PHẦN I : PHẦN MỞ ĐẦU
Đồng tiền là một khái niệm kinh tế phức tạp , tỷ giá hối đoái với
tư cách là quan hệ trao đổi giữa hai đồng tiền lại càng phức tạp hơn .
Đây vốn dĩ là một thế giới bí ẩn , đầy bất trắc , sự vận động của chúng
thường vượt ra ngoài dự đoán và khả năng chế ngự của nhà nước .
Do đó tại bất kì một quốc gia nào tỷ giá được xem là một biến
số kinh tế vĩ mô có vai trò cực kì quan trọng . Nó rất nhạy cảm và sự
thay đổi của nó sẽ gây ra những tác động phức tạp , ảnh hưởng đến
toàn bộ nền kinh tế quốc dân và có khi tới cả chế độ chính trị . Để lấy
ví dụ , chúng ta chắc vẫn chưa thể quên sự khủng hoảng của đồng Pêsô
(Achentina) năm 2001 , gây ra cú sốc trầm trọng tới nền kinh tế của
Achentina .Rồi trong lịch sử có thể kể đến sự lên giá đột biến của đồng
USD năm 1996 …
Tất cả những cuộc khủng hoảng đó đều có nguyên nhân cơ bản
sâu xa là việc lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái chưa thật sự
hợp lý của chính phủ các quốc gia trong từng thời kỳ .
Là một nước đang đi những bước đi đầu tiên cả trên phương
diện lý luận và thực tiễn , hơn bao giờ hết việc nghiên cứu tỷ giá hối
đoái và cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm xem xét tác động của nó
tới các doanh nghiệp như thế nào trở nên cấp bách . Nghiên cứu đề tài
“ Chính sách tỷ giá và tác động của nó tới hoạt động của các
doanh nghiệp ở Việt Nam’’ cũng không nằm ngoài mục đích đó .
Đề án được cấu trúc thành hai chương lớn , trong đó đề cập tới
những vấn đề sau :
- Chương I : Tổng quan về tỷ giá hối đoái và chính sách điều
hành tỷ giá hối đoái
- Chương II : Việt Nam với tiến trình cải cách chế độ tỷ giá hối đoái
1
Qua đề tài này chúng tôi hy vọng làm sáng tỏ hơn một số vấn đề
về tỷ giá hối đoái với mục đích không gì khác là giúp chúng ta hiểu rõ
hơn về cơ chế tỷ giá hối đoái của Việt Nam và định hướng điều chỉnh
cầu tự nó tuyệt nhiên không giải thích được cái gì , vấn đề là ở chỗ
những yếu tố nào đứng sau nó . Về thực chất TGHĐ là tương quan
giữa nội tệ và ngoại tệ đưỡcác định bởi sức mua của chúng và hangf
3
loạt các yếu tố khác như giai đoạn phát triển của xã hội , tính chất của
thị trường v.v…
+ Nếu như các nhà kinh tế Macxit đặt trọng số của TGHĐ
vào sức mua của đồng tiền , thì các nhà kinh tế thị trường lại đặt trọng
số cho cac yếu tố khác. Theo lý thuyết tổng số sức mua (Ricacdo)
tương quan sức mua được xác định bởi số lượng tiền tệ trong lưu thông
của các nước tương ứng .Keynes bổ sung yếu tố tâm lý và sự vận động
của vốn … Song về mặt cơ bản tư tưởng chủ yếu vẫn không thay đổi
cho tới hôm nay.A.Samuelson khẳng định , bên cạnh các điều kiện
khác không thay đổi , thì sự thay đổi quan hệ tỷ giá tỷ lệ với sự thay
đổi tương quan giữa giá cả trong nước và giá cả nước ngoài.
* Do tính chất phức tạp của tỷ giá hối đoái , cùng với quá trình phát
triển của nó qua các giai đoạn đã xuất hiện nhiều lý thuyết về nó :
+Lý thuyết ngoại tệ được điều chỉnh xuất hiện trong thời kì khủng
hoảng 1929 –1932 .Lý thuyết này dựa trên những lý luận của Keynes ,
đề cao vai trò điều chỉnh của nhà nước , cho rằng có thể điều chỉnh sức
mua của tiền tệ bằng điều chỉnh thông số vàng của tiền tệ , Keynes bảo
vệ hệ số co giảm áp dụng với tiền giấy bởi vàng đã lùi vào quá khứ .
