TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ toàn cầu hóa kinh tế và tác động của toàn cầu hóa kinh tế đến việt nam - Pdf 48

1
Toàn cầu hóa kinh tế và tác động của toàn cầu hóa kinh tế đến Việt Nam
1. Lịch sử tư tưởng vấn đề toàn cầu hóa kinh tế
Mặc dù phải đến ngày nay dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa họccông nghệ hiện đại, lực lượng sản xuất xã hội loài người mà trước hết là ở các
nước tư bản phát triển đạt tới trình độ rất cao thì quá trình toàn cầu hóa kinh tế mới
nảy sinh. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng: đó phải là kết quả phát triển lâu dài
của lịch sử sản xuất xã hội loài người gắn với vấn đề phân công lao động xã hội và
giao lưu hàng hóa giữa các địa phương, dân tộc và các quốc gia với nhau. Vì vậy,
trải qua các thời đại kinh tế khác nhau, các nhà tư tưởng đã ít hoặc nhiều, đầy đủ
hoặc chưa đầy đủ, nông hoặc sâu phản ánh những khía cạnh, hình thức khác nhau
của những mối quan hệ giao lưu kinh tế giữa các quốc gia, những hình thức quan
hệ kinh tế quốc tế đầu tiên của toàn cầu hóa kinh tế.
a. Các nhà tư tưởng trước C.Mác
* Thời cổ đại (chủ yếu là Hy Lạp cổ đại)
Một số nhà triết học đã phản ánh những tư tưởng kinh tế trong quan niệm triết
học của mình.
- Xênophon (430-345TCN), trong tư tưởng về phân công lao động ông cho
rằng: Phân công lao động có vai trò thúc đẩy giao lưu hàng hóa giữa các vùng, nhờ
phân công lao động mà nâng cao được chất lượng hoạt động. Giữa phân công lao
động và quy mô thị trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, ở những nơi trao đổi
phát triển mạnh thì phân công lao động phát triển mạnh.
- Platon (427-347 TCN), ông đã giải thích mối quan hệ giữa phân công lao động,
thương mại và tiền tệ với vai trò nổi bật của các thương gia. C.Mác đã đánh giá cao ý
tưởng này của Platon và gọi đó là sự nổi bật thiên tài đối với thời đại.
- Aristoleles (384-322TCN), ông đã chia kinh doanh làm hai loại. Loại “kinh
tế” nhằm mục đích giá trị sử dụng; loại “sản xuất của cải”, mục đích của hoạt động
kinh doanh này là làm giàu. Loại này có quan hệ với trao đổi làm giàu T - H - T
(đại thương nghiệp), ông cho rằng loại này không phù hợp cần loại bỏ.
* Thời trung cổ, trong tư tưởng kinh tế của Thomasd Aquin (1225-1274)
người ITALIA, ông đã sử dụng quan điểm của Aristoteles về ba loại thương nghiệp
và cho rằng: Đại thương nghiệp có thể theo đuổi một mục đích chân lý hay cần

không có các nguồn lực nhất là các nguồn lực gắn với điều kiện tự nhiên. Hạn chế
trong lý thuyết của ông là không giải thích được hiện tượng một nước có lợi thế
hơn hẳn các nước khác hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối nào thì chỗ
đứng của nước đó trong phân công lao động quốc tế là ở đâu và thương mại quốc
tế sẽ xảy ra như thế nào với các nước này.


