TÁC ĐỘNG CỦA THỂ CHẾ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH
ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
Ở VIỆT NAM
TS. Phạm Thế Anh92ϒ
CN. Nguyễn Đức Hùng93¥
Tóm tắt
Nghiên cứu này cố gắng phân tích tác động của thể chế môi trường
kinh doanh và quản chế ở cấp độ doanh nghiệp đến năng suất và kết
quả hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn 20062012. Kết quả hồi quy dữ liệu mảng với hiệu ứng cố định cho thấy, bất
kỳ sự cải thiện nào trong các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh đều
có thể làm tăng kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong
đó, chỉ tiêu về đào tạo lao động và chỉ tiêu chất lượng pháp lý và bảo
vệ hợp đồng có ảnh hưởng mạnh nhất. Phát hiện này là sự khẳng định
về sự cần thiết thực thi các chính sách liên quan đến việc cải thiện chất
lượng môi trường kinh doanh đối với việc nâng cao năng suất và hiệu
quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian tới.
Từ khóa: Thể chế môi trường kinh doanh, kết quả hoạt động
của doanh nghiệp
1. Giới thiệu
Cải cách kinh tế sâu rộng mang lại từ công cuộc đổi mới đã giúp
Việt Nam đạt được những thành quả kinh tế ấn tượng kể từ những năm
đầu 1990 của thế kỉ trước. Tuy nhiên, quá trình cải cách thể chế và cải
thiện môi trường kinh doanh đã bị chậm lại đáng kể trong những năm
92ϒKhoa
Kinh tế học, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Email:
viên cao học, Chương trình Kinh tế Phát triển Việt Nam Hà Lan, Trường Đại học Kinh
tế Quốc dân.
93¥Học
94Vấn đề này đã được đề cập bởi nhánh kinh tế học về chi phí giao dịch (Transaction Cost
Economics, TCE). Về mặt thực nghiệm, các nghiên cứu gần đây tập trung vào việc xem xét
ảnh hưởng của TC đến hành vi và sự tiến hóa của các tổ chức kinh tế. Trong số đó, có thể kể tới
Sung-hee (2001) về ảnh hưởng của TC đến sự tiến hóa của các Chaebols ở Hàn Quốc. Tại Việt
Nam, cũng đã xuất hiện một vài nghiên cứu, ví dụ như Phuc và Crase (2011) ứng dụng khung
lý thuyết TCE để xem xét hiệu quả của cải cách DNNN ở Việt Nam.
434
với năng suất và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp. Trong khi đó,
nhóm thể chế môi trường kinh doanh lại thường không được xem xét
một cách trực tiếp và cụ thể, có thể là do hạn chế về mặt số liệu.
Ở Việt Nam mặc dù đã có một vài nghiên cứu đề cập đến ảnh
hưởng của các nhân tố thể chế đến năng suất và kết quả hoạt động của
các doanh nghiệp, ví dụ như Ngu (2003), Minh (2005), Loan và Hùng
(2009), Lý (2011), Nghi và Nam (2011). Tuy nhiên, hầu hết các nghiên
cứu này cũng chỉ tập trung vào đặc điểm và quản trị của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu thường thực hiện với quy mô mẫu nhỏ
(nghiên cứu từng tỉnh, thành phố), do đó không mang tính đại diện
cho toàn nền kinh tế. Ngoài ra, phương pháp hồi quy với dữ liệu chéo
thường được sử dụng trong các nghiên cứu này cũng có nhiều vấn đề.
Ví dụ, nó không kiểm soát được những hiệu ứng cố định do vậy kết quả
có thể bị sai lệch. Nhìn chung, chúng ta hiện nay còn thiếu các nghiên
cứu, cả lý thuyết lẫn thực nghiệm, về vai trò của thế chế môi trường
kinh doanh đến kết quả hoạt động cũng như năng suất của các doanh
nghiệp. Những nghiên cứu này, nếu có, sẽ là cơ sở quan trọng cho việc
đưa ra những thay đổi chính sách quan trọng trong việc cải thiện môi
trường kinh doanh và nâng cao năng suất của tổng thể nền kinh tế.
Nghiên cứu này sẽ cố gắng trả lời câu hỏi liệu thể chế môi trường
trong đó β1 và β2 lần lượt được gọi là độ co dãn của sản lượng đầu
ra với yếu tố đầu vào vốn và lao động; vi là sai số ngẫu nhiên trong mô
hình, được giả định có trung bình bằng không và phương sai cố định.