Ông cho rằng , có thể giảm giá trị đồng nội tệ để đạt các mục tiêu tác
động vào giá cả , xuất khẩu , sản xuất , việc làm và cạnh tranh với bên
ngoài .
+ Lý thuyết ngoại tệ chủ chốt , chứng minh sự cần thiết và tất
yếu hình thành các nhóm ngoại tệ chủ yếu , ngoại tệ mạnh và ngoại tệ
yếu và sự cần thiết định hướng chinýh sách ngoại hối của tất cả các
nước TBCN vào USD .
Ngoài ra còn hàng loạt lý thuyết mô hình tiếp cận vấn đề tỷ giá như :
bố phá giá đồng USD vào tháng 12/ 1971 ở mức 7,89% nhằm đối phó
với tình hình sức mua của USD thường xuyên gây khó khăn cho sản
xuất đầu tư , nhờ đó Mỹ đã cải thiện được cán cân ngoại thương .
Phá giá không chỉ bao gồm những nội dung kinh tế đơn thuần
mà bao gồm những nội dung chính trị – xã hội .Vì vậy phá giá đồng
tiền là một bài toán không phải lúc nào cũng vận dụng được và không
phải ai cũng có thể dùng bài toán này để giải quyết những vấn đề kinh
tế gay cấn của đất nước .
Cũng cần phải nhấn mạnh là chúng ta thường hay có sự nhầm
lẫn giữa khái niệm giảm giá đồng tiền và khái niệm phá giá đồng tiền
+ Bên cạnh việc giảm giá sức mua đồng tiền bản tệ là việc nâng giá
sức mua của đồng tiền bản tệ .Việc nâng giá sức mua của bản tệ với
ngoại tệ thường xảy ra trong các trường hợp sau :
-Giá hàng hoá và dịch vụ trong xuất khẩu được xác định thấp so
với giá trên thị trường thế giới .
- Hạn chế xuất khẩu do sức ép của các nước bạn hàng nhằm tạo
thế cân bằng trong thương mại quốc tế .
-Tăng khả năng nhập khẩu và kiềm chế lạm phát
Việc nâng giá đồng bản tệ cũng có thể xuất phát từ tình trạng phải
tiếp nhận các ngoại tệ đang bị mất giá và trở thành một công cụ hữu
hiệu để ngăn ngừa các ngoại tệ đang bị mất giá chạy vào nước
mình .
2\ Các nhân tố tác dộng vào quá trình hình thành tỷ giá .
Trên thực tế , sự hình thành quan hệ tỷ giá là quá trình tác động
của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan … Tuy có những mâu
thuẫn trong phương pháp nghiên cứu , tiếp cận và đánh giá vai trò ,
tính chất , phương thức , cường độ ,tốc độ , tác động của các yếu tố
6
cụ thể song nhìn chung , giữa các nhà kinh tế , các lý thuyết hiện
đại vẫn có sự thống nhất trong việc thừa nhận các yếu tố quan trọng
lại giữa các quốc gia trong bối cảnh xu hướng quốc tế hoá ,toàn cầu
hoá đời sống kinh tế ngày càng gia tăng và sâu sắc , nhất là trong lĩnh
vực tài chính tiền tệ . Vì vậy , TGHĐ ở một thời điểm cụ thể chính là
véctơ tổng hợp của nhiều véctơ bộ phận khác .
3\ Phân loại chế độ tỷ giá .
Nhìn lại quá trình phát triển của hệ thống tỷ giá cho thấy có hai
loại chế độ tỷ giá cơ banr như sau :
- Chế độ cố định tỷ giá : những nước áp dụng chế độ tỷ giá này
thường gắn đồng tiền nước mình vào một đồng tiền quốc tế
chủ chốt hoặc vào một rổ các loại đồng tiền ( có thể là rổ đồng
tiền giao dịch chính hoặc hỗn hợp các đồng tiền tiêu chuẩn
như đồng tiền Châu Âu hay quyền rút vốn đặc biệt ).
