Phát huy vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ em tỉnh Hải Dương hiện nay - Pdf 25

0

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NHAN

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO
DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ EM TỈNH HẢI DƢƠNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học

Hà Nội - 2014
1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NHAN PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO

1.2.2. Những nhân tố quyết định đến việc phát huy vai trò của gia đình trong việc
giáo dục đạo đức cho trẻ em 34
Kết luận chƣơng 1 41
Chƣơng 2 43
THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC PHÁT HUY VAI
TRÒ CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO TRẺ EM TỈNH HẢI
DƢƠNG HIỆN NAY 43
2

2.1. Những nhân tố tác động đến phát huy vai trò của gia đình trong việc giáo dục
đạo đức đối với trẻ em ở tỉnh Hải Dƣơng hiện nay 43
2.1.1. đặc điểm tổ chức các mô hình gia đình tỉnh Hải Dƣơng hiện nay 43
2.1.2. Đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dƣơng, tác động nền kinh tế thị
trƣờng và tiến bộ khoa học công nghệ 45
2.1.3. Chủ trƣơng, chính sách của tỉnh Hải Dƣơng 48
2.2. Thực trạng của việc phát huy vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức
đối với trẻ em tỉnh Hải Dƣơng hiện nay 50
2.2.1. Thành tựu và nguyên nhân 50
2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân 61
2.3. Những vấn đề đặt ra trong việc phát huy vai trò của gia đình đối với giáo dục
đạo đức cho trẻ em hiện nay 71
Kết luận chƣơng 2 78
Chƣơng 3 80
QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA
GIA ĐÌNH TRONG VIỆCGIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC ĐỐI VỚI TRẺ EM TỈNH HẢI
DƢƠNG HIỆN NAY 80
3.1. Quan điểm cơ bản 80
3.1.1. Phải dành cho trẻ em tất cả những gì tốt đẹp nhất theo tinh thần: “ trẻ em
hôm nay, thế giới ngày mai” 80
3.1.2. Tôn trọng và thực hiện đầy đủ những quyền cơ bản của trẻ em và nhu cầu


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“ Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” [39] nó không chỉ là một câu khẩu hiệu
hay là một lời ca tiếng hát mà nó còn là một triết lý xã hội sâu sắc. Lịch sử nhân loại đã
chứng minh trẻ em đóng một vai trò quan trọng trong sự vận động và phát triển của xã
hội hiện tại và trong tƣơng lai. Chính vì vậy, việc giáo dục trẻ em là một việc làm
thƣờng xuyên và cần thiết.
Trong thực tế, việc giáo dục trẻ em không phải là trách nhiệm riêng biệt của một
tổ chức hay một thiết chế xã hội cụ thể nào mà nó là một công việc đòi hỏi sự chung
tay góp sức của gia đình – nhà trƣờng – xã hội. Trong đó, gia đình chính là môi trƣờng
giáo dục đầu tiên và có tầm quan trọng quyết định đối với việc hình thành, phát triển
nhân cách cho trẻ em. Việc thực hiện chức năng này của gia đình có ảnh hƣởng lâu dài,
toàn diện với trẻ em trong suốt cuộc đời. Giáo dục nhà trƣờng, giáo dục xã hội chỉ phát
huy đƣợc vai trò khi lấy giáo dục gia đình làm cơ sở.
Ở Việt Nam, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã và đang đặt ra những
yêu cầu bức thiết đối với sự nghiệp giáo dục nói chung và giáo dục gia đình nói riêng
nhằm tạo ra những công dân ƣu tú cả về mặt tài năng lẫn đạo đức, đủ năng lực đƣa
nƣớc ta hội nhập với văn minh nhân loại mà bản sắc dân tộc văn đƣợc giữ vững. Yêu
cầu đó đặt ra cho sự nghiệp giáo dục, trong đó giáo dục gia đình phải không ngừng đổi
mới, hoàn thiện theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, toàn cầu hóa
mà vẫn đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Vì vậy, giáo dục đạo đức cho trẻ em
trong gia đình ngày càng trở lên bức thiết trƣớc yêu cầu phát triển của xã hội. Muốn có
một xã hội tốt trƣớc hết phải có những gia đình tốt.
Bên cạnh đó, giáo dục gia đình cũng có những diễn biến tiêu cực, trong những
năm gần đây, nƣớc ta đang thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, thực hiện nền kinh tế
thị trƣờng, các yếu tố của đô thị, của văn hóa ngoại lai đang hàng ngày, hàng giờ tác
động đến đời sống gia đình. Môi trƣờng xã hội mới đó đang làm băng hoại đạo đức
6