Ở đây, Ai được giả định phụ thuộc vào nhóm các nhân tố phản ánh
môi trường kinh doanh và đặc điểm của doanh nghiệp hoặc năng lực
của chủ doanh nghiệp. Trên thực tế, năng suất nhân tố phụ thuộc đáng
kể vào các yếu tố thể chế ở cả cấp độ vi mô lẫn vĩ mô, đặc biệt nó bị ảnh
hưởng nhiều bởi các yếu tố môi trường kinh doanh. Trong khu vực có
thể chế tốt và môi trường kinh doanh minh bạch, các doanh nghiệp sẽ
có xu hướng cạnh tranh lành mạnh, sáng tạo, đổi mới và theo đuổi lợi
nhuận thay vì tìm kiếm đặc quyền, đặc lợi. Điều này sẽ có tác động tích
cực đến năng suất nhân tố và hiệu quả kỹ thuật, và ngược lại. Các nhân
tố ảnh hưởng đến năng suất nhân tố của doanh nghiệp có thể được mô
tả theo phương trình sau:
lnAi = β0 + κ Cji’ + φ Zji’ +Σj αji BEji + ei,
(3)
trong đó, BEji là véc-tơ các biến số đại diện cho tác động của chỉ
tiêu môi trường kinh doanh thứ j đến kết quả hoạt động kinh doanh,
năng suất, và hiệu quả của doanh nghiệp I; Cji là véc-tơ các biến số kiểm
soát ảnh hưởng của các nhân tố quản chế và đặc điểm của doanh nghiệp
(ví dụ, loại hình sở hữu, quy mô doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh,
số năm hoạt động…); véc-tơ Zi kiểm soát ảnh hưởng của các nhân tố
436
khác như vùng kinh tế; cuối cùng, ei là sai số đo lường và được xem như
là tác động của các cú sốc năng suất ngẫu nhiên có phân phối độc lập
giai đoạn trước và sau khi khủng hoảng kinh tế thế giới xảy ra vào năm
2008. Điều này cho phép so sánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
437
và xem xét ảnh hưởng khác biệt của thể chế đến kết quả hoạt động kinh
doanh cũng như năng suất của doanh nghiệp giữa hai giai đoạn.
Trong khi đó, dữ liệu về thể chế môi trường kinh doanh được khai
thác từ bộ dữ liệu đánh giá Năng lực Cạnh tranh cấp Tỉnh (PCI) kể từ
năm 2006. PCI bao gồm nhiều chỉ tiêu đại diện tốt nhất cho môi trường
kinh doanh hay thể chế hỗ trợ thị trường. Bộ dữ liệu mảng hoàn chỉnh
về kết quả hoạt động của doanh nghiệp và thể chế môi trường kinh
doanh được thiết lập bằng cách khớp nối giữa 2 bộ số liệu này.
Lựa chọn và xử lý các biến
Trước tiên, biến phụ thuộc phản ánh kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp i tại thời điểm t (Yi,t) được đại diện bởi
tổng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ. Hai yếu tố đầu vào sản
xuất quan trọng là vốn (Ki,t) và lao động (Li,t) được đại diện bởi tổng
tài sản cố định và tổng số lao động mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh. Cả ba biến số này được trích xuất từ dữ liệu
GES sơ cấp của GSO trong giai đoạn 2006-2012 và được log hóa trước
khi đưa vào các mô hình hồi quy.
Các biến số độc lập kiểm soát ảnh hưởng của các nhân tố quản
chế và đặc điểm của doanh nghiệp (Xji) cũng được chiết xuất từ dữ liệu
GES, bao gồm: loại hình sở hữu, quy mô doanh nghiệp, ngành nghề
kinh doanh, số năm hoạt động, đòn bẩy tài chính, và sự tinh gọn của bộ
máy quản lý doanh nghiệp. Trong đó, ba biến số đầu tiên được đại diện
bởi các biến giả (dummy), và được gán giá trị bằng 1 nếu thuộc đối
tượng nghiên cứu và bằng 0 trong các trường hợp khác. Ngành nghề
kinh doanh được phân loại theo phân ngành cấp 5 trong VSIC-2007
bao trùm 3 khu vực doanh nghiệp: (i) DNNN: 6.110 quan sát, chiếm
2,1%; (ii) doanh nghiệp KVTN: 269.539 quan sát, chiếm 90,6%; và (iii)
khu vực FDI: 21.783 quan sát, chiếm 7,3%.
