Phát huy vai trò của gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO THỊ TRANG

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC
HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
CON NGƢỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. DƢƠNG VĂN DUYÊN

Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự
hƣớng dẫn khoa học của TS. Dƣơng Văn Duyên. Các số liệu, tài liệu tham
khảo trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

Tác giả luận văn Đào Thị Trang MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ GIA ĐÌNH
TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH CON
NGƢỜI VIỆT NAM 9
1.1. Nhân cách con ngƣời Việt Nam hiện nay 9
1.1.1.Nhân cách và cấu trúc của nhân cách 9
1.1.2. Những đặc trưng nhân cách con người Việt Nam hiện nay 14
1.1.3. Những yếu tố tác động tới hình thành nhân cách con người Việt
Nam hiện nay 19
1.2. Gia đình và vai trò gia đình trong sự hình thành và phát triển nhân

ngƣời đƣợc hình thành qua một quá trình giáo dục từ gia đình đến nhà
trƣờng và xã hội, trong đó vai trò của gia đình là vô cùng quan trọng.
Gia đình Việt Nam đã hình thành qua hàng ngàn năm lịch sử, đã hun
đúc nên những ngƣời dân yêu nƣớc, những anh hùng dân tộc. Tên tuổi các
vị anh hùng, các danh nhân, các bậc kỳ tài, các nhà cách mạng lỗi lạc phần
lớn xuất phát từ trong những gia đình có truyền thống giáo dục, chăm sóc
con cái chu đáo của những ngƣời cha, ngƣời mẹ. Họ đã tảo tần nuôi con ăn
học thành tài để ra giúp dân, giúp nƣớc. Gia đình có vai trò rất lớn trong
việc hình thành và phát triển của xã hội, góp phần xây dựng, tô thắm, làm
rạng rỡ thêm bản sắc văn hoá dân tộc; là nơi giữ gìn, vun đắp, phát huy
những giá trị truyền thống quý báu của con ngƣời Việt Nam nhƣ: lòng yêu
nƣớc, yêu quê hƣơng, tình yêu thƣơng đùm bọc lẫn nhau, thủy chung, hiếu
nghĩa, hiếu học, cần cù, sáng tạo trong lao động, bất khuất kiên cƣờng vƣợt
qua mọi khó khăn thử thách với phƣơng châm “kẻ thù nào cũng đánh
thắng, khó khăn nào cũng vƣợt qua”.
Từ xa xƣa, trong ý thức hệ của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, gia
đình bao giờ cũng đƣợc coi là tổ ấm, là môi trƣờng đầu tiên làm phát sinh,
nuôi dƣỡng thể lực, trí lực và những tình cảm trong sáng, tốt đẹp, hình
thành nên nhân cách con ngƣời Việt Nam.
Gia đình đƣợc lịch sử sắp đặt vào vị trí trung tâm của mối quan hệ
giữa cá nhân và cộng đồng xã hội. Trƣớc khi trở thành con ngƣời của xã
hội thì con ngƣời cá nhân phải là sản phẩm của gia đình, đƣợc gia đình sinh
thành và nuôi dƣỡng. Để trở thành con ngƣời hoàn chỉnh, cá nhân phải trải
qua quá trình giáo dục, rèn luyện của gia đình và xã hội, trong đó môi
trƣờng giáo dục đầu tiên, quan trọng nhất và kéo dài suốt cả cuộc đời, đó

2
là giáo dục gia đình. Nói nhƣ vậy có nghĩa là cá nhân chỉ trở thành con
ngƣời xã hội thực sự khi bƣớc qua ngƣỡng cửa gia đình. Trong cái xã hội
nhỏ bé và ấm cúng của cuộc sống gia đình, con ngƣời đƣợc chăm sóc, bảo