Mác là một kho tàng kiến thức về sƣ phạm mà các bậc cha mẹ và các nhà sƣ phạm
ngày nay vẫn cần phải khai thác và khai thác mãi mãi.
Ma-ca-ren-cô là nhà giáo dục nổi tiếng của Xô viết trƣớc đây đã dành nhiều tâm
huyết, năng lực và tình yêu dành cho con trẻ. Trong cuốn sách “Nói chuyện về giáo
dục gia đình”, ông cho rằng giáo dục con trẻ là việc làm lý thú, mang lại niềm vui,
hạnh phúc cho gia đình, nó không khó khăn ghê gớm nhƣ nhiều ngƣời lầm tƣởng. Theo
ông, các bậc cha mẹ phải có tình yêu, trách nhiệm và kiến thức ; giáo dục gia đình phải
tiến hành ngay từ đầu. Những nguyên lý giáo dục cũng nhƣ kinh nghiệm thực tiễn của
Ma-ca-ren-cô cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Cuốn sách “Dạy con yêu lao động” của A-pê-sec-ni-cô-va có tƣ tƣởng cơ bản là
giáo dục gia đình thông qua lao động bởi chỉ có nhƣ vậy thì nhân cách của con ngƣời
mới đƣợc hình thành và phát triển toàn diện. Giáo dục nói chung, giáo dục con cái yêu
lao động nói riêng phải đƣợc bắt đầu từ nhỏ và tiến hành suốt cuộc đời.
Ở nƣớc ta cũng nhƣ nhiều thiết chế xã hội khác, gia đình Việt Nam hiện nay
đang đứng trƣớc những cơ hội và thách thức mới cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu và lý
giải sâu sắc hơn.
Đề tài cấp Nhà nƣớc: “Vai trò của gia đình trong sự hình thành phát triển nhân
cách con ngƣời Việt Nam” của Trung tâm nghiên cứu về gia đình và phụ nữ do GS Lê
Thi chủ nhiệm. Tập thể tác giả của công trình này cảnh báo rằng cùng với những tiến
bộ vƣợt bậc của cách mạng khoa học công nghệ, xã hội hiện đại vừa đƣợc mở ra một
tƣơng lai tƣơi sáng cho cuộc sống vật chất, tinh thần đầy đủ hơn vừa đặt ra nhiều thách
thức buộc con ngƣời phải giải quyết. Xã hội hiện đại muốn phát triển bền vững thì phải
gắn tăng trƣởng, phát triển kinh tế với việc chăm lo ngày càng tốt hơn cuộc sống cho
con ngƣời, trong đó, giáo dục gia đình có vai trò to lớn để hình thành, phát triển nhân
cách con ngƣời.
8

