iii
MỤC LỤC MỞ ĐẦU i
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ 9
PHẬT GIÁO KHU VỰC ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ 9
1.1. Khái quát chung về Phật giáo Việt Nam 9
1.1.1 Quá trình du nhập của Phật giáo vào Việt Nam 9
1.1.2. Tình hình Phật giáo Việt Nam hiện nay 16
1.2 Phật giáo khu vực đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 22
1.2.1 Sự du nhập và phát triển của Phật giáo khu vực Đồng Bằng
Bắc Bộ 22
1.2.2 Đặc điểm của Phật giáo khu vực đồng bằng Bắc Bộ 32
Chương 2: MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO KHU VỰC
ĐỒNG BẮNG BẮC BỘ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ, TINH
THẦN PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY 46
2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo khu vực Đồng Bằng Bắc Bộ đến đời sống
văn hoá phụ nữ Việt Nam hiện nay 48
2.1.1. Ảnh hưởng của Phật giáo khu vực Đồng Bằng Bắc Bộ đối với
văn hoá ứng xử của phụ nữ Việt Nam hiện nay 48
2.1.2 Ảnh hưởng của Phật giáo khu vực Đồng bằng Bắc Bộ đối với văn
hóa ăn, mặc của phụ nữViệt Nam hiện nay 60
2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo khu vực Đồng bằng Bắc Bộ đến đời
sống tinh thần phụ nữ Việt Nam hiện nay 73
2.2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo khu vực Đồng bằng Bắc Bộ đến tín
ngưỡng của phụ nữ Việt Nam hiện nay 73
2.2.2 Ảnh hưởng của Phật giáo khu vực Đồng bằng Bắc Bộ đối với tâm
lý và phong tục tập quán phụ nữ Việt Nam hiện nay 79
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng, ra đời, tồn tại và
phát triển từ rất lâu trong lịch sử nhân loại. Sự ra đời và phát triển của tôn
giáo, một mặt do điều kiện kinh tế - xã hội, mặt khác do nhu cầu tín
ngưỡng, đời sống tinh thần của con người quyết định. Bởi vậy, từ xã hội
nguyên thủy đến nay đã có rất nhiều loại hình tôn giáo với tín ngưỡng, nghi
lễ và các hình thức sinh hoạt khác nhau. Tôn giáo đã sớm cấu thành đời
sống con người, tồn tại trong mối quan hệ tương hỗ với các lĩnh vực khác
như xã hội, văn hóa.
Việt Nam vốn là một nước đa tôn giáo. Các tôn giáo đó có lịch sử phát
triển và phạm vi ảnh hưởng xã hội không giống nhau. Có tôn giáo du nhập
từ bên ngoài, có tôn giáo sinh ra từ nhu cầu nội sinh của dân tộc. Quá trình
tồn tại của đời sống văn hóa, tinh thần con người Việt Nam chịu ảnh hưởng
rất nhiều từ văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo. So với các tôn giáo khác, Phật
giáo được truyền vào Việt Nam từ rất sớm, ảnh hưởng rất quan trọng tới
đời sống văn hóa, tinh thần con người Việt Nam trong quá khứ cũng như
hiện tại. Có thời kỳ, Phật giáo gần như trở thành Quốc giáo, hệ tư tưởng
của Phật giáo chi phối đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam.
Theo các tài liệu lịch sử, Phật giáo du nhập và tồn tại ở Việt Nam
đến nay đã được hơn hai nghìn năm. Trung tâm Phật giáo Việt Nam quan
trọng đầu tiên được hình thành tại vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cũng bởi vậy,
Phật giáo đã sớm ăn sâu vào tiềm thức tất cả các giai tầng, lứa tuổi, không
phân biệt giới tính, đặc biệt là phụ nữ Việt Nam ở khu vực này.