95Trong
cơ sở dữ liệu GES, thông tin nguồn về hai biến này chỉ có thể trích xuất được từ năm
2009 trở đi. Do đó, việc tính toán biến này và đưa vào mô hình hồi quy sẽ làm quy mô mẫu
tổng gộp giảm xuống đáng kể. Panel còn lại chỉ gồm 4 năm từ 2009-2012 (giai đoạn hậu khủng
hoảng). Kết quả ước lượng với mẫu này ko được đề cập trong báo cáo (xem chú thích 6).
96Chỉ số PCI được xây dựng theo quy trình 3 bước: 1) thu thập dữ liệu điều tra doanh nghiệp
bằng phiếu hỏi và dữ liệu từ các nguồn đã công bố, 2) tính toán 10 chỉ số thành phần và chuẩn
hóa kết quả theo thang điểm 10, và 3) tính trọng số cho chỉ số PCI trung bình của 10 chỉ số
thành phần trên thang điểm 100.
439
Thống kê mô tả cho thấy mỗi doanh nghiệp trung bình đã hoạt
động 10 năm trên thị trường. Trong đó, một nửa (50%) số doanh nghiệp
có kinh nghiệm 10 năm trên thị trường; 25% số doanh nghiệp hoạt động
dưới 10 năm và; 25% số doanh nghiệp hoạt động trên 10 năm. Phần lớn
doanh nghiệp hoạt động trong các ngành xây dựng, và bán lẻ. Đa phần
doanh nghiệp trong mẫu có quy mô vừa và nhỏ, doanh nghiệp sử dụng
dưới 10 lao động chiếm khoảng 25%; 50% số doanh nghiệp có quy mô
từ 7 đến 40 lao động; và chỉ có 25% số doanh nghiệp còn lại có quy mô
41 lao động trở lên.
1.2 Một số kết quả ước lượng chính97
Kết quả ước lượng cho thấy hệ số co dãn của doanh thu đối với lao
động ở hều hết các năm đều lớn hơn đối với vốn trung bình khoảng 2-3
lần. Hệ số co dãn của hai nhân tố đầu vào này có xu hướng tăng đáng kể
2006 đến 2012 được sử dụng phục vụ cho mục đích phân tích và được
hiển thị trong bảng dưới đây.
441
Bảng 1. Kết quả ước lượng tác động của thể chế đến
kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
BIẾN SỐ
lnL
lnK
Kinh nghiệm
Kinh nghiệm^2
Khu vực DNNN
Khu vực FDI
Ngành công nghiệp, sản xuất
Ngành khai khoáng
Ngành xây dựng
Ngành bán lẻ
Ngành vận tải, kho vận
Dịch vụ, lưu trú và ăn uống
Thông tin, truyền thông
Tài chính, ngân hàng
442
DỮ LIỆU MẢNG (2006-2012):
MÔ HÌNH HIỆU ỨNG CỐ ĐỊNH
Hàm sản xuất Cobb-Douglas
(0,00)
(0,00)
0,12***
0,13***
0,15***
(0,02)
(0,02)
(0,02)
0,49***
0,48***
0,44***
(0,01)
(0,01)
(0,01)
0,35***
0,32***
0,29***
(0,02)
(0,02)
(0,02)
-0,14*** -0,12*** -0,11***
(0,03)
(0,03)
(0,03)
0,16***
0,21***
0,21***
(0,02)
(0,02)
(0,02)
lnY
0,79***
(0,00)
0,26***
(0,00)
0,04***
(0,00)
-0,00***
(0,00)
0,14***
(0,02)
0,42***
(0,01)
0,26***
(0,02)
-0,08***
(0,03)
0,23***
(0,02)
1,90***
(0,02)
0,29***
(0,02)
-0,67***
(0,02)
0,31***
(0,03)
0,76***
(0,02)
0,01
(0,03)
0,14***
(0,02)
-0,23***
(0,02)
-0,12***
(0,02)
0,14***
(0,01)
-0,08***
(0,01)
-0,20***
(0,02)
Gia nhập thị trường
Tiếp cận và ổn định sd đất đai
Minh bạch và tiếp cận thông tin
Chi phí thời gian
Chi phí phi chính thức
Năng động, tiên phong lãnh đạo
Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
Đào tạo lao động
Pháp lý và bảo vệ hợp đồng
Chỉ số PCI
-0,03
(0,03)
0,12***
0,04***
(0,00)
lnL^2
443
lnK^2
lnL*lnK
Hằng số
Quan sát
R2 hiệu chỉnh
Số năm
5,19***
(0,01)
3,50***
(0,03)
3,37***
(0,03)
1,36***
(0,05)
0,32***
(0,07)
Véc-tơ biến số đại diện cho đặc điểm và năng lực quản chế doanh
nghiệp có tác động mạnh đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp càng trải nghiệm thì càng có mức doanh thu cao
nhưng với mức gia tăng biên giảm dần. Gia tăng 1 năm kinh nghiệm
trung bình có thể cải thiện khoảng 4 phần trăm doanh thu. Ngoài ra, loại