3
Ricácđô, kế thừa và phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Ađamsmit, ông
đưa ra lý thuyết lợi thế tương đối hay còn gọi là lợi thế so sánh. Theo đó, chuyên
môn hóa sản xuất quốc tế không nhất thiết phải có lợi thế tuyệt đối mà chỉ cần có
lợi thế tương đối. Một quốc gia không nên sản xuất tất cả mọi sản phẩm mà chỉ nên
tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm họ làm ra với chi phí tương đối
thấp và nhập khẩu những sản phẩm có chi phí tương đối caơ hơn so với sản phẩm
cùng loại của nước khác. Hạn chế của lý thuyết lợi thế so sánh là dựa trên hàng
loạt các giả thiết đơn giản hóa như không tính chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hóa,
hàng rào thuế quan. Vì vậy, nếu xem xét trong trạng thái động sẽ không giải thích
được nguồn gốc phát sinh lợi thế so sánh của một nước đối với một loại sản phẩm
nào đó. Vì vậy, nó không giải thích được nguyên nhân sâu xa của quá trình thương
mại quốc tế.
- Say (1766-1832) nhà kinh tế chính trị tư sản tầm thường, một trong những
kết luận của ông đưa ra trong “thuyết tiêu thụ” là việc nhập khẩu sản phẩm nước
ngoài tạo điều kiện để bán sản phẩm trong nước, qua đó ông chứng minh tác hại
của chế độ thuế quan, bảo hộ và sự cần thiết phải từ bỏ nó.
b. C.Mác và Ph.Ăngghen
Hơn 160 năm trước, trong tác phẩm “Những nguyên lý của chủ nghĩa cộng
sản” và “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” các ông đã chỉ ra rằng đại công nghiệp
đã tạo ra thị trường thế giới. Ph.Ăngghen viết: “Nền đại công nghiệp đã gắn liền tất
cả các dân tộc trên trái đất lại với nhau, đã thống nhất tất cả các thị trường địa
phương nhỏ bé thành thị trường toàn thế giới, đã chuẩn bị ở khắp nơi cho văn minh

- Tập trung sản xuất và sự ra đời của các tổ chức độc quyền.
- Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính.
- Xuất khẩu tư bản.
- Sự phân chia thị trường thế giới của các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia và
đa quốc gia.
- Sự phân chia lãnh thổ thế giới của các cường quốc đế quốc.
Đây chính là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa
dưới sự tác động của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại.
Trong quá trình trực tiếp chỉ đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
Nga, Lê nin đã tiên đoán rằng: Toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, tinh thần của nhân
loại ngày càng quốc tế hóa ngay cả dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và trong tương lai
chủ nghĩa xã hội sẽ hoàn tàn quốc tế hóa đời sống của nhân loại.
2. Thực chất của toàn cầu hóa kinh tế
a. Thuật ngữ “toàn cầu hóa” và quá trình toàn cầu hóa.


5
* Thuật ngữ “toàn cầu hóa”(Globalisation), nó mới dược xuất hiện và phổ cập vào
những thập niên cuối của thế kỷ XX. Nó được Georg Modelski lần dầu tiên nêu ra vào
năm 1972 trong tác phẩm “Principle of the World Politics” khi nói về liên minh châu
Âu lôi kéo các nước khác vào hệ thống thương mại toàn cầu.
* Quá trình toàn cầu hóa
- Vấn đề toàn cầu hóa đã được dự báo từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời vào thế
kỷ thứ XVI và lúc đó gọi là quá trình “quốc tế hóa”. Quá trình quốc tế hóa được
phát triển mạnh mẽ nhờ sự phát triển về địa lý, những cuộc chiến tranh xâm lược
thuộc địa, sự phát triển của đại công nghiệp, sự phát triển sản xuất trên cơ sở áp
dụng những thành tựu khoa học- công nghệ, sự mở rộng thị trường quốc tế, mở
rộng giao lưu quốc tế. Chính sự phát triển đó đã phá vỡ tính chất cát cứ, biệt lập,
khép kín trong phạm vi quốc gia, đưa đến sự mở rộng phạm vi hoạt động quốc tế.
Quá trình quốc tế hóa không ngừng phát triển và được đánh dấu bằng các cột mốc

