điều chỉnh chính sách thuế quan đối với hàng công nghiệp theo hiệp định chung về thuế quan và thương mại và tác động của nó đối với doanh nghiệp việt nam sau khi việt nam gia nhập wto - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
 NGÔ ĐỨC CHIẾN ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN ĐỐI
VỚI HÀNG CÔNG NGHIỆP THEO HIỆP ĐỊNH
CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM SAU KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO Chuyên ngành : KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGYỄN THỊ MƠ
WTO đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh chính sách thương mại hàng công
nghiệp của mình. Điều này sẽ có những tác động nhất định đối với các doanh
nghiệp công nghiệp của Việt Nam. Tác động sẽ là tích cực hay không tích
cực? Làm thế nào để phát huy tác động tích cực và giảm thiểu ảnh hưởng 2
của tác động phi tích cực ? Điều này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cụ thể,
đầy đủ hơn về các cam kết của Việt nam trong WTO về cắt giảm thuế quan
đối với hàng công nghiệp, về tác động của việc điều chỉnh chính sách thương
mại hàng công nghiệp để từ đó có các giải pháp phát huy các tác động tích
cực và hạn chế các tác động phi tích cực . Đó là lý do để người viết chọn vấn
đề “Điều chỉnh chính sách thuế quan đối với hàng công nghiệp theo Hiệp
định chung về Thuế quan và Thương mại và tác động của nó đối với các
doanh nghiệp Việt Nam sau khi Việt Nam gia nhập WTO” làm đề tài cho
Luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Ở nước ngoài
Hiện đã có một số tài liệu như Fernandez de Cordobe, Santiago,
SamLaird and Jose Maria Serena 2004 „ Trade Liberalization and
Adjustment Costs „ Trade Analysis Branch, UNs Conference on Trade and
Development nghiên cứu về lĩnh vực điều chỉnh chính sách thương mại.
2.2. Ở Việt nam
Ngoài các bài báo, tạp chí và tập san có bài viết nghiên cứu về chính
sách thương mại, hiện đã có công trình nghiên cứu khoa học, luận văn tiến
sĩ, của tác giả Bùi Thị Lý „ Điều chỉnh chính sách thương mại của Việt nam
khi gia nhập WTO „ 2002.
Cho đến nay chưa có tài liệu nào nghiên cứu về „ Điều chỉnh chính sách
thuế quan đối với hàng công nghiệp theo Hiệp định chung về Thuế quan và
Thương mại và tác động của nó đối với các doanh nghiệp Việt nam sau khi Việt

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn giới hạn chỉ ở điều chỉnh chính sách
thuế quan đối với hàng công nghiệp, không mở rộng sang các sản phẩm 4
khác. Khi lựa chọn sản phẩm công nghiệp để phân tích, luận văn chọn 3 sản
phẩm là hàng dệt may, hàng da giầy và ô tô.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận về duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đổi
mới kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp như phương
pháp phân tích, diễn giải và quy nạp ; phương pháp thống kê, so sánh để khái
quát, hệ thống và khẳng định kết quả nghiên cứu.
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần lời mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn
được chia làm 3 chương:
Chương 1: Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại và sự cần
thiết phải điều chỉnh chính sách thuế quan đối với hàng công nghiệp trong
thương mại quốc tế.
Chương 2: Thực trạng điều chỉnh chính sách thuế quan đối với hàng
công nghiệp của Việt Nam trong thời gian qua.
Chương 3: Tác động của điều chỉnh chính sách thuế quan hàng công
nghiệp đối với doanh nghiệp Việt Nam và một số giải pháp.
1.1.1. Sự ra đời của GATT
Sau chiến tranh Thế giới II, nhằm khôi phục sự phát triển kinh tế và
thương mại, hơn 50 nước trên thế giới đã cùng nhau nỗ lực kiến tạo một tổ 6
chức mới điều chỉnh hoạt động hợp tác kinh tế, đồng thời với sự ra đời của
các định chế tài chính quốc tế lớn như Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ
Tiền tệ Quốc tế (IMF) và gắn bó chặt chẽ với các định chế này. Ban đầu, các
nước dự kiến thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO) với tư cách là
một tổ chức chuyên môn thuộc Liên hiệp quốc. Tháng 2/1946, Hội đồng
Kinh tế - Xã hội Liên hiệp quốc triệu tập một ". Hội nghị Liên hợp quốc về
thương mại và Việc làm" với mục tiêu dự thảo Hiến chương cho Tổ chức
Thương mại Quốc tế. Dự thảo Hiến chương thành lập ITO không những chỉ
điều chỉnh các quy tắc thương mại thế giới mà còn mở rộng ra cả các quy
định về công ăn việc làm, các hành vi hạn chế thương mại, đầu tư quốc tế và
dịch vụ.
Công việc chuẩn bị cho hiến chương này đã được các quốc gia tiến
hành trong năm 1946 và 1947. Từ tháng 4 đến tháng 10/1947, các nước đã
tiến hành một hội nghị chuẩn bị toàn diện. Tại hội nghị này, bên cạnh việc
tiếp tục triển khai các công việc liên quan đến hiến chương thành lập ITO,
các nước còn tiến hành đàm phán để giảm và ràng buộc thuế quan đa
phương. Trong vòng đàm phán đầu tiên, các nước đã đưa ra được 45.000
nhân nhượng thuế quan có ảnh hưởng đến khối lượng thương mại giá trị
khoảng 10 tỷ USD, tức là khoảng 1/5 tổng giá trị thương mại thế giới [ 5 ].
Các nước cũng nhất trí áp dụng ngay lập tức và "tạm thời" một số quy tắc
thương mại trong dự thảo Hiến chương ITO nhằm bảo vệ giá trị của các nhân
nhượng nói trên. Kết quả gồm các quy định thương mại và các nhân nhượng
thuế quan được đưa ra trong Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại
(GATT). Theo dự kiến, Hiệp định GATT sẽ là một hiệp định phụ trợ nằm

