh đòi dân chủ 1936 - 1939.
Pháp - Nhật điên cuồng tấn công vào Đảng Cộng sản và các đoàn thể, các tổ
chức do Đảng lãnh đạo, báo chí tiến bộ bị đóng cửa. Những cuộc khám xét, bắt
bớ diễn ra hàng loạt. Ngày 29 tháng 9 năm 1939, đế quốc Pháp bắt đồng chí Lê
Hồng Phong tại Sài Gòn. Nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt giam. Nhiều cơ sở
Đảng bị đánh phá nhiều lần. Nhiều trại giam mới mọc lên ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ
và Nam Kỳ.
10
Về kinh tế, phát xít Nhật và thực dân Pháp thực thi ở Đông Dương nền
“kinh tế chỉ huy”, độc quyền, vơ vét sức người, sức của của nhân dân Đông
Dương phục vụ cho chiến tranh.
Những chính sách đàn áp, khủng bố mà thực dân, phát xít Pháp - Nhật thi
hành như chính sách kinh tế, tài chính phục vụ chiến tranh đã đẩy các tầng lớp
nhân dân đến bước đường cùng. Trừ một số đại địa chủ nhân cơ hội này tịch thu
hoặc mua rẻ ruộng đất của nông dân, số đông trung tiểu địa chủ bị thiệt hại, một
số sa sút, thậm chí bị tịch thu gia sản.
Tư bản bản xứ, số ít mở thêm được công nghệ nhỏ, số đông bị thiệt hại, sa sút.
Viên chức bị sụt lương, lại bị tăng thuế thu nhập và sinh hoạt đắt đỏ.
Dương. Nếu gặp khó khăn thì đến Thượng Hải, nơi Quốc tế Cộng sản đã lập lại
các cơ sở liên lạc của mình rồi tìm đường về Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc đã
được vụ tổ chức cán bộ của Quốc tế cộng sản mời đến làm tờ khai lí lịch, hộ
chiếu, giấy đi đường… Song chuyến đi này phải hủy bỏ vì tình hình thay đổi.
Trong thời gian bị giam lỏng ở Liên xô, không lúc nào người rồi xa mục
đích về nước cứu đồng bào.
Trước những chuyển biến của tình hình thế giới, có lợi cho cách mạng,
ngày 6 tháng 6 năm 1938, Nguyễn Ái Quốc chủ động viết thư đề nghị Quốc tế
cộng sản cho về nước hoạt động. Người yêu cầu: “đừng để tôi sống quá lâu
trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài
của Đảng” [11, 90]. Yêu cầu của Người được Quốc tế Cộng sản chấp thuận.
Vào một buổi chiều se lạnh, Nguyễn Ái quốc đáp xe lửa ở ga Iaroxalapxki rời
Mátxcơva đi về phương Đông. Nhưng “cơn lốc” của cuộc chiến tranh thế giới
làm gián đoạn hành trình của Người, buộc Người phải ở lại Trung Quốc một
thời gian.
Trong thời gian ở Trung Quốc, Người đã tham gia các hoạt động của Đảng
Cộng sản Trung Quốc. Người tham gia viết sách, đặc biệt là viết bài in trên báo
Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta), dưới dạng viết thư. Ngoài ra, Người còn
viết bài đăng trên tờ “Cứu vong nhật báo” (Trung Quốc). Qua đó, Người tố cáo
những vụ tàn sát dã man, như hàng chục nghìn đàn bà, con gái Trung Quốc ở
nhiều lứa tuổi bị giặc Nhật bắt cóc và hãm hiếp.
Cuối tháng 2 năm 1940, Nguyễn Ái Quốc với biệt danh “Ông Trần” về
Côn Minh. Người hỏi về tình hình trong nước, những hoạt động ở Côn Minh và
bắt liên lạc với ban chỉ huy ở ngoài của Đảng. Tại Côn Minh, Người đã đến ở
nhà ông Tống Minh Phương trong một gian buồng nhỏ ở trên gác số nhà 77 ở
đường Kim Bích. Đây là gia đình Việt kiều được giác ngộ và tham gia cách
mạng từ những năm 30 của thế kỉ XX.