do của các yếu tố sản xuất nhằm phân phối tối ưu các nguồn lực. Quỹ tiền tệ
Quốc tế (IMF) cho rằng: Toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng không ngừng
nguồn vốn, kỹ thuật, mậu dịch với quy mô, hình thức phong phú, tăng sự phụ
thuộc của các nền kinh tế thế giới. Các học giả khác lại cho rằng: Toàn cầu hóa
kinh tế là một cuộc chơi; ở đó ai khôn ngoan, lanh lợi sẽ được nhiều hơn mất,
ai dại khờ thì mất nhiều hơn được; không ai mất hết hoặc được hết, chỉ có
trường hợp chắc chắn mất hết là đóng cửa không tham gia vào quá trình toàn
cầu hóa. Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: thực chất của toàn cầu hóa
kinh tế là quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất trên phạm vi quốc tế, các
quan hệ kinh tế vượt ra khỏi biên giới quốc gia, dân tộc lan tỏa ra phạm vi
toàn cầu, trong đó hàng hóa, dịch vụ, vốn, tiền tệ, thông tin, lao động... vận
động thông thoáng; sự phân công lao động mang tính quốc tế; mối quan hệ
kinh tế giữa các quốc gia, khu vực đan xen, tùy thuộc lẫn nhau. Toàn cầu hóa
kinh tế là một xu thế khách quan, lôi kéo ngày càng nhiều nước tam gia, xu thế
này đang bị các nước phát triển và các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia chi
phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫm, vừa có tích cực, vừa có tiêu cực, vừa có
hợp tác, vừa có đấu tranh.
Tuy nhiên, cần phải phân biệt toàn cầu hóa, toàn cầu hóa kinh tế với các
khái niệm “quan hệ kinh tế quốc tế”, “quốc tế hóa đời sống kinh tế”. Các khái
niệm này chỉ các quan hệ kinh tế giữa các quốc gia, các nhóm quốc gia và sự
mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia ra khu vực và trên thế
giới. Còn toàn cầu hóa, toàn cầu hóa kinh tế lại được coi là rộng hơn quan niệm
quốc tế hóa đời sống kinh tế. Trong những năm 80 của thế kỷ XX, người ta
dùng khái niệm “những vấn đề toàn cầu” để chỉ những vấn đề vượt ra khỏi


7
phạm vi quốc gia, đòi hỏi phải có sự nỗ lực hợp tác của nhiều nước để giải
quyết các vấn đề như: Dân số, môi trường, ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, các
căn bệnh hiểm nghèo... Từ đó mà xuất hiện một số quan niệm hết sức sai lầm



8
phát triển đó là: “Chủ nghĩa thực dân thương mại”, “Chủ nghĩa thực dân thông
tin”, “Chủ nghĩa thực dân công nghệ”, “Chủ nghĩa thực dân văn hóa”. Vì vậy, hiểu
rõ thực chất của toàn cầu hóa, nhận thức đầy đủ về nó là một việc hệ trọng cả về lý
luận và thực tiễn. Do đó, toàn cầu hóa dù xét nó dưới nhãn quan gì, ở góc độ nào?
cũng bao hàm sự khác biệt về lợi ích của các chủ thể tham gia; lợi ích của giai cấp
này với giai cấp khác, của dân tộc này với dân tộc khác, của khu vực này với khu
vực khác. Tính không thuần nhất về lợi ích đó đang buộc các quốc gia phải chủ
động tham gia và có cách ứng xử thích hợp để tận dụng thời cơ, đẩy lùi nguy cơ,
thách thức do toàn cầu hóa mạng lại.
3. Các nhân tố làm nảy sinh và thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh tế
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế nảy sinh do những nhân tố sau đây tác động:
Một là, sự phát triển của kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường.
Ngược dòng lịch sử chúng ta thấy cùng với sự phát triển của phân công lao động
là sự ra đời của sản xuất hàng hóa, nó đã xuyên thủng vòng tuần hoàn khép kín của
kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc. Kinh tế hàng hóa đã rỡ bỏ tính chất cát cứ của vùng
miền trong từng quốc gia, dân tộc đến một mức độ nhất định vượt ra khỏi biên giới
quốc gia. Các quan hệ thương mại giữa các nước được khởi động và ngày càng phát
triển cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Việc hình thành các con đường tơ
lụa từ Trung Quốc xuyên qua vùng Trung A đến Trung Cận Đông, việc giao lưu buôn
bán giữa Châu Âu và Châu A đã chứng minh điều đó. Đến khi chủ nghĩa tư bản ra
đời, cùng với sự phát triển của đại công nghiệp và cùng với việc đưa quân đội viễn
chinh đi xâm chiếm, cướp bóc thuộc địa đã đẩy nhanh tốc giao lưu hàng hóa trên thế
giới. Với đà phát triển của chủ nghĩa tư bản, thương mại toàn cầu ngày càng được mở
rộng. Xu thế này đã được C.Mác dự báo cách đây hơn 160 năm, trong tác phẩm:
“Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” Ông đã khẳng định: Đại công nghiệp đã tạo ra thị
trường thế giới và do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất
và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới. Thực tiễn đã chứng minh từ