huy giá trị truyền thống của gia đình Việt nam, thích ứng với những giá trị
của quá trình công nhiệp hóa – hiện đại hóa. Xây dựng gia đình no ấm,
bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của mỗi ngƣời, là tế bào
lành mạnh của xã hội, là môi trƣờng quan trọng hình thành, nuôi dƣỡng và
giáo dục nhân cách con ngƣời, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống
tốt đẹp, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
là một nhiệm vụ quan trọng đƣợc nhiều lần nêu trong các văn kiện của
Đảng. Gia đình nhƣ vậy sẽ hình thành nên những phẩm chất tốt đẹp của
con ngƣời Việt Nam góp phần xây dựng đất nƣớc với mục tiêu dân giàu,
nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Với lý do trên, tôi quyết định lựa chọn vấn đề “ Phát huy vai trò của
gia đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam
hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Gia đình là môi trƣờng giáo dục đầu tiên mà mỗi chúng ta trải qua, đó
là nơi mà mỗi con ngƣời đƣợc nuôi dƣỡng, giáo dục và rèn luyện. Ở trong
môi trƣờng đó nhân cách của mỗi con ngƣời đƣợc hình thành và phát triển
thông qua sự giáo dục của gia đình. Đặc biệt trƣớc sự đổi mới của đất nƣớc,
trƣớc yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi phải có những con
ngƣời mới có đủ đức, đủ tài thì vấn đề giáo dục nhân cách cho con ngƣời càng
cần đƣợc quan tâm hơn. Nghiên cứu về nhân cách nói chung, vai trò của gia
đình trong việc hình thành và phát triển nhân cách con ngƣời Việt Nam nói
riêng, trong những năm qua vấn đề này đã đƣợc các nhà khoa học đặc biệt chú
ý quan tâm và đã có khá nhiều các công trình, bài viết đƣợc công bố. Có thể
chia ra làm hai nhóm sau đây:
Ở nhóm các công trình, bài viết nghiên cứu về nhân cách - nội dung
quan trọng của quá trình hoàn thiện nhân cách con ngƣời đã đƣợc nhiều nhà

4
khoa học quan tâm nghiên cứu với các công trình:

của ngƣời Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế của nƣớc ta. Hai tác giả
chủ yếu tập trung vào việc tổng kết, rút ra một số đặc điểm nhân cách con
ngƣời Việt Nam từ sau đổi mới trở lại đây. Bên cạnh đó, tác giả trình bày
một số yếu tố ảnh hƣởng đến nhân cách ngƣời Việt Nam, trong đó đặc biệt
chú trọng những yếu tố có sự biến đổi từ sau đổi mới: Bắt đầu từ những yếu
tố kinh tế, vật chất đến những yếu tố tinh thần, tƣ tƣởng và cả tình cảm của
mỗi một con ngƣời, bên cạnh những mặt tích cực thì vẫn còn những ảnh
hƣởng tiêu cực.
Ở nhóm các công trình, bài viết đề cập đến công tác giáo dục của gia
đình đối với con ngƣời. Ở Việt Nam trong những năm qua đã có khá nhiều
công trình, bài viết đƣợc công bố, tiêu biểu nhƣ:
- Công trình “Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong gia đình thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác giả Đỗ Thị Bình, nhà
xuất bản khoa học xã hội, năm 2002.
Tác giả tập trung chủ yếu nghiên cứu vai trò của ngƣời phụ nữ và ƣu
điểm vƣợt trội của ngƣời phụ nữ đối với giáo dục con trẻ, nhƣng chƣa đi
sâu nghiên cứu vai trò của gia đình đối với việc hình thành nhân cách con
ngƣời.
- Công trình “ Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển
nhân cách trẻ em”, của tác giả Lê Nhƣ Hoa, Nhà xuất bản Văn hóa Thông
tin, 2001.
Tác giả trình bày sự biến đổi của gia đình Việt Nam đang có sự
chuyển tiếp từ truyền thống sang hiện đại. Quá trình chuyển đổi này không
thể tránh khỏi những đảo lộn, những đổ vỡ về thể chế gia đình. Tác giả
phân tích vai trò quan trọng của việc gìn giữ và phát huy những giá trị
truyền thống tốt đẹp, kết hợp với sự tiếp thu có chọn lọc những giá trị cách
tân, hiện đại. Và sự tác động của kinh tế thị trƣờng tới mọi mặt của đời
sống xã hội, trong đó có môi trƣờng văn hóa. Tác giả cho rằng sự lệch
chuẩn của văn hóa gia đình là nguyên nhân quan trọng của tình trạng trẻ em



