Vai trò của nhà nước trong việc hình thành và phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam - Pdf 28



TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ
LUẬN CHÍNH TRỊ

PHẠM VĂN HÀ
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CÔNG NGHỆ Ở VIỆT
NAM
LUẬN VĂN TH.S KINH TẾ

Người hướng dẫn: PGS.TS Phan Thanh Phố

Hà Nội 2006
2
thành và phát triển thị trường này ở nước ta còn khá mới và còn nhiều bất cập
điều đó thể hiện trên nhiều mặt: nhận thức, cơ chế, chính sách, đầu tư vốn, nhất
là vai trò nhà nước đối với việc tổ chức các bộ phận, các yếu tố cấu thành và phát
triển đồng bộ TTCN.
Những yếu kém, bất cập này đang cản trở sự nghiệp CNH - HĐH phát
triển triển rút ngắn, xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam đang trước thềm gia
nhập WTO. Nó đã và đang đòi hỏi cần có lời giải thoả đáng trên cả hai mặt lý
luận và thực tiễn ở nước ta hiện nay.
Để góp thêm phần mình vào việc tìm ra lời giải đó, tác giả chọn đề tài:
“Vai trò Nhà nước trong việc hình thành và phát triển thị trường công nghệ ở
Việt Nam” để nghiên cứu làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh vấn đề này, đã có một số công trình và bài báo nghiên cứu
đăng tải như:
- “Phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở Việt Nam”- Đề tài KX.01.07 thuộc chương trình KX.01 có mục tiêu là:
Xác định các loại thị trường cơ bản và đặc trưng của chúng; thực trạng một số
loại thị trường chủ yếu ở nước ta; kiến nghị các chính sách và giải pháp nhằm
tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường và hoàn thiện các loại thị trường trong đó
có TTCN ở nước ta.
- Một số suy nghĩ bước đầu về các loại thị trường cơ bản trong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN của TS Lê Xuân Bá, năm 2002.
- Một số vấn đề phát triển đồng bộ các loại thị trường trrong nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN của TS Lê Đăng Doanh, năm 2002. 3
- Một số ý kiến về quy luật vận động của một số loại thị trường cơ bản

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn lấy việc luận giải vai trò của Nhà nước trong việc hình thành và
phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam làm đối tượng nghiên cứu.
Thời gian nghiên cứu từ 1986, nhưng chủ yếu từ năm 1992 (được đánh
dấu bởi Nghị định 35/HĐBT nay là Chính Phủ về công tác quản lý khoa học -
công nghệ ban hành 28/01/1992) đến nay.
Phương hướng và các giải pháp đưa ra là các giải pháp cơ bản và vĩ mô
gắn với chuyên ngành kinh tế chính trị.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm phương
pháp luận chung được vận dụng thông qua phương pháp trừu tượng hoá, phân
tích và tổng hợp, lịch sử và logic. Ngoài ra còn vận dụng một số phương pháp
thống kê, đối chiếu, so sánh nhằm tạo ra một tổng thể phương pháp cho phép tiếp
cận nhanh đối tượng và mục tiêu nghiên cứu.
6. Đóng góp mới và ý nghĩa của việc nghiên cứu
* Đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa làm rõ thêm hàng hóa công nghệ, TTCN, vai trò của Nhà
nước và kinh nghiệm nước ngoài về việc hình thành và phát triển thị trường công
nghệ ở nước ta;
- Đưa ra những đánh giá có căn cứ khoa học về thực trạng vai trò của Nhà
nước trong việc hình thành và phát triển thị trường công nghệ ở nước ta; 5
- Đề xuất có căn cứ lý luận và thực tiễn phương hướng và giải pháp cơ bản
tiếp tục tăng cường vai trò Nhà nước trong việc hình thành và phát triển thị
trường công nghệ ở nước ta thời gian tới.
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Kết quả luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc hoạch định
phát triển khoa học - công nghệ và phát triển TTCN ở nước ta. Nó cũng có thể