Bốn là, sự ra đời và phát triển của các công ty xuyên quốc gia.
Bàng việc thiết lập hệ thống các công ty con, cháu, chắt ở nhiều quốc gia, các
công ty xuyên quốc gia đã thúc đẩy các hoạt động thương mại, đầu tư, dịch chuyển
vốn... liên kết các quốc gia với nhau trong các hoạt động kinh tế. Hiện nay trên thế
giới có 60.000 công ty xuyên quốc gia, chiếm 25% giá trị sản xuất toàn cầu, 65%
kim ngạch mậu dịch quốc tế, 70% đầu tư nước ngoài, 90% công nghệ cao.
Năm là, sự ra đời và vai trò ngày càng tăng của các tổ chức kinh tế quốc tế,
hình thành các thể chế toàn cầu và khu vực.
Sự ra đời của Tổ chức Thương Mại thế giới (WTO); Liên minh Châu Âu (EU);
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu A Thái Bình Dương (APEC), Khu vực Mậu dịch tự
do ASEAN (AFTA); Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA); Quỹ tiền tệ Quốc


10
tế (IMF); Ngân hàng Thế giới (WB); Ngân hàng Châu A (ADB)... Xu thế toàn cầu
hóa kinh tế được thể chế hóa trong nhiều định chế quốc tế và phát triển mạnh cả về
chiều rộng và chiều sâu, thông qua nhiều hoạt động của nhiều tổ chức tài chính,
thương mại quốc tế và khu vực. Nó có tác dụng đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa
không chỉ trong lĩnh vực thương mại mà cả trong lĩnh vực sản xuất, dịch vụ tài
chính, đầu tư, lan sang lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường.
4. Tác động của toàn cầu hóa kinh tế đến Việt Nam
a. Các quan niệm khác nhau về tác động có tính hai mặt của toàn cầu hóa
kinh tế.
Do toàn cầu hóa kinh tế mang tính mặt vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu
cực đã làm tổn thương nền kinh tế nhỏ yếu của các nước đang phát triển nên có
nhiều quan điểm khác nhau về tác động của toàn cầu hóa đối với các nước này.
Một số người cho rằng với các nước đang phát triển thì toàn cầu hóa kinh tế
đem lại thách thức tối đa, lợi ích tối thiểu. Quan điểm khác lại xem cả lợi ích và
thách thức là tương đối lớn. Nhiều nguyên thủ quốc gia các nước đang phát triển
cảnh báo nguy cơ đe dọa độc lập chủ quyền các nước này từ tác động của toàn cầu

mang lại sẽ kéo theo lợi thế về thu hút đầu tư nước ngoài và nguồn vốn đầu tư
nước ngoài vào nước ta qua đó sẽ thúc đẩy việc sử dụng các nguồn vốn trong nước
có hiệu quả. Vốn FDI đầu tư của nước ngoài vào nước ta năm 2006 là13,5 tỷ USD,
năm 2007 là 20,3 tỷ USD, năm 2008 là 64 tỷ USD. Năm 2007, các nhà tài trợ cam
kết cho Việt Nam vay 5,7 tỷ USD.
* Thứ ba, tạo cơ hội để Việt Nam có thể tiếp nhận công nghệ mới của thế
giới.
Toàn cầu hóa kinh tế làm cho thành tựu khoa học- công nghệ được
chuyển giao nhanh chóng và ứng dụng rộng rãi, qua đó các nước đi sau có thể
dễ dàng tiếp cận với chúng để phát triển. Nước ta có điều kiện để lựa chọn
công nghệ ngoại sinh phù hợp nhằn nâng cao mặt bằng công nghệ quốc gia;
đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; thực hiện tốt hơn một trong những
nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là đổi mới, nâng cao trình
độ công nghệ của nền sản xuất xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính
sang sử dụng lao động với công nghệ tiên tiến, hiện đại.
* Thứ tư, Thúc đẩy nhanh các bước điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong nước
nhằm phát huy có hiệu quả các nguồn lực trong nước, khai thác và phát huy
được các lợi thế so sánh của nước ta, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Nói cách khác là khai thông sự giao lưu các nguồn lực giữa nước ta và thế
giới.