7
tôi đã chọn đề tài luận văn “Phát huy vai trò của gia đình trong việc hình
thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam hiện nay”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Luận văn làm rõ vai trò và thực trạng vai trò của gia đình đối với
việc hình thành và phát triển nhân cách con ngƣời Việt Nam thời kỳ đổi
mới, từ đó đề xuất những giải pháp để phát huy tốt hơn nữa vai trò của gia
đình trong hoạt động này.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Làm rõ khái niệm nhân cách, những đặc trƣng nhân cách con
ngƣời Việt Nam hiện nay.
+ Làm rõ vai trò của gia đình trong hình thành và phát triển nhân
cách con ngƣời Việt Nam.
+ Phân tích thực trạng vai trò gia đình trong hình thành và phát triển
nhân cách con ngƣời Việt Nam những năm qua và đƣa ra những yêu cầu
giải pháp để phát huy tốt hơn nữa vai trò đó.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung vào nghiên cứu phát huy
vai trò của gia đình đối với việc hình thành và phát triển nhân cách con
ngƣời Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu vào nghiên cứu vai trò của gia
đình trong hình thành, phát triển nhân cách con ngƣời Việt Nam trong thời
kỳ đổi mới ở Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phƣơng pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận văn đƣợc thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, đƣờng lối và chính sách của
Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt
Nam về gia đình và giáo dục trong gia đình.

ĐÌNH TRONG SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH
CON NGƢỜI VIỆT NAM
1.1. Nhân cách con ngƣời Việt Nam hiện nay
1.1.1.Nhân cách và cấu trúc của nhân cách
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì con ngƣời là một
thực thể tự nhiên – xã hội. Nghiên cứu con ngƣời cần phải xuất phát từ
chính những con ngƣời hiện thực trong lịch sử phát triển của nó, nghĩa là từ
những con ngƣời hành động tồn tại thực sự của một xã hội, của một giai
đoạn lịch sử nhất định với tất cả các mối quan hệ tự nhiên, xã hội hiện hữu
của nó. Những yếu tố, đặc điểm sinh học và xã hội trong con ngƣời có sự
thống nhất biện chứng với nhau để tạo nên bản chất con ngƣời. Trong tác
phẩm Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác viết: “ Bản chất con người không
phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”[53;
11]. Điều đó có nghĩa là, mọi quan hệ xã hội hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp
đều góp phần vào hình thành bản chất con ngƣời, và bản chất của con
ngƣời không phải là cái thuần túy có tính cá nhân. Từ quan điểm trên, ta
thấy nhân cách con ngƣời chính là tổng hợp các yếu tố phản ánh bản chất
xã hội của con ngƣời, nhƣng đƣợc hình thành trên cơ sở, điều kiện, tiền đề
sinh học của ngƣời đó. Nhân cách của một con ngƣời không phải là cái có
sẵn mà nó đƣợc hình thành dần dần trong hoạt động và giao tiếp của con
ngƣời từ ấu thơ đến khi trƣởng thành.
Nhân cách là hệ thống những phẩm giá của một ngƣời đƣợc đánh giá
từ mối quan hệ qua lại của ngƣời đó với những ngƣời khác, với tập thể, với
xã hội và cả với thế giới tự nhiên xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên
suốt quá khứ, hiện tại và tƣơng lai. Nhân cách là một thứ giá trị đƣợc xây
dựng và hình thành trong toàn bộ thời gian con ngƣời tồn tại trong xã hội,

10
nó đặc trƣng cho mỗi con ngƣời, thể hiện những phẩm chất bên trong con

góp giá trị nhân cách của mình cho xã hội, cho ngƣời khác.
Nhƣ vậy, ta có thể khái quát “nhân cách là toàn bộ những gì hợp
thành một con ngƣời, một cá nhân với bản sắc và cá tính rõ nét, với các đặc
điểm thể chất, tài năng phong cách, ý chí, đạo đức, vai trò xã hội”[82; 246].
Tóm lại, có thể coi nhân cách như là toàn bộ những đặc điểm cùng
với những phẩm chất tâm lý cá nhân có tác dụng quy định giá trị và hành
vi xã hội của một con người. Tất cả những cái đó sẽ góp phần tạo nên đƣợc
nét đặc trƣng của bản sắc và giá trị xã hội trong nhân cách của họ. Nhân
cách đƣợc coi là tổng hoà không phải mọi đặc điểm cá thể của con ngƣời
mà chỉ những phẩm chất chung nào quy định nó nhƣ là một thành viên của
xã hội cũng nhƣ một công dân, ngƣời lao động và một nhà hoạt động xã hội
có ý thức. Nhân cách của chủ thể sẽ luôn luôn đƣợc sống động hiện thực
qua toàn bộ những hành vi, quan hệ xã hội trong suốt tiến trình của cuộc
sống của họ. Việc tổng hoà tất cả những thuộc tính của thể chất cũng nhƣ
tài năng, phong cách, ý thức, đạo đức, vai trò xã hội của chủ thể để tạo
thành một hệ thống - cấu trúc xác định với một bản sắc riêng và có cá tính
rõ nét sẽ góp phần làm hình thành đƣợc một cấu tạo đặc biệt là nhân cách.
Ở con ngƣời, cái sinh lý cũng nhƣ cái xã hội và cái tâm lý sẽ luôn
luôn có sự tác động biện chứng với nhau trong mọi thời gian - không gian
sống để tạo ra những nét đặc trƣng của nhân cách. Tất cả ba yếu tố này đều
có sự ảnh hƣởng, tác động qua lại và quy định lẫn nhau trong việc hình
thành nhân cách. Vì vậy, cần phải có cách tiếp cận cụ thể, toàn diện và phải
có phƣơng pháp giáo dục thích hợp để giúp trẻ hình thành những phẩm chất
nhân cách tốt.
Từ khái niệm về nhân cách chúng ta có thể khái quát về cấu trúc
của nhân cách nhƣ sau:
Cấu trúc là sự thống nhất toàn vẹn các thành phần và sự liên hệ về
mọi mặt giữa chúng. Cấu trúc nhân cách là sự sắp sếp các thuộc tính hay