“Dạy con nên ngƣời” của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam - Thành phố Hà Nội
cũng là một cuốn sách hay mà ở đó, các tác giả cung cấp những kiến thức hết sức cần
thiết về nội dung, phƣơng pháp, trách nhiệm của những ngƣời làm cha, làm mẹ khi

sĩ, 2001); "Để có nguồn lực đưa đất nước tiến lên trong thời kỳ mới, phải giáo dục,
bồi dưỡng thế hệ trẻ phát triển toàn diện" của Tổng bí thƣ Nông Đức Mạnh, Tạp chí
Thanh niên số 15- 2002; “Vấn đề đạo đức trong điều kiện của nền kinh tế thị trường ở
nước ta hiện nay. Thực trạng và nguyên nhân” của Phan Sinh Kế, tạp chí Khoa học
chính trị số 1-2004. Các công trình nghiên cứu trên đều khẳng định rằng đạo đức là vấn
đề mà nhân loại cần bàn tới trƣớc hết trong cuộc sống hiện tại. Hiện nay bức tranh đạo
đức chung của toàn nhân loại đang có nguy cơ suy thoái nghiêm trọng. Thực trạng này
không chỉ diễn ra ở một nƣớc nào đó mà nó ngày càng phổ biến ở nhiều nƣớc phát
triển và đang phát triển. Suy thoái đạo đức có ảnh hƣởng rất lớn đến đời sống tinh thần
của con ngƣời, bộ mặt nhân văn của nhân loại và nó cũng trực tiếp tác động tiêu cực
đến phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia. Thông qua việc nghiên cứu
đạo đức ở các khía cạnh nhƣ lịch sử đạo đức, các giá trị đạo đức, chuẩn mực xã hội v.v.
các tác giả đã liên hệ với thực trạng đời sống đạo đức tại Việt Nam. Và vấn đề phát huy
giá trị đạo đức truyền thống để xây dựng đạo đức mới nói chung, đạo đức mới cho trẻ
em nói riêng là vấn đề đang có biến đổi phức tạp.
Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến những công trình nghiên cứu khác nhƣ:
- “Khoa học về giáo dục con em trong gia đình” - Đức Minh chủ biên.
- “Gia đình Việt Nam với chức năng xã hội hóa” - Lê Ngọc Văn.
- “Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nƣớc ta hiện nay” -
Nghiêm Sỹ Liêm.
- “Đổi mới việc thực hiện chức năng giáo dục gia đình đối với thế hệ trẻ trong
gia đình nông dân Việt Nam” - Dƣơng Văn Bóng.
10

- “Gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em ở nƣớc ta hiện nay” - Phạm Thị
Xuân.
- “Xây dựng gia đình nông dân ở tỉnh Bến Tre hiện nay” - Nguyễn Thị Yến.
Những công trình trên đã đƣa ra nhiều tiếng nói khác nhau liên quan đến gia
đình, gia đình Việt Nam nói chung , và vấn đề giáo dục gia đình cho trẻ em. Tuy nhiên,
nghiên cứu sâu về vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ em… thì đây còn là mảng trống của

6. Đóng góp của luận văn
+ Về lý luận
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm về mặt lý luận vai trò của gia đình trong
việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Luận văn thành công sẽ là tài liệu cho sinh viên, học viên cao học và các độc
giả quan tâm đến vấn đề nay tham khảo.
+ Về thực tiễn
Trên cơ sở thực trạng của địa phƣơng, tác giả luận văn đƣa ra phƣơng hƣớng,
giải pháp giúp các gia đình tại địa bàn tỉnh Hải Dƣơng thực hiện giáo dục đạo đức cho
trẻ em có hiệu quả hơn. Luận văn thành công sẽ cung cấp nguồn tƣ liệu để các cấp
chính quyền, các tổ chức xã hội, các gia đình ở tỉnh Hải Dƣơng tham khảo, từ đó làm
tốt hơn công tác giáo dục đạo đức cho trẻ em.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,phụ lục luận văn
đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng 7 tiết.
12