ở các phạm trù, định luật và quy luật về tự nhiên kỹ thuật, xã hội và bản thân con
người. Khi tri thức của con người về tự nhiên kỹ thuật, xã hội và bản thân con
người có sự biến đổi mới và sâu sắc hơn so với tri thức trước đó trong phạm vi
rộng hoặc hẹp, được gọi là cách mạng khoa học, Người ta phân loại khoa học
thành các loại sau:
+ Khoa học tự nhiên - kỹ thuật, nghiên cứu các quy luật tự nhiên và
phương thức chinh phục và cải tạo tự nhiên kỹ thuật;
+ Khoa học xã hội, nghiên cứu những hiện tượng xã hội khác nhau, các
phạm trù, các quy luật vận động phát triển của chúng và cả bản thân con người. 7
Xét về vai trò và tác dụng, có thể thấy khoa học bao gồm: khoa học cơ
bản, thực nghiệm và khoa học ứng dụng.
Chính vì thế, nên trong Điều 2 Luật Khoa học và công nghệ đã giải thích:
“Khoa học là hệ thông tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên,
xã hội và tư duy” [48].
- Công nghệ: Theo nghĩa rộng không chỉ là các phương tiện, thiết bị do
con người sáng tạo ra mà còn là các bí quyết biến các nguồn lực sẵn có thành sản
phẩm. Ngày nay người ta thường sử dụng thuật ngữ công nghệ theo nghĩa rộng
bao gồm 4 thành phần sau đây:
+Trang thiết được coi là “xương sống”, là “cốt lõi” của các hoạt động
chuyển hóa của đối tượng lao động.
+ Kỹ năng và tay nghề, thành phần này có liên quan đến kinh nghiệm nghề
nghiệp của từng người, hoặc nhóm người và nó được coi là “chìa khoá” của sản
xuất.
+ Thông tin, có liên quan đến các bí quyết, các quy trình, các phương
pháp, các dữ liệu, các bản thiết kế.
+ Tổ chức, thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp, điều phối, quản lý, tiếp
thị… có liên quan đến nhiệm vụ liên kết các thành phần nói trên và kích thích

những tiến bộ trong công nghệ. Nghiên cứu khoa học mà kết quả của nó là tạo ra
các sản phẩm khoa học tồn tại dưới hình thức sản phẩm công nghệ được ứng
dụng trong lĩnh vực tự nhiên, kỹ thuật và trong lĩnh vực xã hội nhân văn.
Ranh giới tương đối giữa khoa học và công nghệ là ở chỗ: nói khoa học là
nói về ý thức xã hội, nói đến việc nghiên cứu sáng tạo tri thức, phát minh để tạo 9
ra nhưng thành tựu về công nghệ. Còn nói công nghệ là nói đến kết quả của việc
nghiên cứu sáng chế phát minh, là nói đến hoạt động ứng dụng vào thực tiễn, là
nói đến việc cải tạo thực tiễn đời sống kinh tế, công nghệ và xã hội ngày một tiến
bộ hơn trước. Luận văn nghiên cứu công nghệ với tư cách là sản phẩm công
nghệ dưới hình thái hàng hóa được dùng để giao dịch, trao đổi, mua bán trên
TTCN. Toàn bộ hoạt động nói trên gắn liền với dịch vụ khoa học và công nghệ.
Điều 2 của Luật Khoa học và công nghệ, giải thích: “Dịch vụ khoa học và
công nghệ là các họat động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; các
dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức
khoa học và công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn” [48].
* Sản phẩm công nghệ là hàng hóa.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, việc lý giải sản phẩm công nghệ là
hàng hoá bắt nguồn từ những luận cứ sau:
Thứ nhất: ngành khoa học công nghệ là ngành công nghiệp quan trọng sản
xuất ra sản phầm công nghệ.
Thật vậy, sản phẩm công nghệ do ngành khoa học - công nghệ tạo ra
thông qua việc độc lập hóa nghiên cứu và hoạt động nghiên cứu làm cơ sở tự
nhiên, cùng với việc phát triển của phân công lao động xã hội hoạt động này
ngày một phát triển độc lập với các ngành sản xuất vật chất khác để trở thành
ngành công nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt, mà sản phẩm của nó là sản phẩm
công nghệ. Hơn nữa các cơ quan nghiên cứu phát triển khoa học và công nghệ

