ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
NGUYỄN VĂN THƠM
(THÍCH HẠNH KÍNH)
TƢ TƢỞNG NHÂN SINH TRONG KINH PÀLI
CỦA PHẬT GIÁO - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
CHO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CON NGƢỜI
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
***
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhận
được sự hướng dẫn, giúp đỡ và góp ý nhiệt tình quý thầy cô Trường Đại học
Quốc Gia Hà Nội và Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô Trung tâm bồi
dưỡng giảng viên chính trị Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là
những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin gởi lời biết ơn sâu sắc đế Phó giáo sư - Tiến sĩ Hoàng Minh Đô
đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Trung Ương giáo hội Phật giáo
Việt Nam cùng quý Hòa Thượng, Thượng Tọa và chư Tôn đức đã tạo rất
nhiều điều kiện về tài liệu để tôi hoàn thành tốt luận văn.
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự
nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu
sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Hà Nội ngày 08 tháng 11 năm 2014
Học viên Nguyễn Văn Thơm
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
1. Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng
dẫn trực tiếp của PGS – TS Hoàng Minh Đô
2. Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài: 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
6. Đóng góp của luận văn 9
7. Kết cấu luận văn. 9
Chƣơng 1 KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH BỘ KINH PÀLI VÀ TƢ
TƢỞNG NHÂN SINH CỦA PHẬT GIÁO 10
1.1. Hoàn cảnh kinh tế - xã hội, văn hóa - tư tưởng của sự hình thành bộ
kinh Pàli 10
1.2. Khát quát tư tưởng nhân sinh trong kinh Pàli của Phật giáo 15
Chƣơng 2 VAI TRÒ NHÂN SINH CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CON NGƢỜI VIỆT NAM HIỆN NAY 57
2.1. Khái niệm về giáo dục và đạo đức 57
2.2. Ảnh hưởng của nhân sinh phật giáo với vấn đề đạo đức của con người
ở Việt Nam hiện nay 61
2.3. Những giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và
hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo đối với
việc giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay 77
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 1
PHẦN MỞ ĐẦU
chỉ ở quần chúng nhân dân mà còn len lỏi sâu trong bộ máy cầm quyền, thể
hiện sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ,
đảng viên: tình trạng tham nhũng, vi phạm pháp luật của một số người có
chức có quyền, làm ăn gian dối coi thường tính mạng, vi phạm đạo đức nói
chung, y đức nói riêng. Lối sống thực dụng, chạy theo vật chất ấy đang làm
băng hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc. Thêm vào đó, là sự tác động của
toàn cầu hóa, quá trình mở cửa, hội nhập, giao lưu văn hóa đã tác động rất lớn
đến con người và xã hội Việt Nam, phá vỡ những chuẩn mực đạo đức xã hội,
làm cho xã hội đứng trước nguy cơ rối loạn. Những ảnh hưởng tiêu cực ấy
ngày càng phổ biến và đang dóng lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với Việt Nam-
một dân tộc có truyền thống nhân văn. Đây cũng là vấn đề hết sức cấp thiết
mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đặt ra để tìm cách giải quyết. Để giải quyết
những tiêu cực trong xã hội như đã nêu trên, Đảng và nhà nước ta đã có
những giải pháp tích cực, một trong những giải pháp đó là giữ gìn và phát huy
những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những học thuyết về nhân sinh của
Đạo Phật là một trong những chuẩn mực đạo đức để quy định và phát huy
cũng như giữ gìn những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật
giáo đối với tinh thần, đặc biệt là định hướng đạo đức của người Việt Nam sẽ
như thế nào? Cần đánh giá những ảnh hưởng đó trên cả những mặt tích cực và
tiêu cực? Những nhân tố nào cần phát huy trong điều kiện mới và bằng cách
nào để có thể phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng
tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống tinh thần của con người
Việt Nam là vấn đề cấp thiết đang đặt ra và cần làm sáng tỏ.
3
Với những ý nghĩa và lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Tư tưởng
nhân sinh trong kinh Pàli của Phật giáo – Những vấn đề đặt ra cho việc
giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ
chuyên ngành triết học của mình nhằm góp một phần nhỏ bé trong hệ vấn đề
to lớn đó.