1947
Geneva
Cắt giảm Thuế quan
23
1949
Annecy
Cắt giảm Thuế quan
13
1951
Torquay
Cắt giảm Thuế quan
38
1956
Geneva
Cắt giảm Thuế quan
26
1960-1961
Geneva (Vòng Dillon)
Cắt giảm Thuế quan
26
1964-1967
Geneva
(Vòng Kenedy)
Cắt giảm Thuế quan và các biện pháp
chống bán phá giá
62
1973-1979
Geneva
(Vòng Tokyo)
Cắt giảm Thuế quan, các biện pháp phi

1.1.2. Chức năng và nguyên tắc hoạt động
 Chức năng của GATT
GATT có ba chức năng cơ bản:
- Một là điều tiết mọi hoạt động thương mại của các nước tham gia ký kết;
- Hai là diễn đàn thương lượng đa phương lớn nhất để thảo luận việc
từng bước tự do hóa thương mại quốc tế về hàng hóa thông qua cắt giảm thuế
quan; 9
- Ba là tạo ra cơ chế để các nước thông qua GATT có thể giải quyết
các tranh chấp phát sinh trong thương mại quốc tế .
 Nguyên tắc hoạt động: GATT hoạt động dựa trên 5 nguyên tắc
sau:
- Nguyên tắc không phân biệt đối xử : Đây là nguyên tắc quan trọng
nhất, quy định các nước thành viên dành cho nhau những ưu đãi trên cơ sở tối
huệ quốc về thuế xuất nhập khẩu (MFN) và đối xử quốc gia (NT) trong
thương mại. Nguyên tắc này có hai ngoại lệ là :
+ Các nước tham gia các khối mậu dịch tự do hay liên minh thuế quan
khu vực như EU, NAFTA, AFTA có quyền áp dụng với nhau một biểu
thuế, một hàng rào phi quan thuế riêng.
+ Các nước đang phát triển được ưu đãi riêng, được các nước phát triển
dành cho Hệ thống ưu đãi phổ cập (GSP) với thuế suất thấp hơn thuế suất tối
huệ quốc.
- Nguyên tắc có đi có lại : Một nước quyết định mở cửa thị trường của
mình (hạ thuế nhập khẩu, bỏ bớt các quy định đối với hàng nhập) có quyền
đỏi hỏi các thành viên khác có những nhượng bộ tương tự.
- Nguyên tắc công khai và cạnh tranh lành mạnh : Yêu cầu các nước
thành viên không được tăng và từng bước giảm hàng rào phi thuế quan, thừa
nhận quyền đánh thuế chống phá giá và chống trợ cấp xuất khẩu.