sự giao dịch hàng hóa công nghệ do tính đặc thù của nó nên không phải là sự 11
chuyển nhượng quyền sở hữu, mà chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng công nghệ.
Sau khi bên mua có quyền sử dụng hàng hóa công nghệ thì bên bán ngoài việc
ký hợp đồng độc quyền với bên mua hoặc cấp cho bên mua giấy phép, vẫn có
quyền tiếp tục sử dụng và tiếp tục chuyển nhượng công nghệ đó cho người khác.
Ngoài ra, việc giao dịch các hàng hóa công nghệ thường phải xác định rõ ràng
quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên dưới hình thức hợp đồng. Bởi vì việc giao dịch
các hàng hóa công nghệ tương đối phức tạp, cùng với việc chuyển nhượng hàng
hóa công nghệ, còn nhiều khoản mục cung cấp có liên quan như: tư vấn công
nghệ, đào tạo cán bộ v.v đều phải xác định theo hình thức hợp đồng.
Thứ hai: Việc thực hiện giá trị sử dụng hàng hóa công nghệ cần phải có
một quá trình. Nếu hàng hoá thông thường, công dụng của nó được biểu hiện
ngay sau khi tiêu dùng, trái lại hàng hóa công nghệ sau khi mua đem về ứng
dụng còn phụ thuộc khả năng tiếp nhận và môi trường điều kiện tương ứng của
bên mua. Bên mua cần có một quá trình thích ứng dần với công nghệ mới mua
về.
Thứ ba: Hàng hoá công nghệ chịu sự chi phối của hao mòn vô hình, nên
tuổi thọ của hàng hóa thông thường do hao mòn vô hình của hàng hóa công nghệ
quyết định. Tốc độ hao mòn vô hình của hàng hoá công nghệ càng nhanh thì tuổi
thọ của hàng hóa công nghệ càng giảm vì tốc độ tăng nhanh của khoa học công
nghệ . Do đó đòi hỏi phải ứng dụng nhanh và thực hiện khấu hao nhanh.
Thứ tư: Tính khó xác định về giá tri của hàng hóa công nghệ.
Nếu hàng hóa thông thường lượng giá trị của nó được xác định bởi thời
gian lao động xã hội cần thiết, trái lại hàng hoá công nghệ thường sản xuất đơn
chiếc, lao động sản xuất ra nó là lao động trí tuệ - lao động phức tạp, như Mác đã
phú và đồng bộ. Mặc dù, ở mỗi nước, mỗi thời kỳ sự hình thành và phát triển các
loại thị trường có thể nhanh chậm và với mức độ có khác nhau, song đều lấy sự
phát triển của phân công xã hội và trình độ xã hội hoá sản xuất làm điểm xuất
phát.
Mặc dù còn có ý kiến khác nhau về khái niệm thị trường, song có thể hiểu:
Thị trường là lĩnh vực trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ, lĩnh vực mà ở
đó những người tham gia thị trường thường xuyên tác động với nhau để xác định
giá cả và sản lượng hàng hóa.
- Thông qua vai trò nối liền và thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng phát triển,
thị trường có những chức năng như: Thừa nhận hay không thừa nhận hàng hóa,
dịch vụ mà người sản xuất và cung ứng trên thị trường; thông tin cho người sản
xuất và người tiêu dùng những thông số hay tín hiệu về quy mô, cơ cấu, chất
lượng, mức giá cả, thời gian và không gian mà người mua có nhu cầu; điều tiết
(kích thích, kìm hãm, chuyển đổi) sản xuất, lưu thông và tiêu dùng thông qua các
quyết định của những người tham gia thị trường.
- Thị trường có thể chia thành nhiều loại, do dựa trên nhiều tiêu thức khác
nhau. Luận văn lấy tiêu thức quá trình tái sản xuất để phân loại. Theo tiêu thức
này, có thể chia thị trường thành 2 nhóm loại cơ bản: Nhóm thị trường các yếu tố
sản xuất gắn với đầu vào và thị trường hàng hóa,dịch vụ gắn với đầu ra của sản
xuất.
- Nhóm thị trường các yếu tố sản xuất bao gồm: Thị trường tư liệu sản
xuất; thị trường tài chính; thị trường sức lao động; thị trường bất động sản; thị
trường công nghệ
- Nhóm thị trường hàng hóa, dịch vụ, gắn với đầu ra của sản xuất. dưới
góc độ thị trường "mở" có thể chia thành: Thị trường trong nước; thị trường 14
ngoài nước được thực hiện thông qua tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra nước
ngoài và xuất khẩu tại chỗ thu ngoại tệ.