Chƣơng 1
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO TRẺ EM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Gia đình và vai trò của gia đình trong việc giáo dục đạo đức cho trẻ em
1.1.1. Gia đình và chức năng cơ bản của gia đình
* Khái niệm gia đình
Gia đình là tổ ấm của con ngƣời, là tế bào của xã hội. Con ngƣời từ xa xƣa cho
đến nay đều mơ ƣớc có một tổ ấm để sống đời sống cá nhân của mình và rồi, từ cái tổ
ấm này, từ cái tế bào lành mạnh này mà đóng góp tích cực vào xã hội. Bởi vậy, không
phải ngẫu nhiên mà có nhiều nhà tƣ tƣởng, nhà khoa học cũng nhƣ các triết gia, các
nhà xã hội học… quan tâm nghiên cứu về gia đình. Vậy gia đình là gì ? Để trả lời cho
câu hỏi này cho đến hiện nay vẫn có nhiều quan niệm khác nhau bởi đây là một phạm
trù rộng, không ngừng biến đổi dƣới tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội.

Quan hệ hôn nhân là quan hệ tính giao giữa nam và nữ đƣợc pháp luật thừa
nhận, liên kết với nhau để chung sống và xây dựng gia đình hạnh phúc. Đây là quan hệ
cơ bản đầu tiên cần phải có của mỗi gia đình, nó là tiền đề cho các mối quan hệ khác.
Quan hệ huyết thống là mối quan hệ ràng buộc giữa cha mẹ với con cái, là hệ
quả tất yếu của hôn nhân. Ngoài ra, nó còn đƣợc thể hiện trong mối quan hệ gắn bó
giữa các anh chị em ruột với nhau.
Quan hệ nuôi dƣỡng là quan hệ giữa chủ thể nuôi dƣỡng và đối tƣợng đƣợc nuôi
dƣỡng. Họ gắn bó với nhau không chỉ vì trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi đƣợc pháp
luật thừa nhận, bảo vệ, mà cao hơn cả là tình thƣơng yêu, sự chăm sóc, đùm bọc, sẻ
chia những vui buồn trong cuộc sống.
Có lẽ, nghiên cứu về gia đình nói chung, định nghĩa gia đình nói riêng còn nhiều
vấn đề cần tìm hiểu thêm. Nhìn nhận gia đình từ phƣơng diện của chuyên ngành Chủ
nghĩa xã hội khoa học, theo tác giả luận văn, gia đình là một cộng đồng người đặc biệt
14

được hình thành, phát triển và củng cố bởi các mối quan hệ cơ bản là hôn nhân, huyết
thống, nuôi dưỡng. Các thành viên của gia đình có những giá trị vật chất, tinh thần
chung, gắn bó với nhau bởi trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ nhằm mục tiêu cao nhất
là nuôi dưỡng các thành viên, xây dựng gia đình bền chặt, phát triển kinh tế gia đình.
* Chức năng cơ bản của gia đình
Gia đình đƣợc sinh ra, tồn tại và phát triển vì nó có sứ mệnh đảm đƣơng những
chức năng đặc biệt mà tự nhiên và xã hội giao cho, không một thiết chế xã hội nào có
thể thay thế đƣợc. Các chức năng của gia đình tồn tại trong mối liên hệ thống nhất, tác
động lẫn nhau để tạo nên con ngƣời, xã hội hóa con ngƣời. Gia đình là một tổ chức có
nhiều chức năng khác nhau, có thể khái quát bốn chức năng cơ bản nhất nhƣ sau :
Thứ nhất: Chức năng tái sản xuất ra con người
Đây là chức năng cơ bản và riêng có của gia đình. Nó đáp ứng nhu cầu tâm sinh lý,
tình cảm của con ngƣời nói chung và các thành viên trong gia đình nói riêng để duy trì nòi
giống. Mỗi một công dân tí hon đƣợc ra đời trong môi trƣờng gia đình không chỉ có ý
nghĩa với gia đình mà còn đóng góp vào sự phát triển liên tục và trƣờng tồn của xã hội.