Cho tới ngày nay, Phật giáo vẫn không ngừng thể hiện vai trò của
mình đối với mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, nhất là văn hoá, xã
hội. Từ nếp sống, nếp nghĩ của người dân khu vực đồng bằng Bắc bộ đều
mang ít nhiều dáng dấp của Phật giáo. Điều này thể hiện đặc biệt rõ nét
2
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đền đề tài
Tìm hiểu về Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống
văn hóa, tinh thần người Việt nói chung đến nay cũng có khá nhiều công
trình. Song số công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo đối với
đời sống văn hóa, tinh thần của người phụ nữ Việt Nam còn khiêm tốn. Có
thể xem xét các công trình đó qua hai nhóm vấn đề sau:
Nhóm thứ nhất, nghiên cứu về Phật giáo nói chung và ảnh hưởng của
Phật giáo đối với xã hội Việt Nam, có các công trình sau đây:
“Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam”, Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, 2010 của Trần Hồng Liên. Tác giả đi sâu
phân tích chức năng xã hội của Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay trên
các khía cạnh: kinh tế, phong tục, tập quán, đạo đức xã hội Việt Nam nói chung,
trong đó có ảnh hưởng đối với đời sống của phụ nữ Việt Nam…Mặc dù tác giả
mới chỉ đề cập những ảnh hưởng ở tầm khái quát song công trình này cung cấp
một số cơ sở lý luận và nội dung cho đề tài của luận văn.
Nghiên cứu vai trò của Phật giáo đối với văn hoá, xã hội Việt Nam ta
không thể không nhắc tới các công trình của những thế hệ đi trước như:Tác
giả Nguyễn Đăng Duy với “Phật giáo với Văn hoá Việt Nam” (1999), Nhà
Xuất bản Hà Nội. Công trình đã phân tích những ảnh hưởng qua lại giữa
văn hoá Việt Nam và Phật giáo. Từ đó tác giả đánh giá những đóng góp
của Phật giáo với văn hoá Việt Nam trên cả hai phương diện: văn hoá hữu
hình và văn hoá tinh thần. Tuy nhiên tác giả chủ yếu phân tích những ảnh
hưởng của Phật giáo với văn hoá Việt Nam ở trong các thời kỳ lịch sử
trước đây, còn giai đoạn hiện nay thì đề cập không nhiều.
Các công trình khác như: “Phật giáo trong mạch sống dân tộc” (2006)
của Thượng toạ Thích Thanh Từ; “Văn hoá truyền thống và Phật giáo Việt
Nam” (1999), Nhà Xuất bản Hà Nội của Minh Chi cũng đã đánh giá những
ảnh hưởng của Phật giáo với văn hoá, xã hội Việt Nam, trong đó có tầng
4
lược” của tác giả Lưu Vô Tâm (Nxb Tôn giáo, 2003)… hầu hết các tác
phẩm trên đều truyền tải toàn bộ hệ thống giáo lý và vai trò của Phật giáo
đối với xã hội nhưng những tác phẩm này chưa nghiên cứu trong một giaid
doạn cụ thể mang tính triết học.
Bên cạnh đó còn nhiều bài viết công bố trên các tạp chí như: Tạp chí
nghiên cứu tôn giáo, triết học, văn hoá… cũng được đề cập vai trò của Phật
giáo ở nhiều góc độ khác nhau.
Nghiên cứu về phụ nữ trong đời sống xã hội, có các công trình:
“Phụ nữ Thăng Long Hà Nội, truyền thống và hiện tại” của tác giả
Nguyễn Văn Đễ, Nxb. Văn hoá Thông tin Hà Nội năm 2009. Tác phẩm đề
cập đến những phẩm chất, lối sống, văn hoá của người phụ nữ Hà Nội từ
truyền thống đến ngày nay.
“Người vợ Việt Nam” của Đào Khê, Nxb. Phương Đông, năm 2009.
Nội dung của tác phẩm này đề cập đến những vấn đề chính như: vai trò của
người phụ nữ Việt Nam trong gia đình với tư cách một người mẹ, người
vợ, nghĩa vụ giáo dục con cái của người vợ trong gia đình; trách nhiệm của
vợ với chồng và bố mẹ chồng, bố mẹ đẻ…;
“Người phụ nữ trong gia đình truyền thống Việt” của tác giả Thái
Hoàng Vũ, Nxb. Phụ nữ, năm 2008. Tác phẩm này phân tích những phẩm
chất và yêu cầu về đạo đức, lối sống, nhân cách của người phụ nữ Việt
Nam truyền thống.