12


13
Đặc điểm về động thái của nhân cách: Đặc điểm này thể hiện ở khí
chất của nhân cách.
Ở Việt Nam khi nói đến nhân cách ngƣời ta thƣờng hay nghĩ đến
hai thành phần cơ bản: đức và tài, hay phẩm chất và năng lực, có thể khái
quát cấu trúc này theo bảng sau:
Phẩm chất (đức)
Năng lực ( tài)

- Phẩm chất xã hội (đặc điểm chính
trị): thế giới quan, lý tƣởng, niềm
tin, lập trƣờng.

- Năng lực xã hội hóa: khả năng
thích ứng, hòa nhập, tính mềm dẻo,
cơ động, linh hoạt trong cuộc sống.

- Phẩm chất cá nhân( đạo đức, tƣ
cách): các nết, đức tính, các thói,
tật

- Năng lực chủ thể hóa: khả năng thể
hiện tính độc đáo, đặc sắc, cái riêng,
cái bản lĩnh của cá nhân.

- Phẩm chất ý chí: tính mục đích,
tính tự chủ, tính kỷ luật, tính quả
quyết, tính phê phán.


lực; đạo đức và năng lực quện vào nhau thành nhân cách con ngƣời, giúp
mỗi chúng ta thực hiện đƣợc sứ mệnh cao cả và chức danh con ngƣời, đem
lại hạnh phúc cho mình, gia đình mình và cộng đồng mình sống, dân tộc,
đất nƣớc, loài ngƣời.
Trong sự nghiệp đổi mới của đất nƣớc hiện nay, hơn bao giờ hết rất
cần những con ngƣời có đức và tài, tức là ngƣời có phẩm chất và năng lực.
Đức là gốc của nhân cách nhƣng không có nghĩa là coi nhẹ tài. Đức và tài ở
mức độ nào đó thống nhất với nhau, không thể tách rời nhau. Nhƣ Bác Hồ
đã từng nói: Người không có đức là người vô dụng
Người không có tài thì làm việc gì cũng khó.
Nhƣ vây, một ngƣời có nhân cách tốt là ngƣời vừa phải có đức, vừa
phải có tài, có tài mà không có đức nhiều khi làm hại nhiều cho đất nƣớc.
Có tài mà chỉ nhằm phục vụ cho cá nhân, tham nhũng vô kỷ luật thì sẽ làm
hại cho đất nƣớc, nhất là khi làm sai lệch đƣờng lối của Đảng thì tai hại biết
chừng nào. Vì vậy, ngƣời có nhân cách phải là ngƣời thống nhất đƣợc hai
mặt phẩm chất và năng lực, tức là thống nhất giữa hai mặt đức và tài.
1.1.2. Những đặc trưng nhân cách con người Việt Nam hiện nay
Nhƣ chúng ta đã biết thì con ngƣời vừa là thực thể tự nhiên, vừa là
thực thể xã hội, đồng thời là chủ thể cải tạo hoàn cảnh. Con ngƣời là một
thực thể “song trùng” tự nhiên và xã hội, là sự kết hợp cái tự nhiên và cái