các thành viên của GATT đã nhất trí với nội dung chủ yếu là không ngừng
cắt giảm thuế quan hàng hoá nới chung và hàng công nghiệp nói riêng. Trên
thực tế lợi ích của việc cắt giảm thuế quan đối với hàng công nghiệp chủ yếu
rơi vào tay các nước có nền công nghiệp phát triển, các nước thành viên mới
của GATT thường là các nước đang hoặc kém phát triển khi gia nhập phải tuân
thủ những điều kiện này. Vì vậy , họ phải điều chỉnh chính sách thuế quan trong
nước của họ, đây là thách thức rất lớn đối với các nước đang phát triển. 11
1.1.4. Các quy tắc cơ bản của GATT
Như đã trình bày ở trên, mục tiêu chính của GATT là tự do hoá
thương mại trên cơ sở cắt giảm thuế quan, đặc biệt là đối với hàng công
nghiệp. Vì vậy, để đạt được mục tiêu này, GATT đã đưa ra 4 quy tắc pháp lý
để ràng buộc các nước tham gia. Bốn quy tắc đó là :
1.1.4.1. Quy tắc thứ nhất
Quy định về việc giảm và xóa bỏ thuế quan và các rào cản thương mại
khác thông qua đàm phán đa phương. Mức giảm thuế quan được liệt kê trên
cơ sở dòng thuế quan trong Danh mục nhượng bộ của mỗi nước. Mức thuế
trong Danh mục nhượng bộ này còn được gọi là mức thuế ràng buộc. Các
nước không được phép nâng thuế suất vượt qua mức thuế ràng buộc đã ghi
trong Danh mục nhượng bộ.
- Cần cắt giảm dần thuế quan và bị ràng buộc không tăng thêm.
Giảm thuế quan
Quy tắc quan trọng thứ nhất của GATT là phải giảm thuế quan và các
biện pháp khác mà các quốc gia duy trì để bảo hộ nền sản xuất nội địa và nếu
có thể, loại bỏ thông qua đàm phán giữa các quốc gia thành viên, và mức
thuế đã giảm phải được cam kết ràng buộc là sẽ không tăng thêm.
Cam kết không tăng thêm
Cần giải thích thêm khái niệm "cam kết ràng buộc". Mức thuế quan

công nghiệp: hơn 98% hàng nhập khẩu vào các nước phát triển và chuyển
đổi sẽ được nhập khẩu theo mức thuế quan ràng buộc.
Đối với hàng nhập khẩu vào các nước đang phát triển, tỷ trọng hàng
nhập khẩu nhập vào theo thuế suất ràng buộc là khoảng 73%. Tuy nhiên, một
số nước đang phát triển lại ràng buộc mức trần trong một số trường hợp.
Những ràng buộc mức thuế trần như vậy có dạng cam kết không tăng thuế:
Vượt quá mức thuế trần đã nêu cho từng sản phẩm;
Vượt quá mức thuế trần áp dụng cho một ngành nhất định; 13
Vượt quá mức thuế áp dụng cho toàn bộ sản phẩm.
Một nước sau khi đã ràng buộc thuế quan cũng vẫn có thể từ bỏ và
nâng mức thuế lên trên thuế suất ràng buộc. Để thực hiện điều này, họ sẽ tái
đàm phán với các nước mà lúc đó họ đã đàm phán nhượng bộ cũng như với
các nước cung cấp sản phẩm đó nhiều nhất và do vậy được lợi từ việc
nhượng bộ. Trong những cuộc đàm phán này, nước yêu cầu xóa bỏ cam kết
sẽ phải có nhượng bộ thuế quan đền bù cho các sản phẩm mà các nước đối
tác đàm phán có lợi ích thương mại.
1.1.4.2. Quy tắc thứ hai
Trong khi thừa nhận rằng các nước cần thay đổi chính sách thương
mại mở và tự do nhưng đồng thời cũng cho phép các nước bảo hộ nền sản
xuất trong nước tránh sự cạnh tranh của nước ngoài, miễn là sự bảo hộ này
chỉ được thực hiện thông qua thuế quan và chỉ ở mức thấp. Để đạt được điều
đó, quy tắc nghiêm cấm các nước sử dụng các hạn chế định lượng, trừ
những trường hợp đặc biệt. Quy tắc chống hạn chế định lượng đã được củng
cố thêm tại Vòng đàm phán Urugoay.
Trong khi GATT ủng hộ tự do thương mại, hiệp định này cũng thừa
nhận là các quốc gia có thể muốn bảo hộ nền sản xuất trong nước khỏi cạnh
tranh của nước ngoài. Hiệp định này thúc đẩy các nước tiến hành bảo hộ ở