nghĩa rộng mà sử dụng khái niệm thị trường công nghệ theo nghĩa hẹp.
- Thị trường công nghệ theo nghĩa rộng là tổng thể quan hệ trao đổi, giao
dịch để biến thành quả nghiên cứu khoa học và công nghệ trở thành hàng hóa và
trở thành lực lượng sản xuất hiện thực. Xét về cơ cấu, nó bao gồm toàn bộ quá
trình từ triển khai hàng hóa công nghệ đến ứng dụng và lưu thông hàng hóa công
nghệ; do các bên bán, bên mua và trung gian tiến hành như triển khai, chuyển
giao công nghệ, tư vấn công nghệ và dịch vụ công nghệ, toàn bộ lĩnh vực và các
khâu lưu thông thành quả khoa học và công nghệ.
- Thị trường công nghệ theo nghĩa hẹp thể hiện rõ trong khái niệm dịch vụ
khoa học và công nghệ.
Thị trường công nghệ tuy còn có một số cách hiểu khác nhau, song có thể
hiểu: Thị trường công nghệ là một phương thức thương mại hóa các thành quả
khoa học công nghệ, liên kết có hiệu quả giữa khoa học với sản xuất kinh doanh,
là lĩnh vực trao đổi mua bán hàng hóa công nghệ, tư vấn, môi giới, giám định,
thưởng phạt, khiếu kiện giữa các chủ thể tham gia trên thị trường công nghệ.
- Phân loại thị trường công nghệ
- Theo hình thức sở hữu, các chủ thể có các cá nhân, doanh nghiệp hoặc
các công ty hoạt động trong các thành phần kinh tế.
- Theo hình thức mua bán, có các hình thức thị trường như: mua bán có
giấy phép, hợp tác nghiên cúưu phát triển, công trình chìa khóa trao tay, uỷ thác
triển khai. 16
- Theo tổ chức TTCN, có chợ giao dịch, chợ gọi thầu các vấn đề khó, chợ
công bố thông tin khoa học và công nghệ, cửa hàng công nghệ
- Theo phạm vi, có TTCN trong nước, TTCN quốc tế, TTCN khu vực,
TTCN địa phương.
* Đặc trưng của thị trường công nghệ
Là một bộ phận trong hệ thống thị trường, song thị trường công nghệ lại