kế hoạch hóa gia đình nhằm ổn định dân số phù hợp với mức tăng trƣởng kinh tế cũng
nhƣ những điều kiện khác của đất nƣớc trong hoàn cảnh hiện tại, trong tƣơng lai gần.
Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển vƣợt bậc của cách mạng khoa học
công nghệ, một mặt, thế hệ trẻ đƣợc quan tâm chăm sóc tốt hơn với sự hỗ trợ của các
thiết bị hiện đại nhƣng mặt khác, nó đang mở ra một xu hƣớng mới cho việc sinh sản
bằng phƣơng thức nhân bản con ngƣời. Mặc dù vậy, xu thế tái sản xuất ra con ngƣời
trong môi trƣờng gia đình vẫn luôn luôn đƣợc xã hội ghi nhận, đƣợc dƣ luận đồng tình.
Đảng và Nhà nƣớc ta xác định nghèo đói, lạc hậu và gia tăng dân số có mối
quan hệ khăng khít với nhau theo tỷ lệ thuận. Một chiến lƣợc dân số hợp lý sẽ là động
lực để tạo ra nguồn nhân lực mới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã
hội. Xuất phát từ điều này, Đảng, Nhà nƣớc trong khi đƣa ra và thực hiện đƣờng lối
16

đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, luôn chú trọng đến hoạch định, thực hiện
chiến lƣợc tuyên truyền vận động về dân số. Cuộc vận động xã hội này đã đƣợc thể chế
hóa thành luật, thể hiện trong Điều 2 - luật Hôn nhân và gia đình. Theo đó, ngƣời dân
đƣợc tuyên truyền những kiến thức cần thiết để sinh con sao cho phù hợp với sức khỏe,
điều kiện gia đình cũng nhƣ yêu cầu của xã hội. Chức năng sinh đẻ từ một quá trình tự
nhiên chuyển sang quá trình tự giác. Trƣớc đây, chức năng sinh đẻ và nhu cầu tình dục
là không thể tách rời còn ngày nay, với những thành tựu của y học hiện đại, với sự ra
đời của các biện pháp tránh thai, ngƣời ta tách đƣợc chức năng sinh đẻ ra khỏi nhu cầu
đáp ứng về tình dục. Kế hoạch hóa gia đình là một giải pháp hữu hiệu để phòng tránh
tình trạng bùng nổ dân số.
Bên cạnh đó, khi đề cập đến chức năng tái sản xuất ra con ngƣời của gia đình,
xã hội cũng cần lƣu ý tới những gia đình vô sinh vì nhiều lý do khác nhau, quan tâm
giúp đỡ họ, tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt chức năng này.
Thứ hai: Chức năng kinh tế và tổ chức đời sống gia đình
Trƣớc hết, cần khẳng định lại rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ rõ, xã hội loài
ngƣời tồn tại và phát triển là do hai loại sản xuất quyết định: Một mặt là sản xuất ra con
ngƣời, mặt khác là sản xuất ra của cải vật chất. Nhƣ vậy, hoạt động kinh tế và tổ chức

đình mình trở thành tổ ấm, thành cái nôi hình thành nhân cách cũng nhƣ nhận thức, tình
cảm của con ngƣời.
Dân gian có câu: “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Ngoài ra, ông cha ta còn đúc
rút nhiều kinh nghiệm khác nhau từ cuộc sống sinh hoạt của gia đình, khuyên mỗi
thành viên cần biết quán xuyến, tổ chức tốt mức tiêu dùng sao cho hợp lý, khoa học, có
hiệu quả cao để từng gia đình sớm ổn định và nâng cao đời sống, góp phần thúc đẩy xã
hội ngày càng vững bƣớc đi lên.
Mặt khác, mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội là phát triển kinh tế gắn với thực hiện
bình đẳng xã hội, tạo điều kiện để con ngƣời phát triển toàn diện, các thành viên trong
18