“Ảnh hưởng của văn hoá Đông - Tây đối với địa vị của người phụ nữ
Việt Nam trong lịch sử” của tác giả Đặng Thị Vân Chi, Nxb. Phụ nữ năm
2007 là một tác phẩm phân tích được những yếu tố chi phối địa vị của
người phụ nữ trong lịch sử dưới khía cạnh văn hoá, có đề cập đến sự ảnh
hưởng của tôn giáo đối với địa vị người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử
nhưng chỉ mới bước đầu đặt ra vấn đề mà chưa có sự phân tích chuyên sâu.
6
Nhìn chung các công trình nghiên cứu của các tác giả khi nghiên cứu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời
sống văn hoá tinh thần người phụ nữ Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đời sống văn hóa, tinh thần là một khái niệm rộng, Luận văn chỉ tập
trung nghiên cứu một số ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá
tinh thần của phụ nữ Việt Nam trên một số lĩnh vực tiêu biểu như: văn hóa
ứng xử, văn hóa ăn, mặc, tín ngưỡng, tâm lý và phong tục tập quán.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận:
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -
Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo
Luận văn cũng kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu
trong nước và ngoài nước về Phật giáo và ảnh hưởng của Phật giáo với
người phụ nữ Việt Nam.
5.2. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp của tôn giáo học và triết
học, phương pháp thống nhất giữa logic, lịch sử, phân tích, tổng hợp, đối
chiếu và so sánh.
6. Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở phân tích khái lược chung về Phật giáo Việt Nam, luận
văn phân tích những ảnh hưởng của Phật giáo đối với đời sống văn hoá tinh
thần của người phụ nữ Việt Nam trên một số lĩnh vực tiêu biểu như: phong
tục, tín ngưỡng, văn hoá ứng xử, thực hành nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo của
phụ nữ. Luận văn chỉ ra những đóng góp của Phật giáo đối với đời sống
văn hoá tinh thần của phụ nữ Việt Nam.
8
7. Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần vào việc tìm hiểu và phân tích một
rằng, Phật giáo du nhập vào nước ta rất sớm qua hai con đường là đường
biển và đường bộ, từ các quốc gia như: Ấn Độ, Trung Quốc, Lào,
Campuchia, Mã Lai, Indônêxia… Trong đó, Phật giáo du nhập vào Việt
Nam từ Ấn Độ trước khi được du nhập từ Trung Hoa.
Từ Ấn Độ, bằng đường biển (hay còn gọi là con đường gia vị) xuất
phát từ các hải cảng vùng Nam Ấn rồi qua Srilanca, Indônêxia, Phật giáo
vào Việt Nam… Lợi dụng luồng gió thổi định kỳ hai lần một năm, phù hợp
với hai mùa mưa nắng ở khu vực Đông Nam Á, những thương nhân Ấn Độ
đã tới các vùng này để buôn bán bằng thuyền buồm. Trong các chuyến đi
10
viễn dương ấy, họ thường cung thỉnh một hay hai vị tăng để cầu nguyện
cho thuỷ thủ đoàn. Nhờ đó, các vị tăng sĩ đã truyền bá đạo Phật vào các dân
tộc ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Giao Châu, có trị sở là Luy Lâu
vốn là nơi nghỉ chân giao lưu của các thương thuyền thời bấy giờ. Lịch sử
chính thức xác nhận năm 240 trước Tây lịch: Mahoda, con vua A Dục
(Asoka) đã truyền Phật giáo vào Việt Nam [xem 11; 10].