12
Trong các nguồn lực để phát triển, nguồn nhân lực (con người và trí tuệ) ngày
càng có tầm quan trọng đặc biệt. Nước ta có nguồn nhân lực dồi dào, tuy tỷ lệ có
văn hóa phổ thông cao hơn cả Thái Lan và Trung quốc nhưng đào tạo tay nghề
chuyên môn kỹ thuật lại kém. Đào tạo đại học thì nặng về lý thuyết, nhẹ về thực
hành. Sự hiểu biết về thị trường và nghiệp vụ kinh doanh thấp... dẫn đến lao động
phổ thông và tỷ lệ lao động thất nghiệp khá cao; thiếu lao động kỹ thuật và các
chuyên gia đầu ngành. Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ giúp Việt Nam khai thông

cính tiền tệ ở Thái Lan tháng 8 năm 1997, cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế
giới bắt đầu bùng phát từ cuộc khủng hoảng cho vay để đầu tư vào thị trường bất
động sản Mỹ cuối năm 2007 đầu năm 2008; cuộc khủng hoảng năng lượng do cuộc
chiến tranh ở Nam Tư, I Rắc ...đã cho thấy rõ điều đó. Năm 2009 bị tác động bởi
cuộc khủng hoảng tài chính thế giới tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta chậm
lại, để kích cầu đầu tư nhà nước phải chi 1 tỷ USD; những nền kinh tế lớn phải chi
vài trăn tỷ đến cả 1000Tỷ USD (Mỹ phải chi tới 830tỷ USD) để cứu vãn nền kinh
tế.
* Thứ hai, nguy cơ thôn tính do cạnh tranh không cân sức với các công ty
khổng lồ của các nước phát triển cũng tăng lên.
Tự do hóa thương mại đem lại lợi ích lớn hơn cho các nước công nghiệp
phát triển. Vì các sản phẩm của họ chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã đẹp
do đó có sức cạnh tranh cao, dễ chiếm lĩnh thị trường. Mặt khác, các nước
ngày càng áp dụng những hình thức bảo hộ công khai (áp dụng hạn ngạch)
hoặc trá hìng như tiêu chuẩn lao động, môi trường, an sinh xã hội ...), hoặc các
rào cản về kỹ thuật (quy cách, mẫu mã, dư lượng kháng sinh, thuốc bảo vệ
thực vật trong các sản phẩm chế biến của nông nghiệp...). Cấm chuyển giao
những thành tựu công nghệ mới, họ dùng chiêu bài “sở hữu công nghiệp, sở
hữu trí tuệ” để ngăn cản các nước nghèo tiếp cận công nghệ mới, công nghệ
tiên tiến. Ngày nay thị trường đang thực sự trở thành chiến trường, trong khi
đó tiềm lực kinh tế của Việt Nam còn quá mỏng, chất lượng lao động, trình độ
công nghệ, năng lực quản lý còn non kém...và những điều đó đã dẫn đến sức
cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn thấp. Sự thua thiệt trên thị trường là
điều chúng ta phải hết sức quan tâm nhất là khi chúng ta đã là thành viên của
WTO.
Một lĩnh vực của toàn cầu hóa kinh tế là toàn cầu hóa thị trường tài chính,
một lọai thị trường còn mới mẻ với Việt Nam và chúng ta chưa có nhiều kinh
nghiệm, đặc biệt là thị trường chứng khoán, ở đó buôn bán các tư bản giả. Đây
cũng là một thách thức với nước ta khi tham gia thị trường này.


những mặt tích cực mà các nước có thể khai thác để củng cố nền độc lập tự chủ
của mình. Vì vậy nếu biết tận dụng cơ hội toàn cầu hóa kinh tế thì hội nhập kinh tế
quốc tế sẽ đem lại cho mỗi nước một sức mạnh mới.