Suốt quá trình từ tháng 6 năm 1940 đến tháng 1 năm 1941 là giai đoạn
chuẩn bị trực tiếp cho sự trở về Tổ quốc của Người. Tháng 6 năm 1940, với sự
kiện nước Pháp bị phát xít Đức xâm lược, chính phủ Pháp đầu hàng phát xít
Pháp; thái độ của các giai cấp xã hội và vạch ra đường lối chính trị của cách
mạng Đông Dương trước tình hình mới.
Hội nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông
Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm
cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.
Đây là sự chuyển hướng quan trọng nhất về chỉ đạo chiến lược. Để phù hợp
với sự chuyển hướng đó, khẩu hiệu cách mạng cũng thay đổi. Hội nghị chủ
trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng
13
đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, chống lãi
nặng. Khẩu hiệu lập chính quyền Xô viết công, nông, binh được thay thế bằng
khẩu hiệu lập chính quyền dân chủ cộng hòa.
Về phương pháp cách mạng, chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân
chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt
động hợp pháp, nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp.
Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất dân
tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ trước đó nhằm tập trung
mọi lực lượng của dân tộc vào nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến tranh đế quốc
và ách thống trị phát xít ở thuộc địa.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11 năm 1939 đánh dấu bước
chuyển hướng quan trọng về đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng,
thể hiện sự nhạy bén về chính trị và năng lực sáng tạo của Đảng. Nghị quyết này
góp phần làm phong phú kho tàng lí luận của Đảng ta về cách mạng dân tộc, dân
chủ nhân dân.
Trước sự chuyển biến mau lẹ của tình hình quốc tế và sự sục sôi của cách
mạng trong nước, đặc biệt là từ khi Nhật xâm chiếm Đông Dương tháng 9 năm
1940. Thực dân Pháp buộc phải ký hiệp định chấp nhận cho Nhật chiếm một số
địa bàn ở Đông Dương. Nhân dân ta một cổ hai tròng đã vùng lên khởi nghĩa ở
nhiều nơi. Ở Lạng Sơn có khởi nghĩa Bắc Sơn ngày 27 tháng 9 năm 1940. Lúc
lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn
chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng
không đòi lại được” [3, 113].
Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi
tắt là Việt Minh nhằm tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, các dân tộc cho
mục tiêu giải phóng dân tộc. Hội nghị nhận định: với lực lượng sẵn có, ta có thể
lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể
giành được sự thắng lợi và mở đường cho một cuộc khởi nghĩa to lớn. Từ đó,
hội nghị đề ra chủ trương thành lập lực lượng vũ trang toàn quốc bằng nhiều
hình thức, trong đó có việc mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc sẵn có làm
cho các đoàn thể có một tinh thần hy sinh tranh đấu sẵn sàng gây cuộc khởi
nghĩa, phải có những tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế
quốc. Hội nghị đưa ra điều lệ của “Việt Nam tiểu tổ du kích cứu quốc”, tên gọi,
tổ chức, biên chế và mục đích hoạt động của các đơn vị này.