- Chế độ thả nổi tỷ giá : trong chế độ này , tỷ giá thường có sự
điều chỉnh và linh hoạt . Nếu tỷ giá hoàn toàn do thị trường và
các lực lượng thị trường quyết định , thì nó là dạng thả nổi tự
do . Còn nếu tỷ giá thường xuyên được điều chỉnh trên cơ sở
đánh giá diễn biến của các biến số như tinhf hình dự trữ ,
thanh toán thì đó lad dạng thả nổi có quản lý .
Hiện nay , trên thế giới đã và đang tồn tại nhiều loại chế độ TGHĐ
biến tướng từ hai loại hình thức cơ bản này .
8
Trong thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng , việc
lựa chọn một chế độ ngoại hối phù hợp với bối cảnh quốc tế , điều kiện
cụ thể từng nước và đáp ứng yêu cầu điều chỉnh kinh tế vĩ mô , nhất là
đối với các nước đang thực hiện chuyển đổi cơ chế thực sự là vấn đề
nan giải .
Có nhiếu cơ sở để dùng làm căn cứ lựa chọn chế độ tỷ giá , mà
một trong số đó có cai trò cực kì quan trọng mang tính chất quyết định
đó là : sự can thiệp của nhà nước để điều chỉnh TGHĐ dựa vào những
công cụ gì ?
- Thứ hai trực tiếp gây ra biến đọng mức lãi suất trong nước
2\Mục đích và khả năng can thiệp của ngân hàng trung ương.
Mục đích can thiệp của NHTƯ là không hoàn toàn giống
nhau , điều nay phụ thuộc vào tình hình , ý đồ , chiến lược cửa mỗi
nước . Có những quốc gia mục đích can thiệp của NHTƯ là nhằm duy
trì một cách đúng đắn các quan hệ thị trường có tổ chức , không đối
phó với các xu hướng bản năng của thị trường . Do đó sự can thiệp là
nhằm duy trì một cách hợp lý các quan hệ thị trường có tổ chức mà
khắc phục những biến động dữ dội của tỷ giá .
Có thể nhận thấy ngay rằng , ngày nay các nước công
nghiệp hoá đang hoạt động trong một cơ chế TGHĐ được thả nổi và
được điều tiết – một hệ thống mà trong đó chính phủ có thể cố gắng
điều hoà sự vận động của TGHĐ mà khong hề giữ chúng một cách
cứng nhắc .
10
Để minh hoạ , xin nêu trường hợp cảu nước Đức 1974 : về
nguyên tắc ngân hàng liên bang chỉ can thiẹp nhằm duy trie một cách
đúng đắn các quan hệ thị trường có tổ chức . Hơn nữa , cần phải tìm
cách tạo thế ổn định tỷ giá danh nghĩa với USĐ với sau những biến
động mạnh trong thời gian dài.
Trong khi đó , một số nước lại đưa ra mục tiêu tạo ra cho được
tỷ giá hối đoái phù hợp , đáp ứng việc thực hiện các mục tiêu phát triển
kinh tế đất nước và giảm đến mức thấp nhất rủi ro thiệt hại trong lĩnh
vực tỷ giá có thể gây ra .
Nhà nước và thị trường là hai lực lượng chủ yếu quyết định sự
vận động của TGHĐ . Bên cạnh việc thừa nhận vai trò quan trọng của
cung – cầu đối với tỷ giá hối đoái , cũng phải thấy khả năng chi phối
rất lứon của ngân hàng nàh nước , khả năng này bắt nguồn từ tính độc
quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý ngoại tệ . tuy vậy nếu nhà
nước can thiệp một cách thô bạo vào thị trường thì lại có hại , ngược
ngoại tệ quyết định . quan hệ này bị chi phối chủ yếu bởi tình hình của
cán cân thanh toán . Điều này có nghĩa là các yếu tố để hình thành lãi
suất và tỷ giá không giống nhau , do vậy mà biến động cuả lãi suất
không nhất thiết kéo theo sự biến động của tỷ giá . Vậy cho nên trong
thời kì khủng hoảng USD thời kì 1971 – 1973 mặc dù lãi suất trên thị
trường NewYork cao gấp rưỡi thị trường London nhưng vốn vay ngắn
hạn lại được chuyển tới Tây Đức và Nhật Bản .
+Các nghiệp vụ thị trường hối đoái .