15
* thứ hai, Xuất phát từ nhận thức mới về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
Theo đó nền kinh tế độc lập tự chủ không có nghĩa là nền kinh tế đóng cửa khép
kín ngược lại đó phải là nền kinh tế có quan hệ rộng mở với tất cả các nước trong
công đồng thế giới.
* Thứ ba, xuất phát từ yêu cầu của cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp
hiện nay.
Trong điều kiện các nước tư bản phát triển đang chi phối quá trình toàn cầu hóa
thì đối với các nước đang phát triển, hội nhập kinh tế quốc tế phải được coi là một bộ
phận của cuộc đấu tranh vì độc lập chủ quyền của đất nước.
Đối với Việt Nam đang trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội thì đó là
cuộc đấu tranh vừa mang sắc thái của cuộc đấu tranh dân tộc, vừa mang sắc thái
của cuộc đấu tranh giai cấp vì chủ nghĩa xã hội. Bởi bên cạnh những thuận lợi lớn
như có nhiều cơ hội để tranh thủ được nguồn vốn, công nghệ, thị trường...của thế
giới đẩy nhanh phát triển kinh tế trong nước, hội nhập kinh tế quốc tế cũng mang
lại cho nước ta nhiều thách thức gay gắt. Nổi bật là:
- Chúng ta cam kết thực hiện những quy định nhiều khi rất khắt khe trong các
quan hệ song phương và đa phương. Đáng chú ý là Mỹ và các cường quốc tư bản
phương Tây đang lợi dụng ưu thế về kinh tế và quân sự của mình để chi phối các tổ
chức kinh tế tài chính toàn cầu như IMF, WB, WTO, đề ra những luật chơi mang
tính áp đặt ép buộc các nước nghèo, thách thức độc lập chủ quyền của các nước
đang phát triển và kém phát triển. Vì vậy, nếu không chủ động hội nhập với những
lộ trình hợp lý, phù hợp với sự chuẩn bị trong nước thì sẽ phải trả giá đắt về kinh
tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh.
- Chúng ta phải chấp nhận những bất chắc khó lường ngày càng nhiều của nền

cảnh tình hình Đông Âu, Liên Xô xấu đi. Đến năm 1990, 1991 thì hệ thống xã hội chủ
nghĩa thế giới thoái trào, Hội đồng đồng tương trợ kinh tế bị giải thể. Các Nghị quyết
13 (5/88) của Bộ chính trị, Nghị quyết 8A (3/90) của BCHTW đã phân tích sâu sắc
tình hình thế giới, đề ra các chủ trương, giải pháp để đẩy lùi chính sách bao vây kinh
tế, cô lập về chính trị đối với nước ta, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. Với tinh thần
đó tháng 12/87, chúng ta đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài với những quy định
thông thoáng.
Đại hội VII (6/91), sáu tháng trước khi Liên Xô tan rã, đã thông qua cương
lĩnh và chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000; đồng thời đưa ra
đường lối đối ngoại rộng mở với tuyên bố: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các
nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”. Nghị
quyết Trung ương 3 Khóa VII về Chính sách đối ngoại và kinh tế dối ngoại đã đưa


17
ra nguyên tắc: “Giữ vững độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa, đồng thời phải
rất sáng tạo, năng động, linh hoạt, phù hợp với vị trí, điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
của nước ta cũng như diễn biến của tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với
từng đối tượng mà nước ta có quan hệ”. Đồng thời Nghị quyết nêu ra 4 phương
châm: Bảo đảm lợi ích dân tộc, trong đó kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước
và chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân; giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự
cường, đẩy mạnh đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; nắm vững hai
mặt vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong quan hệ quốc tế; ưu tiên hợp tác khu vực,
đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước.
Đại hội VIII (9/96) chủ trương xây dựng nền kinh tế mở; đẩy nhanh quá trình
hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Nghị quyết Trung ương 4 khóa VIII nêu
nhiệm vụ: Tích cực, chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường thế giới, tiến hành
khẩn trương, vững chắc việc đàm phán Hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập
APEC, WTO, có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện cam kết trong khuôn khổ
AFTA...