gia đình đƣợc hƣởng thụ hợp lý và chính đáng những thành quả lao động mà mình làm
ra. Động viên các gia đình phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập nhằm thỏa mãn các
yêu cầu tiêu dùng lành mạnh để nâng cao chất lƣợng cuộc sống là mục tiêu phấn đấu
của sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Để làm đƣợc điều này, Đảng và Nhà nƣớc
cần quan tâm hơn nữa đến gia đình - tế bào của xã hội, trƣớc hết, mỗi thành viên của
gia đình cần quan tâm lẫn nhau trong lao động sản xuất, trong tiêu dùng, trong cuộc
sống nói chung.
Thứ ba: Chức năng giáo dục.
Giáo dục là lĩnh vực liên quan mật thiết tới sự phát triển bền vững của mọi quốc
gia nói chung và sự phát triển toàn diện con ngƣời nói riêng. Ở Trung Quốc, Đặng Tiểu
Bình đã phát biểu rằng phải tìm mọi cách để giải quyết tốt vấn đề giáo dục, cho dù ở
các mặt khác phải nhẫn nại một chút, thậm chí hi sinh một chút về tốc độ. Ông còn cho
rằng kế hoạch lớn trăm năm phải lấy giáo dục là gốc.
Giáo dục là chức năng quan trọng đặc biệt của gia đình bởi lẽ sinh con - nuôi con -
dạy con là những hoạt động không thể tách rời nhau trong môi trƣờng gia đình. Thực hiện
chức năng giáo dục gia đình là góp phần lớn vào việc hình thành nhân cách con ngƣời
cũng nhƣ để duy trì, phát triển văn hóa gia đình.
Các Mác đã khẳng định rằng con ngƣời là một sinh vật - xã hội. Sau khi lọt lòng
mẹ, nếu đứa trẻ không đƣợc sống trong môi trƣờng xã hội loài ngƣời, không đƣợc

Trong điều kiện hiện nay, chất lƣợng giáo dục con ngƣời phải không ngừng
nâng cao. Môi trƣờng tạo ra chất lƣợng đó là gia đình, nhà trƣờng, xã hội, nhƣng chủ
yếu nhất vẫn là gia đình - cái nôi nuôi dƣỡng, phát triển nhân cách đạo đức, tình cảm,
thẩm mỹ… Tuy thế, với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cùng với nó là sự phát triển của
khoa học công nghệ, sự đa dạng và nhiều mầu sắc của văn hóa thì giáo dục gia đình
cũng ít nhiều có sự thay đổi. Bên cạnh những bậc phụ huynh vẫn quan tâm chăm sóc
20

con cái mình, xã hội còn xuất hiện thêm những ông bố, bà mẹ phó mặc việc chăm sóc
con mình cho ngƣời giúp việc, phó mặc việc dạy dỗ con cho nhà trƣờng, xã hội. Hoặc
không ít cha mẹ lại cảm thấy lúng túng, thậm chí là bất lực khi giáo dục con em mình.
Ngoài ra, có những gia đình bố mẹ bận bịu với công việc làm ăn, buôn bán, lối sống
thực dụng, coi trọng đồng tiền. Điều này có ảnh hƣởng không tốt đến nhân cách của
trẻ.
Để thực hiện chức năng giáo dục gia đình có hiệu quả, chúng ta phải chú ý đến
mối quan hệ không thể tách rời giữa gia đình - nhà trƣờng - xã hội, tiến tới mục tiêu
giáo dục tƣ tƣởng và tình cảm lành mạnh cho thế hệ trẻ, góp phần nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài cho đất nƣớc. Muốn giáo dục gia đình có hiệu quả thì
ông bà, cha mẹ phải là tấm gƣơng sáng cho con cháu noi theo. Mặt khác, những ngƣời
lớn tuổi trong nhà cũng cần nâng cao hiểu biết về tâm sinh lý, về khoa học công nghệ
sao cho giáo dục gia đình đạt hiệu quả tốt nhất.
Nhƣ vậy, chức năng nuôi dạy, giáo dục con cái là một chức năng hết sức quan
trọng. Xã hội có sự hỗ trợ to lớn đến đâu cũng không thể thay thế đƣợc gia đình. Sự
hình thành nhân cách gốc của trẻ em chịu ảnh hƣởng của giáo dục gia đình. Việc hoàn
thiện và củng cố nhân cách con ngƣời ở tuổi trƣởng thành cũng nhƣ khi về già phần lớn
do tác động của đời sống, sinh hoạt văn hóa của gia đình.
Thứ tư: Chức năng thoả mãn nhu cầu tâm - sinh lý, tình cảm
Đây là một chức năng có tính văn hóa - xã hội của gia đình. Nhiều vấn đề tâm
sinh lý thuộc về giới tính, thế hệ, dòng họ, huyết thống… thƣờng đƣợc nảy sinh trong
gia đình. Đặc biệt, với gia đình hiện đại, độ vững bền của nó không chỉ phụ thuộc vào