Câu chuyện huyền thoại liên quan đến sự có mặt sớm nhất của Phật
giáo ở nước ta là “Truyện Nhất Dạ Trạch” trong “Lĩnh Nam chích quái”
của Vũ Quỳnh và Kiều Phú. Chuyện kể rằng, vào đời Hùng Vương thứ 3,
công chúa Tiên Dung con gái vua Hùng lấy Chử Đồng Tử. Hai người lập
phố xá buôn bán giao thiệp với người nước ngoài. Một hôm, Chử Đồng Tử
theo một khách ngoại quốc đến núi Quỳnh Viên ngoài bãi biển và tại đây
Chử Đồng Tử gặp một tiểu tăng tên là Ngưỡng Quang (có sách ghi là Phật
Quang) truyền phép cho Chử Đồng Tử. Chử Đồng Tử liền về nhà giảng lại
đạo Phật cho Tiên Dung và nàng giác ngộ. Cả hai bỏ phố phường cơ nghiệp
rồi tìm thầy học đạo.
Khi ấy nhiều thuyền buôn Ấn Độ cũng đã cập bến ở đảo Đồ Sơn (Hải
Phòng). Hằng năm trong thời gian phải chờ gió mùa Đông Bắc để trở về
Ấn Độ, họ lại lên bờ xây dựng những Phật tháp để lễ phật.
Thời gian ấy, có ba tông phái Phật giáo từ Trung Hoa là Thiền Tông, Tịnh
Độ Tông và Mật Tông được truyền vào Việt Nam.
Ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam trong thời kỳ chế độ phong kiến,
tư tưởng đề cao vương quyền của nhà vua và quan lại đã dễ dàng tiếp thu tư
tưởng thần quyền của Phật giáo Đại thừa. Điều này thể hiện ở việc vừa đề
cao, tôn thờ Đức Phật tối cao, vừa tôn thờ tầng lớp các vị Bồ Tát bên dưới.
Buổi đầu giao lưu Phật giáo giữa Trung Quốc và Việt Nam vào thời
Hán nổi lên ba trung tâm Phật giáo, đó là Bành Thành (Kinh đô nước Sở
12
trước kia, nay thuộc hạ lưu sông Trường Giang, tỉnh Giang Tô); trung tâm
Lạc Dương trên bờ sông Lạc (phía nam sông Hoàng Hà, kinh đô nhà Đông
Hán, thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay) và trung tâm Luy Lâu - thủ phủ của
Giao Chỉ lúc bấy giờ.
Trung tâm Luy Lâu được hình thành sớm hơn và trở thành nơi trung
chuyển Phật giáo từ Ấn Độ sang Trung Hoa. Luy Lâu sớm có các nhà sư
Ấn Độ đến truyền kinh Phật bằng chữ Phạn. Điều đó hấp dẫn các nhà sư
Trung Hoa trước khi sang Ấn Độ phải sang Luy Lâu học chữ Phạn và tìm
hiểu Phật giáo qua các nhà sư Ấn Độ. Ngược lại, văn hoá Trung Hoa truyền
sang, chữ Hán được phổ biến đã khiến các nhà sư Ấn Độ muốn sang Trung
Hoa truyền đạo. Vậy nên họ cũng phải qua Luy Lâu học chữ Hán và tìm
hiểu về Trung Hoa.
Sự giao thoa văn hoá trên dẫn đến hiện tượng dung hoà giữa văn hoá
Ấn Độ và văn hoá Trung Hoa. Điển hình như trường hợp ngài Mâu Bác
(sinh cuối thế kỷ II) theo mẹ từ Trung Hoa sang Giao Châu khi còn rất trẻ.
Ở đây Ngài đọc các kinh sách cả Nho, Lão, Phật và viết cuốn sách tên là
“Lý hoặc luận” - Tập luận thuyết đầu tiên về đạo Phật bằng chữ Hán.
Sang thế kỷ III, có ba tăng nhân nước ngoài đến thuyết pháp tại Giao
Châu là Khương Tăng Hội người xứ Khang Cư (Sogdiane), tiếp đến là Chi
Cương Lương (Người xứ Nhục Chi) và Ma Ha Kỳ Vực (Người Ấn Độ).
Cùng với hai tông phái trên, Mật tông cũng có ảnh hưởng tới Việt
Nam tuy mức độ còn thấp. Là một tông phái chủ trương sử dụng hình ảnh
cụ thể và những mật ngữ, mật cứu để khai mở trí tuệ giác ngộ. Mật Tông
truyền vào Việt Nam, nhanh chóng hoà vào các tín ngưỡng dân gian như
cầu hồn, dùng pháp thuật, yểm bùa trị tà ma và trị bệnh. Mật Tông không
có dấu hiệu phát triển rõ ràng ở Việt Nam, chỉ tuỳ thuộc vào sự thọ trì của
từng chùa và mỗi cá nhân có cơ duyên đến với tông phái này.