lực, tăng cường chỉ đạo phát triển nông nghiệp, nông thôn; giải quyết các vấn
đề xã hội nảy sinh; giữ bản sắc văn hóa, bảo vệ mội trường; giữ vững và tăng
cường quốc phòng, an ninh quốc gia; hoàn thiện các thiết chế dân chủ, xây
dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng.
b. Các bước đi của Việt Nam trong quá trình hội nhập vào nền kinh tế khu
vực và thế giới.
Năm 1993, ta đã khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế
như: IMF, WB, ADB. Trong quan hệ với các tổ chức này chúng ta chỉ chấp nhận sự
hỗ trợ tài chính nếu yêu cầu của họ không trái với đường lối, chính sách của ta.
Ngày 25/7/1995, nước ta gia nhập ASEAN, đồng thời tham gia khu vực mậu
dịch tự do ASEAN (AFTA) và từ ngày 1/1/1996, chúng ta bắt đầu thực hiện các
nghĩa vụ và các cam kết trong trương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung
(CEPT) của AFTA. Theo quy định của CEPT ta có nghĩa vụ giảm thuế nhập khẩu
xuống còn 0- 5% vào năm 2006; năm 2001, sáu nước thành viên cũ sẽ thực hiện
toàn bộ các mặt hàng có thuế xuất bằng 0% và Việt Nam là năm 2010. Ngoài ra
chúng ta còn tham gia các chương trình hợp tác công nghiệp (AICO), khu vực đầu
tư ASEAN (CAIA) và các chương trình hợp tác khác của ASEAN.
Tháng 3/96, nước ta tham gia Diễn đàn hợp tác kinh tế A - Âu (ASEM) nhằm
thuận lợi hóa thương mại và đầu tư, hợp tác giữa các nhà doanh nghiệp A- Âu, cam
kết về tự do hóa thương mại và đầu tư chưa được nêu ra.


19
Tháng 11/98, Việt Nam gia nhập APEC và trở thành thành viên đầy đủ của tổ
chức này vào năm 2020; tháng 10/2006 Việt Nam tổ chức thành công Hội ngị cấp
cao APEC tại Hà Nội, có 21 nước thành viên tham dự.
Tháng 12/1994, Việt Nam gửi đơn gia nhập WTO. Để gia nhập tổ chức này
chúng ta phải đàm phán cả đa phương và song phương với các nước thành viên.
Từ ngày 16/9/1996 đến 13/7/2000 trải qua 10 vòng đàm phán, Hiệp định

mức trần cho toàn bộ biểu thuế 10.600 dòng. Mức thuế bình quân toàn biểu được
giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4% thực hiện dần trong 5-7 năm. Mức
thuế bình quân đối với hàng nông sản từ mức hiện hành 23,5% xuống còn 20,9%
thực hiện trong khoảng 5 năm. Với hàng công nghiệp mức giảm từ 16,8% xuống
còn 12,6% thực hiện trong thời gian từ 5-7 năm. Có khoảng 1/3 số dòng của biểu
thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế xuất trên 20% và cam kết cắt
giảm thuế theo một số hiệp định tự do hóa theo ngành như sản phẩm công nghệ
thông tin, dệt may, thiết bị y tế. Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng hạn ngạch với
đường, trứng gia cầm, thuốc lá điếu và muối.
- Các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ: bao gồm các cam kết chung (cam
kết nền) và các cam kết cụ thể.Việt Nam cam kết đủ 11 ngành dịch vụ và nếu phân
theo phân ngành khoảng 110 phân ngành ( sẽ đề cập cụ thể hơn ở phần nội dung
hội nhập kinh tế quốc tế).
c. Một số kết quả đạt được và những tồn tại yếu kém cần khắc phục trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
* Kết quả đạt được
Như trên đã phân tích, thời gian hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam chưa
dài, chúng ta còn rất ít kinh nghiệm nhưng bước đầu đã đạt được những thành tựu
đáng khích lệ:
- Chúng ta đã phá được thế bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch, mở rộng
quan hệ kinh tế đối ngoại tạo dựng môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
- Khắc phục được tình trạng hẫng hụt về thị trường do hệ thống xã hội chủ
nghĩa thoái trào và không để bị cuốn vào cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ
khu vực (1997-1998) và thế giới (2008-2009); mở rộng thị trường xuất khẩu.
- Hiện nay, nước ta đã thiết lập được quan hệ thưong mại với 170 nước và
vùng lãnh thổ. Năm 1990, xuất khẩu 2,404 tỷ USD, năm 2000 đạt gần 15 tỷ USD,
hiện nay đạt hơn 60 tỷ USD (năm 2008 đạt 62,9 tỷ USD tăng 29,5% so với năm
2007). Nhờ mở rộng thị trường xuất khẩu đã tạo thêm được công ăn việc làm, mở
mang được các ngành nghề mới.