15
xã hội. Hai yếu tố này gắn kết với nhau, đan quyện vào nhau, trong cái tự
nhiên chứa đựng tính xã hội và cũng không có cái xã hội tách rời cái tự
nhiên. Con ngƣời không thể tồn tại đƣợc một khi tách rời khỏi xã hội chỉ
trong xã hội con ngƣời mới có thể trao đổi lao động, thông qua đó mà thỏa
mãn những nhu cầu trong cuộc sống, nhƣ ăn, ở, đi lại Trong xã hội thông
qua quan hệ với ngƣời khác, mà mỗi ngƣời nhận thức về mình một cách
đầy đủ hơn, trên cơ sở đó mà rèn luyện, phấn đấu vƣơn lên về mọi mặt,
từng bƣớc hoàn thiện nhân cách.

hội chủ nghĩa của đất nƣớc. Hệ giá trị của xã hội chúng ta đang có những
biến đổi rõ rệt trƣớc những tác động của kinh tế thị trƣờng của khoa học
công nghệ, do ảnh hƣởng của giao lƣu văn hóa.
Tuy nhiên, trong mọi sự biến đổi con ngƣời của xã hội, chúng ta vẫn
giữ đƣợc những giá trị hay những phẩm chất cơ bản nhƣ: lòng yêu nƣớc,
tinh thần tự hào dân tộc, niềm tin vào bản thân và xã hội. Đây chính là nền
tảng của hệ giá trị xã hội và giá trị nhân cách.
Qua sự phân tích trên có thể đƣa ra những đặc trƣng nhân cách con
ngƣời Việt Nam hiện nay, đó là một nhân cách đƣợc phát triển toàn diện,
một nhân cách gắn bó nhịp nhàng, hài hòa giữa ba mặt: Nội tâm thống
nhất, lành mạnh, ổn định, tích cực; quan hệ với ngƣời khác một cách nhân
ái, hữu nghị hợp tác; say mê và nhiệt tình, thích ứng và sáng tạo, hiệu quả
và thành đạt.
Qua đó, ta có thể hiểu đƣợc đặc trƣng nhân cách con ngƣời Việt
Nam thích ứng với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế hiện nay là:
Thứ nhất, con ngƣời có lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, có đạo đức trong sáng, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân
tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là con ngƣời giàu
lòng yêu nƣớc thƣơng dân, có tình thƣơng yêu giai cấp, thƣơng yêu đồng
loại, sống nhân văn, nhân đạo, có ý thức và kiên quyết đấu tranh bảo vệ chế

17
độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ những thành quả cách mạng, kiên quyết đấu
tranh làm thất bại mọi âm mƣu chống phá của kẻ thù.
Thứ hai, con ngƣời có ý chí kiên cƣờng, có hoài bão lớn lao phát huy
tiềm năng của dân tộc và con ngƣời Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát
huy tính tích cực của cá nhân, có tƣ duy sáng tạo và óc thực nghiệm.
Thứ ba, con ngƣời có tính tổ chức và kỷ luật, tinh thần trách nhiệm
cao và trung thực; có lòng nhân ái, tôn trọng và hợp tác đƣợc với ngƣời

phận, không cần một sự kết hợp đồng bộ giữa các khâu, cũng nhƣ một sự
chỉ huy, lãnh đạo, quản lý thống nhất và nghiêm ngặt. Tình trạng đó đã sinh
ra tác phong tùy tiện, thiếu tinh thần trách nhiệm, không tính đến hiệu quả
kinh tế của sức lực và thời gian. Nhƣ vậy, ở ngƣời Việt Nam không có
những quy định nghiêm ngặt về trách nhiệm từng ngƣời, cho nên đã không
hình thành đƣợc tính kỷ luật và trách nhiệm cá nhân.
Đặc biệt là Viện Nghiên cứu xã hội Mỹ đã nghiên cứu về con ngƣời
Việt Nam và đƣa ra những nhận xét về đặc điểm con ngƣời Việt Nam nhƣ:
“Ngƣời Việt Nam cần cù lao động, song dễ thỏa mãn nên tâm lý
hƣởng thụ còn nặng; thông minh, sáng tạo, song chỉ có tính chất đối phó,
thiếu tầm tƣ duy dài hạn, chủ động; khéo léo, song không duy trì đến cùng
(ít khi quan tâm đến sự hoàn thiện cuối cùng của sản phẩm); vừa thực tế,
vừa mơ mộng, nhƣng không có ý thức nâng lên thành lý luận; ham học hỏi,
có khả năng tiếp thu nhanh, nhƣng ít khi học “đến đầu đến đuôi” nên kiến
thức không hệ thống, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không còn là mục tiêu
tự thân của nhiều ngƣời Việt Nam (nhỏ học vì gia đình, lớn học vì sỹ diện,
để kiếm công ăn việc làm, ít vì chí khí đam mê); xởi lởi chiều khách song
không bền; tiết kiệm, nhƣng cũng nhiều khi hoang phí vì những mục tiêu
vô bổ(sỹ diện, khoe khoang, thích hơn đời…); có tinh thần đoàn kết, tƣơng
thân tƣơng ái, song hầu nhƣ chỉ trong những hoàn cảnh, trƣờng hợp khó
khăn, bần hàn. Trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này
ít khi xuất hiện; yêu hòa bình, nhẫn nhịn, nhƣng nhiều khi hiếu chiến, hiếu