Ba là, người mua hàng hoá để tiêu dùng trên thị trường công nghệ này là
tất cả các chủ thể (cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và xã hội) có nhu cầu
phát triển và nâng cao trình độ khoa học và công nghệ để đáp ứng yêu cầu tồn tại
và phát triển. Họ không có khả năng tự đáp ứng yêu cầu của mình và phải tìm
mua trên thị trường hàng hoá công nghệ mà mình cần.
Bốn là, môi trường pháp lý bảo đảm cho sự trao đổi hàng hoá này trên thị
trường công nghệ diễn ra trong khuôn khổ pháp luật. Điều này thể hiện trực tiếp
vai trò của Nhà nước đối với việc hình thành và phát triển TTCN, trong đó quan
trọng hàng đầu là các văn bản pháp qui thừa nhận sản phẩm khoa học - công
nghệ có đủ tư cách là hàng hoá, các văn bản pháp qui về đăng ký phát minh sáng
chế và sở hữu trí tuệ, đăng ký kinh doanh hànhg hóa công nghệ
Năm là, quan hệ cung cầu về hàng hoá công nghệ diễn biến gắn với trình
độ phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có áp lực cạnh tranh trên thị trường và
trình độ phát triển các hoạt động nghiên cứu, sáng chế và phát minh. Do trình độ
khoa học và công nghệ là yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên năng lực cạnh
tranh của hàng hoá trên thị trường, nên áp lực cạnh tranh càng mạnh, nhu cầu đổi
mới và nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của các doanh nghiệp, các tổ
chức càng cao, nhu cầu với hàng hoá này, do vậy càng mở rộng. Cũng như các 18
hàng hoá vật chất khác, mỗi hàng hoá công nghệ có chu kỳ sống riêng, tốc độ
phát triển khoa học và công nghệ càng cao, chu kỳ sống hàng hoá công nghệ
càng ngắn, sự nảy sinh nhu cầu mới sẽ là quá trình phát triển không có giới hạn.
Từ những đặc trưng đó, đối chiếu với thực tiễn có thể thấy rằng Việt Nam
chưa có TTCN theo nghĩa đầy đủ. Các yếu tố cấu thành thị trường này còn ở
trình độ sơ khai, tự phát. Chính đây là một trong những nguyên nhân hạn chế sự
phát triển khoa học và công nghệ, chậm nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ
động hội nhập kinh tế của nước ta thời gian qua.
* Sự sự cần thiết và lợi ích của việc hình thành và phát triển TTCN

còn đem lại nhiều lợi ích sau đây:
+ Về phía cung, sự hình thành và phát triển thị trường này đem lại lợi ích
cho cả 3 phía:
Nhà nước giảm bớt tình trang bao cấp, giảm gánh nặng chi ngân sách,
đồng thời có thể tăng thu cho ngân sách nhà nước thông qua thu thuế trên thị
trường này.
Tăng khả năng đầu tư vốn cho nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng
và khả năng ứng dụng các thành tựu khoa học, từ đó nâng cao thu nhập và cải
thiện đời sống của các nhà nghiên cứu khoa học.
Thông qua đòn bẩy lợi ích phát huy tác dụng của các doanh nghiệp trong
môi giới, tư vấn và kinh doanh hàng hóa công nghệ trên TTCN.
Về phía cầu, sự hình thành và phát triển TTCN đem lại lợi ích cho người
mua và sử dụng hàng hóa công nghệ để mở rộng và hiện đại hoá sản xuất kinh
doanh, nâng cao sức cạnh tranh, hội mhập đứng vững và chiến thắng trên thương
trường trong nước và quốc tế. Tất nhiên để lợi ích về phía cầu thành hiện thực,
thì vai trò nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt. Trong đó đáng chú ý là nhà 20
nước: cần tăng cường công tác giáo dục cho người sử dụng thầy rõ sự cần thiết
phải mua thành tựu khoa học - công nghệ, mua hàng hoá công nghệ; ban hành
các chính sách coi công nghệ là hàng hóa, Luật sở hữu trí tuệ, hình thành và bảo
vệ thương hiệu, từng bước xoá bỏ bao cấp và thói quen, ỷ lại vào nhà nước về
việc cung ứng sản phẩm nghiên cứu khoa học trong tất cả các doanh nghiệp, nhất
là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài doanh nghiệp nhà nước
và doanh nghiệp cổ phần nhà nước sau cổ phần hóa.
1.2. Vai trò nhà nƣớc trong việc hình thành và phát triển thị trƣờng
công nghệ
1.2.1. Nhà nước và vai trò nhà nước trong nền kinh tế thị trường
* Khái niệm Nhà nước