năng của mình, nó tác động đến xã hội nhằm xây dựng con ngƣời mới, phát triển nhân
cách gốc cho con ngƣời. Phân chia nội dung của các chức năng nói trên chỉ mang tính
chất tƣơng đối. Trong những không gian và thời gian khác nhau thì nội dung, vị trí của
mỗi chức năng có sự thay đổi cho phù hợp với tình hình thực tế.
22

1.1.2. Vai trò của gia đình đối với giáo dục đạo đức cho trẻ em
* Trẻ em
Đề cập đến khái niệm về trẻ em, Liên hiệp quốc đã đƣa ra quan niệm của mình
trong Điều 1 của Công ƣớc về quyền trẻ em nhƣ sau: “Trẻ em đƣợc xác định là ngƣời
dƣới 18 tuổi, trừ khi luật pháp quốc gia quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Từ trƣớc
đến nay đã có nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nghiên cứu về trẻ em
nhƣ các ngành tâm lý học, luật học, tội phạm học, y học, xã hội học…
Ở nƣớc ta, từ phƣơng diện tâm lý học, TS. Minh Chí ở Viện tâm lý học thuộc
Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng: Trẻ em Việt Nam là trong 17 tuổi hay dƣới 18 tuổi
vì các chức năng tâm lý thần kinh cao cấp chƣa hoạt động theo quỹ đạo chiến lƣợc làm
việc của hai bán cầu não nhƣ ngƣời trƣởng thành. Trong cuộc sống cũng nhƣ trong
nghiên cứu, rất nhiều ngƣời có cùng quan điểm nhƣ trên.
Pháp luật nƣớc ta thì quy định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dƣới 16
tuổi”.
Nhƣ vậy, trẻ em là ngƣời chƣa phát triển đầy đủ về thể chất cũng nhƣ về tâm
sinh lý, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của trẻ bị hạn chế, thiếu những điều
kiện và bản lĩnh tự lập, khả năng kiềm chế chƣa cao, dễ bị kích động lôi kéo vào những
hoạt động phiêu lƣu mạo hiểm. Cuộc sống của các em thiên về tình cảm, dễ xúc động,
dễ hành động theo cảm tính… Điều này đòi hỏi các bậc phụ huynh phải hết sức khéo
léo, am hiểu tâm lý của trẻ nhỏ, uốn nắn nhẹ nhàng sao cho có hiệu quả vì trẻ ở mỗi lứa
tuổi lại có những đặc điểm không giống nhau.
Trẻ em bắt đầu bằng các quan hệ với cha mẹ, sau dần giao tiếp với các thành viên
khác trong gia đình, ban bè, làng xóm, thầy cô…Trẻ tiếp thu nếp sống hàng ngày, thói
quen tập tục của gia đình, làng xóm, địa phƣơng biến thành vốn sống,kỹ năng, động cơ

* Giáo dục đạo đức cho trẻ em
- Đạo đức và sự cần thiết giáo dục đạo đực cho trẻ em

Trích đoạn Đẩy mạnh phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế hộ gia đình, tạo điều kiện Tăng cƣờng mối quan hệ giữa gia đình, nhà trƣờng và xã hội tạo môi trƣờng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status