hình sở hữu FDI mang lại kết quả hoạt động tốt hơn so với loại hình sở
hữu DNNN và KVTN. Bên cạnh đó, xét theo ngành nghề kinh doanh,
kết quả ước lượng cho thấy, nếu lấy ngành nông, lâm và ngư nghiệp làm
chuẩn so sánh thì ngành bán lẻ có được mức doanh thu cao nhất, tiếp
theo đó là ngành tài chính ngân hàng và ngành công nghiệp sản xuất,
444
chế biến. Ngược lại, một doanh nghiệp sẽ có doanh thu thấp hơn nếu
nó hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực dịch vụ, lưu trú và ăn uống,
khai khoáng, hay các ngành nghề khác.
Quan trọng hơn, kết quả hồi quy cho thấy các yếu tố thể chế môi
trường kinh doanh có vai trò quan trọng đối với kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tất cả các hệ số ước lượng đại
diện cho các yếu tố thể chế đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%. Hầu hết
các yếu tố đều có tác động tích cực, ngoại trừ yếu tố chi phí thời gian.
Điều này hàm ý rằng bất kỳ một sự cải thiện nào trong chất lượng môi
trường kinh doanh đều có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến kết quả
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong số đó, chỉ tiêu về đào
tạo lao động và chỉ tiêu chất lượng pháp lý và bảo vệ hợp đồng có ảnh
hưởng tích cực và mạnh nhất đến doanh thu của doanh nghiệp. Chỉ tiêu
đào tạo lao động đo lường các nỗ lực của địa phương trong việc thúc
đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công
nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm. Trong
khi đó, chỉ tiêu thiết chế pháp lý đo lường lòng tin của doanh nghiệp tư
lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành
chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải
tạm dừng kinh doanh để các cơ quan nhà nước của địa phương thực
hiện việc thanh tra kiểm tra, lại mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê.
Điều này có thể là do yếu tố nội sinh mà mô hình hiệu ứng cố định một
chiều không kiểm soát được. Tức là, chiều ảnh hưởng ở đây có thể là
từ quy mô doanh thu đến chi phí thời gian, chứ không phải ngược lại.
Những doanh nghiệp có quy mô lớn thường phải bỏ ra nhiều thời gian
hơn để thực hiện các quy định của nhà nước, ví dụ như các thủ tục về
thuế, kế toán, kiểm toán, v.v... Trong thực tế, các doanh nghiệp lớn
thường phải chi phí nhiều thời gian hơn để thực hiện đầy đủ các quy
định của nhà nước.
3. Kết luận
Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng phương pháp tiếp cận hàm
sản xuất với dữ liệu mảng được thiết lập từ bộ số liệu GES và PCI giai
đoạn 2006-2012 để xem xét ảnh hưởng của thể chế môi trường kinh
doanh địa phương và quản chế ở cấp độ doanh nghiệp đến năng suất và
kết quả hoạt động của các doanh nghiệp. Bằng chứng thực nghiệm cho
446
thấy rằng các yếu tố thể chế môi trường kinh doanh có tác động mạnh
đến năng suất và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Tất cả các hệ số ước lượng đại diện cho các yếu tố thể chế đều
có ý nghĩa thống kê ở mức 1% và mang dấu dương, ngoại trừ yếu tố chi
phí thời gian. Điều này hàm ý, bất kỳ sự cải thiện nào trong các yếu tố
thuộc môi trường kinh doanh đều có thể làm tăng kết quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Trong đó, chỉ tiêu về đào tạo lao động và chỉ
tiêu chất lượng pháp lý và bảo vệ hợp đồng có ảnh hưởng mạnh nhất.
Những phát hiện trong bài viết gợi ý về tầm quan trọng của các