Yêu cầu các nước tiến hành buôn bán mà không được phân biệt đối xử
giữa các nước xuất khẩu hoặc giữa các nước nhập khẩu hàng hóa đó. Quy
tắc được thể hiện trong nguyên tắc tối huệ quốc (MFN). Trường hợp ngoại
lệ đặc biệt của quy tắc này là thỏa thuận ưu đãi khu vực.
Quy tắc cơ bản thứ ba của GATT quy định không được phép phân biệt
đối xử trong thương mại và được thể hiện trong quy chế tối huệ quốc. Theo
cách nói đơn giản, điều này có nghĩa là nếu một quốc gia thành viên cho
phép một nước hưởng ưu đãi thuế quan hay các ưu đãi đối với bất kỳ sản
phẩm nào thì ngay lập tức và vô điều kiện, quốc gia này cũng phải cho phép 15
các nước khác hưởng ưu đãi như thế đối với sản phẩm tương tự. Vì vậy, nếu
nước A, khi đàm phán thương mại với nước B, thỏa thuận giảm thuế nhập
khẩu chè từ 10% xuống 5% thì mức thuế giảm này cũng phải áp dụng cho tất
cả các thành viên còn lạ của WTO. Nghĩa vụ đối xử theo quy chế tối huệ
quốc không chỉ áp dụng đối với nhập khẩu mà còn đối với cả xuất khẩu. Vì
vậy, nếu một nước đánh thuế đối với hàng xuất khẩu sang một nước, thì cũng
phải đánh thuế suất như vậy đối với hàng xuất khẩu sang tất cả các nước.
Hơn thế nữa, nghĩa vụ đối xử theo quy chế tối huệ quốc không chỉ hạn
chế ở thuế quan mà còn áp dụng đối với:
Bất kỳ khoản phí nào liên quan tới nhập khẩu và xuất khẩu;
Phương pháp đánh thuế và các khoản phí nói trên;
Những quy tắc và thủ tục liên quan đến xuất khẩu và nhập khẩu;
Thuế và phí nội địa đối với hàng nhập khẩu và các luật lệ, quy định,
điều kiện ảnh hưởng đến việc bán hàng;
Việc quản lý các hạn chế định lượng (chẳng hạn như phân phối
quota giữa các quốc gia cung cấp hàng trên cơ sở không phân biệt) trong
những trường hợp ngoại lệ được phép áp dụng hạn chế định lượng.
Vì vậy, nguyên tắc này nhấn mạnh rằng, khi thỏa thuận áp dụng quy

của từng nước.
Hiện có hơn 100 hiệp định ưu đãi khu vực đang có hiệu lực, trọng tâm
là thúc đẩy thương mại dựa trên cơ sở khu vực thông qua củng cố và giảm
mạnh thuế quan cũng như tăng cường các nhượng bộ khác trao đổi tại các
hiệp định ưu đãi khu vực và gia tăng trong những năm gần đây. Kết quả là
thương mại khu vực tăng vững chắc và tỷ trọng thương mại khu vực ngày
càng lớn trong thương mại thế giới.
Các hiệp định ưu đãi này đã tạo ra lợi thế cho các ngành công nghiệp
tiếp thị sản phẩm của mình ở các nước khác trong khu vực. Đồng thời, nó 17
cũng có thể đặt các ngành công nghiệp của các nước nằm ngoài khu vực, là
những nơi phải đóng thuế theo quy chế tối huệ quốc, vào một vị thế cạnh
tranh bất lợi. Một trong những thách thức lớn mà các nước thành viên WTO
sẽ gặp phải trong năm tới là làm sao đảm bảo được sự bổ sung giữa nỗ lực
phát triển thương mại khu vực với ý đồ tiếp tục tự do hóa thương mại ở cấp
độ đa phương.
Bên cạnh những hiệp định này, các nước phát triển cũng đã áp dụng
các hiệp định tự do thương mại một chiều, theo đó hàng nhập khẩu từ tất cả
hay một số các nước đang phát triển có thể thâm nhập vào thị trường nước
phát triển mà không phải đóng thuế nhập khẩu. Đây là các hiệp định không
có đi có lại bởi vì các nước đang phát triển được lợi từ việc thâm nhập ưu đãi
mà không phải đối xử tương tự đối với hàng nhập khẩu từ các nước phát
triển. Ví dụ của các hiệp định thương mại ưu đãi một chiều này là:
- Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP), theo đó các nước phát
triển cho phép nhập khẩu trên cơ sở ưu đãi và miền thuế nhập khẩu tất cả các
sản phẩm công nghiệp, và một số nông phẩm chọn lọc của tất cả các nước
đang phát triển.
- Công ước Lomé ( Lomé IV - hết hạn 2.2002 ), theo đó các quốc gia