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 5 năm 1941 đã
hoàn chỉnh đường lối đấu tranh mới của Đảng được nêu ra ở Hội nghị lần thứ 6
Ban Chấp hành Trung ương (tháng 11/1939). Đó là đặt nhiệm vụ giải phóng dân
tộc lên hàng đầu, đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước trong Mặt trận Việt
Minh, xây dựng lực lượng quần chúng ở cả nông thôn và thành thị; tiến tới xây
dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang. Đó cũng chính là một trong
những nguyên nhân dẫn đến sự thành lập Đội Việt nam tuyên truyền giải phóng
quân sau này. 15
1.2. Cao Bằng được Đảng ta lựa chọn để xây dựng lực lượng cách mạng
Cao Bằng là một tỉnh ở địa đầu phía Bắc của Tổ quốc. Ở đây, núi rừng
trùng điệp xen kẽ với những cánh đồng, thung lũng vừa và nhỏ. Toàn tỉnh nằm
trên cao nguyên có độ cao trung bình trên 1000 mét, đặc điểm địa hình thấp dần
từ Tây Bắc xuống Đông Nam và từ Tây sang Đông, tạo thành một dải đất án
Cao Bằng, sự truyền bá của tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng cách
16
mạng của nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc, mà chủ yếu là qua những hạt giống
đỏ - những thanh niên Cao Bằng giác ngộ cách mạng về hoạt động, ngày
1/4/1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên đã được thành lập ở Nặm Lìn, xã
Hoàng Tung, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Chi bộ đầu tiên của tỉnh làm việc
như một Ban tỉnh ủy lâm thời, do đồng chí Hoàng Văn Nọn làm Bí thư. Từ đây
giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc Cao Bằng bước vào một thời kỳ lịch
sử mới - thời kỳ đấu tranh cách mạng dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Từ chi bộ ban đầu, đến cuối năm 1930, một số chi bộ khác đã ra đời ở mỏ
thiếc Tĩnh Túc, châu Hòa An. Ban tỉnh ủy Cao Bằng được thành lập để tăng
cường sức lãnh đạo cho phong trào cách mạng của tỉnh. Lần lượt các chi bộ
Đảng được thành lập ở châu Hà Quảng (5/6/1931), chi bộ Đảng châu Quảng
Uyên (2/1932), chi bộ Đảng xã Vân Trình huyện Thạch An (1933), chi bộ Đảng
xã Minh Tâm châu Nguyên Bình (1935)…
Nhằm chuẩn bị cho việc đấu tranh giành chính quyền, Đảng bộ Cao
Bằng vẫn chú trọng phát triển lực lượng vũ trang. Một mặt, Tỉnh ủy chọn 40
cán bộ cử đi học tập quân sự ở Trung Quốc. Mặt khác, thành lập binh công
xưởng để chế tạo vũ khí, trang bị cho các đội viên tuyên truyền. Cuối năm
1939, tại châu Hà Quảng, đội vũ trang tuyên truyền đầu tiên được thành lập.
Lúc đầu, có 3 đồng chí hoạt động tại địa bàn Lục Khu hỗ trợ cho phong trào
đấu tranh của quần chúng.
Khi tình hình quốc tế và trong nước có những biến chuyển mau chóng, đặc
biệt với sự kiện nước Pháp bị phát xít Đức xâm lược (6/1940), Nguyễn Ái Quốc
nhận định: đây là cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Và Người quyết
định về nước để chuẩn bị cho công cuộc giải phóng dân tộc. Rồi Người điện cho
Lâm Bá Kiệt (tức Phạm Văn Đồng), Dương Hoài Nam (tức Võ Nguyên Giáp)
và Cao Hồng Lĩnh đang trên đường đi học ở Diên An (Trung Quốc) quay lại
kiện thuận lợi để “thoái”.
Bên cạnh đó, Cao Bằng nối với Bắc Cạn - Thái Nguyên, thông với cả nước
bằng quốc lộ số 3. Đây là yếu tố đảm bảo cho việc “tiến” để nối với miền xuôi.
Nối được với Thái Nguyên tức là nối được với các vùng rừng núi phía Đông Bắc
và Tây Bắc cũng như phát triển về xuôi, bởi Thái Nguyên là vùng đệm giữa
đồng bằng và miền núi. Từ Cao Bằng còn theo quốc lộ 4 để đến được với Lạng
Sơn, một điểm nút giao thông quan trọng trên con đường quốc tế xuyên Việt.