Trần, các thiền sư Phật giáo đã có sự đóng góp quan trọng trong công cuộc
cứu quốc và xây dựng đời sống chính trị, văn hóa. Sự có mặt của Phật giáo
chẳng những giúp cho nhà vua có đường lối chính trị sang suốt mà còn
hướng dẫn dân tộc tiến cao trên con đường văn minh, đạo đức. Những vị
Thiền sư thời ấy chẳng những thâm đạt về đạo lý xuất thế mà còn thấu hiểu
các tổ chức xã hội, đem lại an lạc thực tế cho dân tộc
Không những khẳng định đạo đức Phật giáo phù hợp với phong tục, tập
quán, tín ngưỡng của người Việt, tác giả còn đề cập đến một số giáo lý như:
Luân hồi, vô ngã, giải thoát và khẳng định đạo Phật lấy giải thoát làm mục
đích. Theo đạo Phật, phải biết quý trọng tự do của con người, con người tự do
là con người được sống trong đất nước tự do, được sống trong quốc gia văn
minh, tiến bộ và con người không bị ràng buộc bởi những hận thù, tù tội…
- Trong Luận án Tiến sĩ Phật học, “Lý thuyết về Nhân tính qua kinh tạng
Pàli” của Tác giả Thích Chơn Thiện, Nxn TP HCM, ấn hành năm 1999. Tác
giả đã diễn giải và phân tích giáo lý Duyên Khởi của Đức Phật và trình bày
một cách có hệ thống những lời Đức Phật dạy qua kinh tạng Pàli là “Lý thuyết
về nhân tính” làm cơ sở xây dựng môi trường văn hóa, giáo dục mới. Trong
luận án này, tác giả không chỉ đề cấp đến lý thuyết nhân tính do Đức Phật dạy
mà còn chỉ rõ con đường giải phóng các vấn đề khủng hoảng cá nhân và
khủng hoảng xã hội trong xã hội hiện đại.
5
Thứ ba: Vai trò của Phật giáo đối với việc giáo dục đạo đức con
người Việt Nam
- Luận án Tiến sỹ Triết học của Đặng Thị Lan : “Đạo đức Phật giáo và
ảnh hưởng của nó đến đạo đức con người Việt Nam” Trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn năm 2004, là công trình nghiên cứu đã nêu được một
số nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của đạo đức Phật
giáo đến con người Việt Nam. Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp để phát
huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo.
- Đây là bài viết rất chuyên sâu về mảng của đề tài này, trong đó có những
hiện đại, giữ cho xã hội không bị lệch lạc trên con đường phát triển.
- Chuyên đề “Ảnh hưởng của Phật giáo trong đạo đức và nhân cách
của con người Việt Nam hiện nay” của PGS, TS, Hoàng Minh Đô, Tạp chí
KHXH miền trung, số ISN 1859 -2635, số 3năm 2009. Đây là bài viết rất
chuyên sâu về mảng của đề tài này, trong đó có những vẫn đề chính yếu sau đây:
+ Bàn về một số khái niệm về đạo đức và nhân sinh và mối quan hệ giữa
đạo đức và nhân sinh;
+ Ảnh hưởng của Phật giáo đối với quan niệm đạo đức nói chung gắn với
tiết thuyết nhà Phật;
+ Ảnh hưởng của Phật giáo đối với nhân cách người Việt.
Ngoài ra còn rất nhiều công trình như: Mấy vấn đề Phật giáo và lịch sử tư
tưởng Việt Nam của Viện Triết học, Hà Nội, 1986; Lịch sử Phật giáo Việt
Nam của PGS Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Viện Triết học, Hà Nội, 1991;
Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I của Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb Khoa
học xã hội, 1993; Thiền học Trần Thái Tông của Nguyễn Đăng Thục, Nxb
7
Văn hóa Thông tin, 1996; Tôn giáo tín ngưỡng hiện nay, mấy vấn đề lý luận
và thực tiễn cấp thiết, Trung tâm Thông tin tư liệu - Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh, 1996; Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà
Nội và châu thổ Bắc Bộ của Nguyễn Thị Bảy, Nxb Văn hóa thông tin 1997;
ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện
nay của Nguyễn Tài Thư (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội 1997; Tư
tưởng triết của học Thiền phái Trúc Lâm đời Trần của Trương Văn Chung,
Nxb Chính trị quốc gia, 1998; ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo
trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam của Lê Hữu Tuấn, Luận án tiến
sĩ triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1998; Đạo Phật với
con người Việt Nam do Hoàng Yến, Trường Tâm biên dich, Nxb Phương
Đông;Tư tưởng Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1999; Phật Giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy,
Nxb Hà Nội, 1999; Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, tập I của Nguyễn
- Trình bày một số khái niệm cơ bản về giáo dục và đạo đức làm cơ sở
lý luận để khẳng định vai trò giáo dục đạo đức của tư tưởng nhân sinh của
Phật giáo.