14
Từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XIV là giai đoạn cực thịnh của Phật giáo
Việt Nam, đạt đến đỉnh cao ở triều đại Lý - Trần (1010 - 1400). Giai đoạn
này Phật giáo phát triển mạnh, ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực của xã
hội nhất là về tư tưởng, đạo đức, văn học, kiến trúc… nhiều vị cao tăng trở
thành quốc sư và là cố vấn của các nhà vua về mặt chính trị, quân sự, ngoại
giao, kinh tế… như Thiền sư Đỗ Thuận, Thiền sư Vạn Hạnh, Từ Lộ… Do
đó, Phật giáo thời kì này còn được coi là quốc giáo. Nhận xét về giai đoạn
hưng thịnh này của Phật giáo, trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, nhà sử học
Lê Văn Hưu viết: thời kỳ nhà Lý “nhân dân quá nửa làm sãi”, “trong nước
chỗ nào cũng có chùa” [xem 18; 161]. Hay trong thơ văn Lý - Trần có chép
lại những dịp khánh thành chùa diễn ra như những ngày lễ hội lớn: “Bốn
phương về dự, mở hội khánh thành, người như mây tụ. Ran tiếng tụng kinh,
xưng điều huyên áo. Lụa, tiền, của báu, ban phát khắp nơi” [50; 378].
Sang thế kỉ XV trở đi, Phật giáo suy yếu, Nho giáo ngày càng lớn
mạnh. Trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh, Phật giáo được phục hồi lại,
song không được rực rỡ như trước. Các chúa Nguyễn và sau này là triều
Nguyễn lấy Nho giáo làm chính thống song vẫn duy trì và không bài bác
đạo Phật. Do đó, Phật giáo cũng có sự phát triển nhất định đối với tầng lớp
quý tộc, quan lại và đặc biệt là trong quần chúng nhân dân.
Đến nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đất nước lâm vào cảnh ngoại
xâm, xã hội nhiễu nhương, Phật giáo suy vi. Trong tình hình đấy, các vị
trong lịch sử hơn 2000 năm của Phật giáo Việt Nam. GHPGVN hoạt động
theo đường hướng “Đạo Pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” đã trải qua 6
kỳ đại hội, đến nay đã được củng cố và phát triển.
Có thể nói rằng, trong hơn 2000 năm tồn tại và phát triển, Phật giáo
Việt Nam có lúc thịnh đạt, lúc suy vi, song được cải biến không ít cả về nội
dung giáo lý và hình thức tổ chức. Nhờ đó, đến nay Phật giáo đã khá hoà
16
nhập với đời sống tinh thần và nhu cầu tâm linh của đa số dân cư. Tiếp thu
ảnh hưởng của cả hai phía Ấn Độ và Trung Quốc, Phật giáo Việt Nam ngày
nay hội tụ cả hai dòng chính của đạo Phật là Đại thừa và Tiểu Thừa, chịu
ảnh hưởng của cả ba tông phái lớn là Thiền Tông, Tịnh Độ Tông và Mật
Tông. Phật giáo Việt Nam đã tạo dựng cho mình một truyền thống gắn bó
với dân tộc, góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền văn hoá dân tộc,
tạo nên nhiều nét khắc sâu trong tâm tưởng, đạo đức, tâm lý lối sống của
nhân dân, thu được nhiều thành quả cả về đạo và đời. Đúng như một nhà
nghiên cứu Lê Văn Đính đã đánh giá: “Lịch sử Phật giáo Việt Nam có
những bước thăng trầm, thịnh suy, nhưng nhìn chung trong hoàn cảnh nào
Phật giáo cũng hòa nhập vào đời sống dân tộc, cùng chung vận mệnh và có
nhiều cống hiến đối với dân tộc” [21; 17].