Ngoài việc đảm bảo hai yếu tố thuận lợi có thể rút sang Trung Quốc và tiến
về các nơi khác, về miền xuôi, địa hình Cao Bằng còn rất hiểm trở, giao thông đi
lại khó khăn. Ở đây, những vùng sâu, vùng xa, bộ máy cai trị của thực dân cũng
chưa vươn tới được, nhờ đó cán bộ cách mạng của ta có thể gây cơ sở để phát
triển phong trào.
Ngoài yếu tố “địa”, Cao Bằng còn chứa yếu tố “nhân”, đảm bảo cho việc
xây dựng một căn cứ địa cách mạng. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình, Hồ Chí Minh đã gặp nhiều người quê ở Cao Bằng, qua đó hiểu biết được
rất nhiều về vùng đất này. Một trong những người Cao Bằng đầu tiên lãnh tụ Hồ
Chí Minh gặp đó là Hoàng Văn Nọn (Tú Hưu) vào tháng 7/1935 tại Mátxcơva,
18
sau đó là Hoàng Đình Giong. Mặt khác, Cao Bằng là nơi có phong trào cách
mạng phát triển mạnh. Tháng 4/1930, chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên đã ra đời ở
đây, cũng là chi bộ đầu tiên ở Việt Bắc: chi bộ Nặm Lìn (Hòa An - Cao Bằng).
Dưới ảnh hưởng của chi bộ này, lần lượt ra đời một số chi bộ khác tại Phúc
Tăng, Xuân Phách (Hòa An), Tĩnh Túc (Nguyên Bình), Sóc Hà (Hà Quảng) và
nhất là chi bộ Cốc Cooc (Quảng Hòa) - chi bộ giữ đường dây liên lạc từ Cao
Bằng ra Long Châu (Trung Quốc), nơi có chi bộ hải ngoại của Đảng Cộng sản
Đông Dương. Tới tháng 7/1933, Ban lãnh đạo Đảng hải ngoại đã công nhận Ban
chấp hành tỉnh Cao Bằng do đồng chí Hoàng Văn Nọn làm Bí thư. Tiếp sau đó,
các châu ủy cũng lần lượt được thành lập ở Hòa An (1933), Hà Quảng (1935).
Như vậy, so với các tỉnh biên giới phía Bắc, Cao Bằng là nơi có phong trào cách
cán bộ lãnh đạo cách mạng khá vững vàng.
Ngày 28/1/1941, Hồ Chí Minh và một số cán bộ cách mạng được Người
huấn luyện tại Trung Quốc đã vượt qua cột mốc biên giới số 108 tại châu Hà
Quảng trở về đất nước sau gần 30 năm hoạt động ở nước ngoài. Tới ngày
8/2/1940, với bí danh “Già Thu”, Người tới ở và làm việc tại hang Cốc Bó thuộc
bản Pác Bó. Từ đây, Pác Bó trở thành nơi đứng chân của Hồ Chí Minh cùng
Trung ương Đảng chỉ đạo phong trào cách mạng toàn quốc.
Như vậy, trước sự thay đổi của tình hình cách mạng thế giới và trong
nước, Đảng ta đã kịp thời đưa ra những quan điểm đúng đắn để chỉ đạo phong
trào cách mạng trong thời kì mới, tập trung vào nhiệm vụ giải phóng dân tộc,
tích cực xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang. Trong đó, Cao
Bằng là nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Trung ương Đảng chọn làm chỗ đứng chân chỉ đạo phong trào cách mạng
toàn quốc.
chức tự vệ ra đời ngày một nhiều làm nhiệm vụ hỗ trợ phong trào đấu tranh của
quần chúng. Mặt khác, Nguyễn Ái Quốc rất chú trọng xây dựng lực lượng vũ
trang vùng căn cứ địa để vừa giữ vững địa bàn, vừa đào tạo nguồn cán bộ cung
cấp cho tỉnh. Từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1941, Hồ Chí Minh và Đảng bộ Cao
Bằng đã chọn hơn 70 cán bộ gửi sang Trung Quốc học quân sự.