12
Đây là biên pháp trực tiếp tác động vào TGHĐ . Thông qua các
nghiệp vụ mua bán ngoại tệ , điều chỉnh tỷ giá hối đoái là một trong
những biện pháp quan trọng của nhà nước để giữ vững sự ổn định cuat
sức mua đồng tiền quốc gia .
Tuỳ từng quốc gia mà việc lựa chọn quy mô là khác nhau , việc mua
bán ngoại tệ được thực hiện trên nguyên tắc diễn biến giá cả ngoại tệ
trên thị trường và ý đồ can thiệp mang tính chất chủ quan của nhà nước
. Việc lựa chọn các thời điểm cần mua , cần bán ngoại tệ trên thị trường
với tỷ giá nào để đạt được mục tiêu điều chỉnh là những hoạt động có ý
nghĩa quyết định .
Đẻ nắm được một cách đầy đủ tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị
trường , ngày nay , nhiều nước trên thế giới đã và đang tổ chức các thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng – là nơi tốt nhất để khai thác các thông
tin cần thiết cho nghiệp vụ thị trường ngoại hối .
Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp này , chính phủ thường gặp
phải những phản ứng trái ngược nhau từ phía các doanh nghiệp cũng
như các taàng lớp dân cư khác nhau trong xã hội bắt nguồn từ lợi ích
kinh tế . Mâu thuẫn này thường xảy ra giữa các doanh nghiệp nhập
khẩu và xuất khẩu , giữa những người đang nắm trong tay số lượng lớn
ngoại tệ với những người trong túi chỉ có nội tệ . Giải pháp là mỗi quốc
gia phải có một lượng dự trữ ngoại tệ dư sức để can thiệp vào thị
Nhìn lại quá trình phát triển của hệ thống tỷ giá cho thấy có hai
loại chế độ tỷ giá cơ bản là chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả
nổi bao gồm thả nổi tự do , và thả nổi có quản lý .
14
Khó có câu trả lời đúng , dứt khoát về việc một nước nhỏ sẽ có lợi
khi áp dụng tỷ giá hối đoái cố định hay linh hoạt . Nói chung sự quản
lý tối ưu TGHĐ phụ thuộc vào các mục tiêu kinh tế của các nàh hoạch
định chính sách , vào nguồn gốc của các cơn sốc đối với nền kinh tế và
vào đặc trưng cơ cấu của nền kinh tế đang xét .
Một kết quả quan trọng của nghiên cứu lý thuyết là nói chung tỷ giá
hối đoái cố định cực đoan lẫn tỷ giá hối đoái hoàn toàn linh hoạt đều
không phải là tối ưu đối với ổn định kinh tế vĩ mô . Thật vậy , một mức
độ tương đối của linh hoạt lại nhiều khả năng thành công hơn trong
việc ổn định nền kinh tế , khi cần phản ứng lại với các cú sốc ngẫu
nhiên . Chính vì vậy nó đã trở thành cơ chế tỷ giá phổ biến nhất ở các
nước đang phát triển . Câu hỏi đặt ra là chấp nhận tới mức độ nào của
sự linh hoạt trong các trường hợp cụ thể .
* Như vậy là loại cơn sốc mà nền kinh tế thị trường phải đối phó trở
thành vấn đề cốt lõi cần xem xét khi định liệu tỷ giá hối đoái cố định
hay điều chỉnh .
- Có quan điểm cho rằng TGHĐ linh hoạt sẽ có tác dụng hơn về
khả năng che chở của điều chỉnh tỷ giá hối đoái trước các cơn
sốc bên ngoài , tức là đứng trước biến động của mặt bằng giá
quốc tế , các giá cả nội địa có thể được ổn định bằng sự điều
chỉnh thích đáng .
Như vậy là khi có cơn sốc từ bên ngoài thì sự linh hoạt trong quản lý
TGHĐ được coi là phù hợp . Còn đối với các cơn sốc nội địa việc áp
dụng chế độ tỷ giá vào sẽ phụ thuộc vào tính chất của cơn sốc,đó là
cơn sốc tiền tệ hay cơn sốc thực tế (xuất phát từ thị trường hàng hoá ).
Khi cơn sốc là tiền tệ thì quan điểm xưa nay là duy trì tỷ giá cố