1.1.2. Tình hình Phật giáo Việt Nam hiện nay
Đại hội lần thứ VI của Đảng diễn ra vào tháng 12 năm 1986 trong điều
kiện đất nước đầy khó khăn. Mục tiêu ổn định kinh tế-xã hội không đạt
được. Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn. Nền kinh tế rơi vào khủng
hoảng trầm trọng. Tình hình thực tế trên đặt ra ba vấn đề lớn: Cơ cấu sản
xuất; cải tạo xã hội; cơ chế quản lý kinh tế. Đây là yếu tố quan khách quan
đòi hỏi có sự đổi mới tư duy. Đại hội VI của Đảng có ý nghĩa quan trọng
đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Đại hội đã nêu ra năm
phương hướng cơ bản của chính sách kinh tế - xã hội và đề ra hệ thống các
giải pháp để thực hiện mục tiêu: Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điều chỉnh lớn
trong nước tiếp tục phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng cao, trong đó,
tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế tăng 24,1%,
hoạt động du lịch sôi nổi, lượng khách quốc tế đến việt Nam tăng 36,2% so
với cùng kỳ năm trước; thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội ước tính tăng
26,23% so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là khu vực ngoài nhà nước tăng
tới 46,38%;…
18
Đảng và Nhà nước có những chủ trương cụ thể định hướng sự phát
triển của đất nước:
- Phát triển kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là nhiệm vụ trung tâm;
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần;
- Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường;
- Đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước;
- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
Các lĩnh vực xã hội giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời
sống của đông đảo nhân dân, xoá đói giảm nghèo, phát triển sự nghiệp
văn hoá, giáo dục đã được quan tâm phát triển từng bước đồng bộ với
phát triển kinh tế.
Trong công cuộc đổi mới, vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo cũng được
Đảng và Nhà nước Việt Nam nhìn nhận thấu triệt hơn, cụ thể hơn, đáp ứng
được yêu cầu của thời đại mới. Đặc biệt, với Nghị quyết 24/TW: Về tăng
cường công tác tôn giáo trong tình hình mới, ngày 16 tháng 10 năm 1990
của Bộ Chính trị, cùng nhiều chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo khác, đã
tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam
nói riêng hoạt động ích đời, lợi đạo, góp phần thực hiện thắng lợi công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
Phật giáo đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của
xã hội. Tăng ni, tín đồ Phật giáo đã đoàn kết với toàn dân trong sự nghiệp
dựng nước và giữ nước, cùng đứng về phía dân tộc chống ngoại xâm và
tôn giáo đang mở rộng theo hướng rút ngắn thời gian chiêu sinh, tăng số
lượng, mở rộng loại hình đào tạo. Học viện Phật giáo thành phố Hồ Chí
Minh và Học viện Phật giáo Nam tông Khơme tại Cần Thơ sau khi được
cấp đất xây dựng mới đang tiếp tục hoàn tất thủ tục để triển khai xây dựng.
Cũng trong thời gian qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã cử nhiều tăng ni
đi du học Ấn Độ, Nhật Bản, Srilanka
20
Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn quan tâm đến hoạt động văn hoá,
thúc đẩy mạnh mẽ việc nghiên cứu, tuyên truyền giáo lí đạo Phật. Một loạt
các bộ kinh điển quan trọng đã được dịch ra tiếng Việt và phát hành rộng
rãi. Năm 2008, 40 ấn Phật được in để phục vụ cho Đại lễ Phật đản Liên
Hợp quốc. Ngoài ra có các tạp chí nghiên cứu như Phật giáo tập văn của
Ban văn hoá Trung ương giáo hội, Báo Giác ngộ của Thành hội Phật giáo
Hồ Chí Minh, Tạp chí Khuông Việt, Tạp chí nghiên cứu Phật học… Mặt
khác, giới Phật học Việt Nam thời gian qua cũng đã tổ chức được nhiều
hội thảo khoa học trong nước và quốc tế. Nội dung các cuộc hội thảo gắn
Phật giáo với những vấn đề cấp thiết của xã hội Việt Nam hiện nay như:
Phật giáo với văn hoá dân tộc, giáo dục Phật giáo, Phật giáo trong giai
đoạn hiện nay
Hiện nay, để thích ứng mềm dẻo với những biến đổi của đời sống xã
hội, Phật giáo không ngừng hoàn thiện mình và hấp thụ nhiều tư tưởng,
nhiều quy phạm đạo đức của xã hội. Phật giáo chú trọng đến đời sống xã
hội hiện thực và ngày càng nhấn mạnh giáo lí xây dựng một cuộc sống
công bằng, bình đẳng và tốt đẹp. Đồng thời gắn kết chặt chẽ các tín ngưỡng
với cải thiện tình trạng xã hội hiện thực và góp phần cải thiện đời sống tinh
thần của một bộ phận quần chúng mà không bỏ rơi tinh thần Phật pháp.