kinh tế, mà chỉ là cơ quan cai trị xã hội. Song đến thập niên thứ hai của thế kỷ
XX, nhất là từ sau đại chiến thế giới lần thứ 2 đến nay Nhà nước không ở bên
trên, bên ngoài nền kinh tế, mà đã có vai trò quản lý vĩ mô nền KTTT.
Trong nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, để phát huy mặt tích cực
và giảm thiểu những khuyết tật của kinh tế thị trường nhằm thúc đẩy tăng trưởng
theo mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh và đúng định
hướng XHCN không thể thiếu vai trò quản lý của Nhà nước.
Nhà nước thực thi vai trò là người tổ chức lãnh đạo và quản lý vĩ mô nền
kinh tế nhằm mục đích: 22
- Với vai trò “bà đỡ’’, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình
thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường, nhất là các thị trường chưa có
hoặc mới được hình thành, trong đó có thị trường công nghệ.
- Đảm bảo cho nền kinh tế thị trường phát triển bình thường, hạn chế
những đột biến không lành mạnh xảy ra.
- Đảm bảo môi trường sinh thái theo hướng hiệu quả kinh tế - xã hội.
- Giảm thiểu những hậu quả tiêu cực của xã hội do tính tự phát của cơ chế
thị trường, từ đó thực hiện có hiệu quả mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng dân chủ văn minh và phát triển theo đúng định hướng XHCN.
1.2.2. Vai trò nhà nước trong việc hình thành và phát triển thị trường
công nghệ - Nhìn từ góc độ nội dung
Nhà nước thực thi vai trò đối với việc hình thành và phát triển thị trường
công nghệ qua các nội dung sau đây:
Thứ nhất: Nhà nước tạo môi trường pháp lý cho việc hình thành và phát
triển thị trường công nghệ.
Nhà nuớc pháp quyền là quyền lực của nhà nước đối với nền kinh tế thể
hiện ở luật pháp. Trong nền KTTT Nhà nước điều tiết và quản lý bằng một hệ
thống luật, nhất là hệ thống các luật kinh tế một cách khoa học, đồng bộ và hiệu

hoá thành quả KH & CN; Hệ thống pháp lý đầy đủ về hợp đồng công nghệ cho
nghiên cứu phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ, tư vấn công nghệ, dịch
vụ công nghệ, môi giới công nghệ; đăng ký công nhận hợp đồng công nghệ; biện 24
pháp tăng cường quản lý quyền sở hữu trí tuệ đối với KH&CN, phát triển mạng
lưới dịch vụ thông tin hỗ trợ TTCN; Phát triển ngành dịch vụ trung gian trong đó
có môi giới công nghệ, đánh giá quyền sở hữu tài sản công nghệ, v.v
Thứ hai: Nhà nước ban hành khung pháp lý về tổ chức hoạt động của thị
trường công nghệ
Nội dung khung pháp lý về tổ chức liên quan đến hoạt động của TTCN
gắn với 3 thành phần (hay 3 phía):
* Cơ quan quản lý và xúc tiến TTCN của nhà nước Trung ương, tỉnh
(thành phố)
Nhà nước cần có các văn bản pháp lý cho việc hình thành cơ quan quản lý
và xúc tiến TTCN trên cơ sở công nhận các cơ quan này là đơn vị sự nghiệp,
hình thành từ trung ương đến địa phương có chức năng nhiệm vụ được xác định
về mặt pháp lý.
Cấp Trung ương: Tổ chức này có tên gọi là “Trung tâm quản lý và xúc
tiến thị trường công nghệ”. Cơ quan này trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ,
được tổ chức thành các Ban có các chức năng:
- Quản lý phát triển xúc tiến TTCN
- Phổ cập kết quả nghiên cứu.
- Thông tin.
- Hợp tác quốc tế.
* Cấp tỉnh, thành phố, có tên gọi là: “Văn phòng quản lý và xúc tiến
TTCK”.
Văn phòng này trực thuộc Sở khoa học và Công nghệ, thực thi các chức
năng:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status