- Phân tích và làm rõ ảnh hưởng tư tưởng nhân sinh của Phật giáo trong
việc giáo dục đạo đức truyền thống con người Việt Nam.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực và hạn
chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng nhân sinh đối với việc giáo dục
đạo đức hiện nay ở nước ta.
4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn vận dụng các nguyên lý, quan điểm của triết học mác-xít
như: quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh về
tôn giáo và đạo đức tôn giáo; đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và
Nhà nước Việt Nam về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng.
9
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của triết
học Mác-Lênin, đồng thời kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu khác:
phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp logíc,
lịch sử … Ngoài ra , tác giả còn sử dụng các phương pháp chung của khoa
học xã hội như phân tích, so sánh, hệ thống, khái quát, đồng thời kết hợp với
các phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học, văn hóa học, sử học…trên cơ
sở tiếp thu những thành tựu có liên quan của các tác giả khác.
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về tư tưởng nhân sinh của đạo Phật
thông qua bộ kinh Pàli, ảnh hưởng của nó đối với việc giáo dục đạo đức của
con người Việt Nam hiện nay.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò của đạo Phật với những học
thuyết triết học mang lại cho việc giáo dục và đào tạo con người, góp phần
thành vào khoảng 3000 năm trước Công nguyên. Dân tộc định cư ở đây bao
gồm: Mundian, Sumerian….đặc biệt là Dravidian và đã hình thành một nền
văn hóa “nông nghiệp” mà ta gọi là văn minh Ấn- Hà trải dài từ phía Đông
đến thung lũng sông Hằng và Đông Nam vượt qua Gujarat. Bấy giờ đã hình
thành hai thành phố lớn, hai trung tâm chính, một ở Punjab và một ở Sindh.
Về tôn giáo, dân tộc Ấn- Hà thờ Thượng đế, Warder viết: “Về tôn giáo, dân
chúng Ấn- Hà thờ đấng Thương đế, một vài đức tính của Ngài nói lên rằng
Ngài là gốc của thần Siva (vị thần phổ biến trong các dân tộc Tamil): một
11
mặt ngài là biểu tượng của sáng tạo và phồn vinh, một mặt ngài xuất hiện
trong vai một tu sĩ khổ hạnh hay một yogin phát huy các quyền lực siêu
nhiên”[85,18]
Vào khoảng thế kỷ thứ XVI đến thế kỷ thứ XIII (trước Công nguyên),
nền văn minh Ấn- Hà đi vào suy sụp khi người Ariyan xâm chiếm xứ Ấn. Tại
đây, dân Dravidian kiên cường chống lại nhưng bị thất bại. Người Ariyan lại
chịu sự ảnh hưởng của người Dravidian: họ theo lối sống định cư của người
Dravidian, định cư trong các làng mạc, thị trấn, thành phố. Mặt khác, người
Dravidian chịu ảnh hưởng tư tưởng của người Ariyan di trú. Hai nền văn
minh ấy đã kết hợp lại tạo ra một nền văn minh mới vào thời đại “đồ sắt”,
khoảng từ thế kỷ thứ X đến thứ VIII (trước công nguyên). Theo chứng cứ
nhân chủng học, người Ariyan nói ngôn ngữ hình thức sớm nhất của Sanskrit
gọi là “Vedic” (Vêda). Kinh Vêda do người Ariyan sáng tác vào khoảng 3 thế
kỷ sau khi đánh bại người Dravidian xâm chiếm xứ Ấn. Từ bấy giờ kinh
Vêda, đặc biệt là của hig- Vêda chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tập tục của người
Ariyan- di trú và dừng lại nghỉ ngơi sau khi qua nhiều vùng đồi núi, sa mạc cô
liêu hay các vùng cao nguyên bát ngát, dưới những bầu trời nắng cháy, những
cơn mưa nặng hạt, những cơn bão tuyết hay dưới những bó đuốc chập trùng
giữa đêm khuya. Đấy là những tư tưởng của vũ trụ vô biên đầy quyền lực gắn
với con người. Các tư tưởng này ngày càng thực tiễn khi chúng nói đến các vị
thần đất, thần cây, thần bò của người Dravidian.
linh hồn sống của con người chỉ là sự biểu hiện của "tinh thần tối cao" trong
cơ thể con người. Vì vậy, linh hồn cá biệt về bản chất là đồng nhất với "linh
hồn tối cao" cũng tồn tại vĩnh viễn, tuyệt đối, bất diệt. Trong Upanishad cũng
đặt vấn đề là chính do những ham muốn, dục vọng và những hành động của
13
con người nhằm thoả mãn những ham muốn trong đời sống trần gian đã gây
những hậu quả, gieo đau khổ cho kiếp này và cả những khiếp sau gọi là
nghiệp báo Karma. Do vậy linh hồn bất tử bị sự luân hồi nên không nhận ra
và trở về đồng nhất với chân bản của nó được. Muốn giải thoát linh hồn bất tử
khỏi sự chi phối của đời sống nhục dục, của thế giới hiện tượng cảm tính như
ảo ảnh thường biến, đạt tới sự đồng nhất với "tinh thần vũ trụ tối cao", con
người phải tu luyện hành động karma- yoga và tu luyện tri thức jana- yoga,
nhận ra chân bản của mình.