thuế nhập khẩu tại biên giới, theo mức thuế cao hơn mức thuế đánh vào sản
phẩm nội địa tương tự.
Quy chế tối huệ quốc yêu cầu các thành viên không phân biệt đối xử
giữa các nước. Nguyên tắc đối xử quốc gia bổ sung cho quy chế tối huệ
quốc, quy định rằng, một mặt hàng nhập khẩu sau khi đã đi qua biên giới và
đã trả các khoản thuế quan cũng như các khoản phí khác sẽ không bị đối xử
kém ưu đãi hơn so với các sản phẩm nội địa tương tự. Nói cách khác, nguyên
tắc này yêu cầu các nước thành viên đối xử với các hàng nhập khẩu trên
cùng cơ sở như hàng sản xuất trong nước. Vì vậy các nước không được đánh 19
các khoản thuế nội địa (như thuế doanh thu) với thuế suất cao hơn mức áp
dụng cho các sản phẩm nội địa tương ứng đối với hàng nhập khẩu sau khi nó
đã thanh toán các khoản thuế quan tại biên giới. Tương tự như vậy, các quy
định tác động đến việc mua bán sản phẩm tại thị trường trong nước cũng
không thể áp dụng nghiêm ngặt hơn đối với hàng nhập khẩu.
1.2. YÊU CẦU CỦA GATT ĐỐI VỚI CÁC NƢỚC THÀNH VIÊN TRONG
ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH THUẾ QUAN ĐỐI VỚI HÀNG CÔNG NGHIỆP.
Một trong những mục đích quan trọng của GATT là hỗ trợ các nước
thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua thương mại gia tăng bằng cách xóa bỏ
thuế quan đối với thương mại hàng công nghiệp tại các cuộc đàm phán.
1.2.1. Đặc điểm, vai trò, vị trí hàng công nghiệp trong thƣơng mại quốc tế
Thương mại quốc tế những thập niên gần đây đã có bước tăng trưởng
đột biến cả về chất và lượng. Song với sự tăng trưởng mạnh mẽ này, các khu
vực và quốc gia trên thế giới cũng đã và đang tích cực mở cửa thị trường nội
địa của mình với tư tưởng rằng tự do hóa thương mại là một xu thế khách
quan, là nền tảng của sự phát triển, tự do hóa thương mại đưa các quốc gia
xích lại gần nhau, thân thiện hơn trong quan hệ sản xuất, kinh doanh và chia
sẻ thịnh vượng chung.

được gọi là thuế suất ràng buộc, tức là sau này nước đó sẽ không được phép
tăng thuế suất cao hơn mức đã ghi trong danh mục. Như vậy, nếu đã đưa vào
danh mục thuế quan là mặt hàng đó đã bị ràng buộc, những mặt hàng không
đưua vào danh mục thuế quan thì được tự do tăng thuế suất.
Thực tế, việc giảm thuế quan thường diễn ra từ từ qua một số năm để
các ngành sản xuất trong nước có thể thể thích nghi dần với việc giảm bảo hộ
qua thuế quan. Các mặt hàng công nghiệp thường được giảm thuế quan trong
thời gian 5 năm với mức giảm bằng nhau cho mỗi năm. Như vậy, nếu trước 21
khi đàm phán một mặt hàng công nghiệp có thuế suất 40%, sau đàm phán
thuế suất hạ xuống 15%, còn 25% thì mỗi năm thuế suất sẽ giảm đi 3%.
GATT chỉ yêu cầu các thành viên phải áp dụng thuế xuất khẩu như
nhau đối với các thành viên khác ( đãi ngộ tối huệ quốc ). Trên thực tế, nhiều
nước đã tự nguyện giảm dần hoặc xoá bỏ thuế xuất khẩu để khuyến khích
xuất khẩu.
1.2.3. Điều chỉnh chính sách thuế quan đối với hàng công nghiệp từ phía
các nƣớc tham gia GATT.
1.2.3.1. Các điều chỉnh chung
 Giảm thuế quan
Ngoài việc tạo nên một khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thương mại
quốc tế, hệ thống thương mại đa phương tạo nên một diễn đàn để tiếp tục
đàm phán cho việc tự do hoá thương mại. Việc cắt giảm thuế quan một cách
rõ rệt và các rào cản thương mại là kết quả của những vòng đàm phán nối
tiếp nhau trong 50 năm qua.
Nhờ những cắt giảm thuế quan đã đạt được từ những vòng đàm phán
trước đây, mức thuế quan trung bình của các sản phẩm công nghiệp tại các
nước phát triển giảm từ khoảng 40% vào năm 1948 khi GATT thành lập
xuống khoảng 7% vào cuối Vòng đàm phán Tokyo [ 1 tr 22]. Trong vòng