Chú trọng đời sống hiện thực, chủ trương nhập thế, Phật giáo Việt
Nam luôn đề cao lý tưởng “Phật pháp bất ly thế gian giác”. Dù nhập thế với
đời sống xã hội, các tăng ni có đời sống tu hành với nhiều tiện nghi hiện
đẹp và đang có xu hướng phát triển và tiếp tục phát triển hơn nữa. Điều đó
chứng tỏ Phật giáo luôn là nhu cầu hiện thực của một bộ phận không nhỏ
quần chúng nhân dân. Là một thành tố của văn hoá Việt Nam, Phật giáo đã
và đang xứng đáng có được một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa,
xã hội của Việt Nam hiện nay. 22
1.2 Phật giáo khu vực đồng bằng Bắc Bộ hiện nay
1.2.1 Sự du nhập và phát triển của Phật giáo khu vực Đồng Bằng
Bắc Bộ
Quá trình du nhập của Phật giáo vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ
Phật giáo du nhập vào khu vực đồng bằng Bắc Bộ, có nhiều điều kiện
thuận lợi cả về mặt tự nhiên lẫn xã hội.
Đồng bằng Bắc Bộ là một vùng đất rộng lớn được kiến tạo bởi hệ
thống sông Hồng và sông Thái Bình, bao gồm phần bằng, trũng thuộc các
tỉnh, thành phố: Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Thái
Bình,Hải Phòng và phần đồng bằng thuộc các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc,
Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình.
Về vị trí địa lý, đồng bằng Bắc Bộ là tâm điểm của con đường giao lưu
theo hai trục chính: Tây - Đông và Bắc - Nam. Vị trí này khiến cho nó trở
thành vị trí tiền đồn để tiến tới các vùng khác trong các nước khu vực Đông
Nam Á, là mục tiêu xâm lược đầu tiên của tất cả thế lực ngoại xâm khi
muốn bành trướng vào vùng lãnh thổ ở Đông Nam Á. Nhưng cũng chính vị
trí địa lý này đã tạo điều kiện cho dân cư có thuận lợi về giao lưu và tiếp
thu tinh hoa văn hoá nhân loại, trong đó có Phật giáo, tạo nên sự phong
phú, đa dạng cũng như nét đặc thù của văn hoá Bắc Bộ.
Về địa hình, đồng bằng Bắc Bộ là địa hình núi xen kẽ đồng bằng hoặc
thung lũng, thấp và bằng phẳng, dốc thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, từ
độ cao 10 đến 15m giảm dần đến độ cao mặt biển. Toàn vùng cũng như
người nông dân Việt đồng bằng Bắc Bộ không có nghề đánh cá được tổ
chức theo quy mô lớn, không có những đội tàu thuyền lớn. Nghề khai thác
hải sản không mấy phát triển. Các làng ven biển thực ra chỉ là các làng làm
nông nghiệp, có đánh cá và làm muối. Ngược lại, đồng bằng Bắc Bộ là một
châu thổ có nhiều sông ngòi, mương máng, nên người dân chài trọng về
việc khai thác thuỷ sản. Tận dụng ao hồ, đầm để khai thác thuỷ sản là một
phương cách được người nông dân chú trọng. Đã có lúc việc khai thác ao
hồ thả cá tôm được đưa lên hàng đầu như câu ngạn ngữ: “Nhất canh trì, nhì