Triết lý duy tâm tôn giáo của Upanishad giải thích căn nguyên của thế
giới bằng nguyên lý " tinh thần vũ trụ tối cao" tuyệt đối, bất diệt là cơ sở cho
những học thuyết triết học duy tâm sau này và đã đóng vai trò là cơ sở lý luận
cho đạo Bàlamôn ở Ấn Độ cổ đại. Kinh Upanishad đã đề cập đến những vấn
đề có ý nghĩa triết học thực sự như mối quan hệ giữa tinh thần vũ trụ (Brahman)
và linh hồn cá thể (Atman), Thuyết luân hồi, nghiệp, nhân quả v.v
Sau thời kỳ Vêda, các vấn đề triết học dần dần xuất hiện và ngày càng
trở nên rõ ràng và khoa học hơn. Sự kiện này nói lên rằng khái niệm về tự ngã
của các hiện hữu ngày càng được nhấn mạnh. Từ vấn đề triết lý đặt ra từ thời
kỳ đầu Vêda rằng: bằng cách nào ta hợp nhất thiên nhiên với thượng đế? Đến
vấn đề triết lý do các đạo sư Bàlamôn về sau đặt ra: ta là ai? Các câu trả lời
cho câu hỏi “ta là ai?” biến đổi dần: từ con người vật lý đến con người sinh lý,
rồi đến con người tâm lý, siêu hình, và sau hết là con người tâm linh Nhưng
về sau, đạo Balamôn quay sang miên man suy ngĩ về “cái tôi” (ngôi thứ nhất),
về cái tự ngã của sự vật như là thực thể .
Tóm lại, thế giới quan thần thoại, tín ngưỡng tôn giáo, chủ nghĩa duy
tâm trong thánh kinh Vêđa, kinh Upanishad và đạo Bàlamôn đã trở thành hệ
15
ngữ chỉ kinh tạng Pàli thuộc Tam tạng của Thượng tọa bộ (Theravada), thuộc
hệ văn học Pàli từ thời đức Phật đến thời đại Đại đế A- Dục. Theo Pàli hệ,
"Tam tạng " (Tripitaka) gồm ba bộ phận: Luật tạng, Kinh tạng, Luận tạng.
1. Tạng Kinh (Sutrapitaka) ghi những lời dạy của đức Phật Thích Ca
trong 40 năm giáo hóa. Kinh tạng gồm năm bộ kinh còn gọi là Ngũ bộ
Nikàya: Trường bộ, Trung bộ, Tương ưng bộ, Tăng chi bộ và Tiểu bộ.
2. Tạng Luật (Vinaya pitaka, gồm các giới luật của đạo Phật,chứa đựng
các luật lệ và giới luật của Tăng già Phật giáo như là các điều lệ thu nhận
vào đoàn thể Tăng già, về việc phát lồ các tội, về an cư kiết hạ, về chỗ ở, y cà
sa, thuốc men và các sinh hoạt của Tăng già.
3. Tạng Luận (Adhidharma pitaka) gồm các bài kinh, các tác phẩm luận
giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng, học giả, về sau này là phần diễn
giải bổ sung vào Kinh tạng, có các bộ Dhammasangani, Vibhanga,
Kàtthàvatthu, Puggalapannatti, Dhàtukathà, Yamaka, Patthàna. Các bộ này do
chư vị đệ tử của đức Phật vào thời kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ ba, dưới triều
đại đế A – Dục, sáng tác vào thế kỷ thứ ba trước Tây lịch kỷ nguyên.