 Điều chỉnh theo ràng buộc thuế quan
Mọi hàng công nghiệp nhập khẩu vào các nước phát triển đều chịu
suất ràng buộc, tỉ trọng đối với các nước đang phát triển và các nước có nền
kinh tế chuyển đổi là 73% và 98%. Một trong những lợi thế của sự ràng buộc
là đem lại đảm bảo tiếp cận thị trường nước ngoài. Các doanh nghiệp có thể
đặt kế hoạch phát triển thương mại của mình mà không sợ bị tăng thuế nhập
khẩu hay giới hạn tiếp cận thị trường bởi hạn chế số lượng.
Việc điều chỉnh chính sách thuế quan hàng công nghiệp mà cụ thể là
cắt giảm thuế quan qua các Vòng đàm phán của GATT đã mang lại cho 23
thương mại hàng công nghiệp nói riêng và thương mại hàng hoá nói chung
những bước tiến vượt bậc, cụ thể nó làm tăng thu nhập thế giới lên 1% mỗi
năm hay khoảng từ 200 tỷ đến 500 tỷ mỗi năm, kim ngạch thương mại thế
giới tăng trưởng từ 6% tới 20% mỗi năm [ 1 tr 23 ]. Tuy nhiên, trên thực tế,
hầu hết lợi ích mang lại đều do các nước phát triển và một số nước đang phát
triển hưởng lợi chính; các nước phát triển và một số nước đang phát triển cso
trình độ phát triển cao, có nền công nghiệp mạnh do vậy chủ yếu hàng công
nghiệp đều xuất phát từ các quốc gia này .
1.2.3.2. Kinh nghiệm của một số nước trong việc điều chỉnh chính sách
thuế quan hàng công nghiệp trước và sau khi gia nhập WTO.
 Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Từ năm 1990, Trung Quốc đã liên tục cắt giảm thuế quan đánh vào
hàng công nghiệp nhập khẩu. Tháng 11 năm 1995, tại Nhật Bản, trong Hội
nghị các nhà lãnh đạo APEC, Trung Quốc tuyên bố giảm mức thuế trung
bình từ 36% xuống 24%. Tiếp đến tháng 10/1997, Trung Quốc giảm mức
thuế trung bình xuống còn 17%. Năm 1998, Trung Quốc chuẩn bị một kế
hoạch chi tiết về việc tiến hành giảm bình quân khoảng 30% thuế cho 7000
mặt hàng nhằm đưa mức thuế trung bình về hàng công nghiệp xuống còn

hoạch cắt giảm mức thuế trung bình đối với hàng công nghiệp là 5,2% vào
năm cuối cùng của thời gian chuyển tiếp, sau đó tiếp tục hạ xuống chỉ còn
4,34%. Đây là mức thuế nhập khẩu khá thấp, chắc chắn ngành công nghiệp
nội địa của Đài Loan sẽ gặp phải những áp lực cạnh tranh lớn với hàng nhập
khẩu từ bên ngoài.
 Kinh nghiệm của Băng la det
Băng-la-đet đã thực hiện việc cắt giảm thuế quan một cách mạnh mẽ.
Ngay từ những năm đầu 1990, các hạn chế định lượng của Băng-la-đet đã
được cắt giảm mạnh mẽ đến mức khó có thể cắt giảm hơn nữa. Thực vậy, số

Trích đoạn Điều chỉnh chính sách thuế quan hàng công nghiệp làm tăng khả năng dự báo về tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Những tác động phi tích cực Tiếp tục quán triệt quan điểm điều chỉnh chính sách thuế quan hàng công nghiệp Xác định đúng phƣơng hƣớng tiếp tục điều chỉnh chính sách thuế quan trong thời gian tới. Nhóm giải pháp cụ thể về phía Nhà nƣớc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status