19
thắng vì những lý do tự ti lặt vặt, đánh mất đại cục; thích tụ tập nhƣng lại
thiếu tính liên kết để tạo thành sức mạnh (cùng một việc, một ngƣời làm thì
tốt, ba ngƣời làm thì kém, bảy ngƣời làm thì hỏng)”[62;112-113]
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng, bên cạnh những phẩm chất tốt đẹp thì
ngƣời Việt Nam vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế. Và những điều đó
đang hạn chế sự đóng góp của mỗi con ngƣời cho xã hội, chúng ta cần phải

hƣởng đến sự phát triển của con ngƣời. Trong đó, gia đình là môi trƣờng
đầu tiên của trẻ đƣợc xã hội hóa, đƣợc sống trong tình yêu thƣơng của cha
mẹ và ngƣời thân, là trƣờng học đầu tiên của trẻ. Những năm đầu đời để lại
dấu ấn rất quan trọng cho sự phát triển về mặt nhân cách cho trẻ sau này.
Nhân tố xã hội cơ bản ảnh hƣởng lớn đến sự hình thành và phát triển
nhân cách con ngƣời là tồn tại xã hội, hoàn cảnh sống mang tính lịch sử -
cụ thể mà cá nhân đó sống. Vì vậy, hoàn cảnh gia đình tốt hay xấu đều có
những tác động lớn đến nhân cách con ngƣời.
Bên cạnh những tác động của gia đình thì giáo dục nhà trƣờng cũng
có những ảnh hƣởng lớn đến hình thành và phát triển nhân cách con ngƣời.
Giáo dục nhà trƣờng có trách nhiệm bổ sung thêm nữa về mặt đạo đức và
tài năng của con ngƣời, là môi trƣờng quan trọng hình thành nguồn tri thức,
kinh nghiệm, kỹ năng cho mỗi chúng ta.
Qua đó, thấy đƣợc việc học tập đóng vai trò chủ yếu ảnh hƣởng đến
hầu nhƣ mọi khía cạnh của hành vi. Tất cả những ảnh hƣởng môi trƣờng và
xã hội tác động tới sự hình thành nhân cách thông qua việc học tập và qua
thực tiễn cuộc sống của mỗi con ngƣời. Ngay cả những điều kiện vật chất
của nhân cách đƣợc thừa hƣởng từ gia đình cũng có thể bị thay đổi( giữ
gìn, phát huy hay loại bỏ) bởi quá trình học tập.
Nhƣ vậy, giáo dục là điều kiện quan trọng để tạo ra sự biến đổi về
chất của cá nhân, trang bị những điều căn bản nhất, giúp con ngƣời phát
huy hết tiềm năng của bản thân. Tuy nhiên, trong thời đại công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nhƣ hiện nay thì giáo dục gia đình lại ngày càng có xu hƣớng

21
bị xem nhẹ. Hầu hết, các bậc cha mẹ thƣờng khoán trắng việc giáo dục trẻ
cho nhà trƣờng, trong khi giáo dục gia đình là yếu tố quan trọng nhất, vì
gia đình là môi trƣờng đầu tiên mà con ngƣời tiếp xúc, đƣợc rèn luyện. Vì
vậy, các bậc cha mẹ cần phải chủ động phối họp chặt chẽ mật thiết với nhà
trƣờng và xã hội (qua các cơ quan tổ chức, đoàn thể) để giáo dục đạo đức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status