Như vậy, Ấn Độ là nơi sinh ra Phật giáo và Phật giáo là sản phẩm trực
tiếp của xã hội Ấn Độ cổ đại với những mâu thuẫn đẳng cấp gay gắt. Cho nên
ngay từ đầu, Phật giáo là tôn giáo của đại đa số những người đẳng cấp thấp ở
Ấn Độ, những người cần được an ủi về mặt tâm linh trước sự phân biệt đẳng
cấp khắc nghiệt. Chính vì vậy, tư tưởng chính trong kinh Pàli của Phật giáo đã
quan tâm đến vấn đề nhân sinh: quan niệm về con người và cuộc đời con
người, vấn đề sướng, khổ, vấn đề giải thoát
1 .2. Khát quát tƣ tƣởng nhân sinh trong kinh Pàli của Phật giáo
1.2.1. Quan niệm về con người
Đạo Phật ra đời khi mà xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ đã có một nền văn
minh phát triển rực rỡ, với một di sản tư tưởng và tôn giáo rất bề thế. Vì vậy,
16
để cho triết thuyết của mình có thể đứng vững trước thuyết tạo thần của đạo
Nhân duyên biệt ly, hư vọng danh diệt.
Cho nên sinh cũng chẳng thực sinh, mà diệt cũng chẳng thực diệt.
Khi nhân duyên hội họp thì nói là sinh, khi nhân duyên tan rã thì nói là diệt.
Trong kinh "Đại Bát Niết Bàn" có viết:
“Nhất thiết chư pháp, bản vô hữu tính, nhân duyên cố sinh, nhân duyên cố diệt".
Nghĩa là:
Hết thảy mọi pháp,
Đều không có tự tính,
Vì nhân duyên mà sinh,
Vì nhân duyên mà diệt.
Ở một chương khác Phật lại nói:
“Tòng duyên sinh cố,
Danh chi vi hữu,
Vô tự tính cố,
Danh chi vi vô” [9, 96]
Có nghĩa là:
Tùy theo duyên mà hiện ra hình như có sinh, cho nên gọi là "có"; bởi
không có tự tính, cho nên gọi là "không". Sự vật chỉ "có" một cách giả tạo,
một cách vô thường, nhân duyên, mọi yếu tố hợp lại đầy đủ thì sự vật là "có",
nhân duyên tan rã, các yếu tố khộng hợp lại được thì sự vật là "không".
Thế giới vũ trụ, vạn pháp, con người đều cấu thành bởi vô số nhân và
trùng trùng duyên khởi. Các pháp không có thực thể, chỉ vì nhân duyên hòa
hợp chúng hiện hữu một cách giả hợp. Bởi thế tìm kiếm đến cùng không thấy
18
vạn pháp có "thủy" (nơi bắt dầu ) và xét đến muôn đời, muôn kiếp về sau
cũng không thấy vạn pháp có "chung" (nơi kết thúc).
Thuyết nhân duyên sinh cho chúng ta thấy chỉ có nhân và có duyên chứ
không thực có sự vật. Tất cả những pháp có mặt trên cuộc đời, thế gian này từ
thế giới của sự vật, hiện tượng cho đến thế giới bí ẩn của ý niệm sâu xa đều
do các nhân, các duyên tương tác lẫn nhau mà hình thành: do cái này có mà
diệt, mà từng phút, từng giây, từng sátna, sự sống và sự chết đã từng liên tiếp
xảy ra.
Từ thuyết vô thường, Phật nói sang thuyết vô ngã (Anatta): Vô ngã là
không có cái Ta trường tồn vĩnh cửu. Theo nguyên lý duyên sinh, các sự vật
đều là các pháp duyên sinh. Tất cả sự vật (các pháp) có hình, có tướng đều do
những bộ phận hợp lại mà thành, đều là nhất hợp tướng, đều có thể chia chẻ
ra được. Tất cả sự vật đều đối đãi với nhau mà thành lập: Tâm đối với cảnh,
cảnh đối với thân, lớn đối với nhỏ, dài đối với ngắn, sống đối với chết, có đối
với không. Tất cả sự vật đều do đối đãi với nhau mà thành nên đều vô ngã,
đều không có tự tính: Thân vô ngã, tâm vô ngã, cảnh vô ngã.
Với nguyên lý cơ bản trên đây, Đức Phật trình bày những vấn đề về
nhân sinh: Con người từ đâu mà có? Con người được sinh ra như thế nào?
Cuộc đời con người ra sao? Con đường giải thoát cho con người ?
Khi trả lời cho câu hỏi "Con người do đâu mà sinh ra?" Phật xác định
con người là một chỉnh thể vũ trụ, là một tiểu vũ trụ, là kết quả của sự kết hợp
giữa danh và sắc. Nghĩa là con người có đầy đủ cả hai phần sinh lý và tâm lý:
Cái ta sinh lý tức là thân (gọi là sắc uẩn).
Cái ta tâm lý tức là tâm (bao gồm thọ, tưởng, hành, thức).