tới quá trình đề xuất chính sách và triển khai thực hiện. Công tác nghiên cứu triển
khai chậm, dường như hội nhập là công việc của Trung ương, còn các ngành, các
cấp có đặt ra nhưng còn rất yếu và không đồng bộ, làm yếu đi sức mạnh của Việt
Nam trong hội nhập.
- Luật pháp, chính sách quản lý thương mại chưa hoàn chỉnh.


22
- Doanh nghiệp Việt Nam còn yếu cả về sản xuất, quản lý và khả năng cạnh
tranh; quy mô nhỏ, yếu cả về công nghệ và quản lý; chưa rũ bỏ được thói quen bao
cấp. Nhà nước chưa có cơ chế có hiệu lực nhằm kích thích các doanh nghiệp gắn
sự tồn tại và phát triển của mình với khả năng cạnh tranh trên thương trường quốc
tế.
- Đội ngũ cán bộ yếu, công tác tổ chức chỉ đạo chưa thích hợp, đặc biệt là cán
bộ làm công tác hợp tác quốc tế.
3. Mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nội dung, hình thức và biện pháp hội
nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam.
a. Mục tiêu
Theo tinh thần Nghị quyết 07/NQ-TW, Bộ Chính trị Ngày 7/11/2001: Chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế nhằm mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công
nghệ, kiến thức quản lý để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh, trước mắt thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ nêu ra trong chiến
lược phát triển kinh tế- xã hội năm 2001- 2010.
b. Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
* Một là, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát
huy tố đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và
định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ vững bản sắc văn hóa dân
tộc, bảo vệ môi trường.
* Hai là, hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; trong quá trình

thuật được áp dụng trên cơ sở khoa học và công bằng, không được lạm dụng
để cản trở thương mại. Toàn bộ biểu thuế nhập khẩu được ràng buộc ở mức
hiện hành và giảm dần theo lịch trình thực hiện. Công nhận quyền kinh doanh
của các chủ thể kinh tế nước ngoài trên lãnh thổ nước mình và được bình đẳng
trước pháp luật.
- Về dịch vụ: WTO quy ước 12 lĩnh vực và 155 tiểu ngành các nước mở
cửa thị trường cho nhau với tất cả bốn phương thức cung cấp dịch vụ, như
cung cấp qua biên giới; xử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ; hiện diện thương mại
thông qua liên doanh, chi nhánh hoặc công ty 100% vốn nước ngoài; hiện diện
thể nhân nước ngoài.
- Về đầu tư: WTO quy ước các nước cam kết không áp dụng đối với đầu tư
nước ngoài các yêu cầu nội địa hóa, về cân bằng xuất- nhập khẩu và hạn chế tiếp
cận nguồn ngoại tệ.
* Thứ hai, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)


24
Các nước thành viên cũ (6 nước) giảm thuế quan xuống còn từ 0- 5% (riêng
Việt Nam vào năm 2006). Năm 2010 với 6 nước cũ và vào năm 2015 với các nước
mới gia nhập ASEAN sẽ thực hiện thuế xuất là 0%.
*Thứ ba, Diễn đàm hợp tác kinh tế Châu A- Thái Bình Dương (APEC) đặt
mục tiêu tương tự như AFTA ở trên, áp dụng cho các nước phát triển vào năm 2010
và cho các nước đang phát triển vào năm 2020.
* Thứ tư, Diễn đàn hợp tác Kinh tế A- Âu (ASEM) chưa có quy định cụ thể
về mốc thời gian tự do hóa mậu dịch. Những hoạt động chủ yếu là tìm kiếm khả
năng mở rộng hợp tác kinh tế A- Âu; tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực văn
hóa, thông tin, khoa học- công nghệ.
* Thứ năm, Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ
Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ gồm 7 chương, 72 điều, 9 phụ lục
với một số nội dung như sau:

Có hai hình thức song phương và đa phương. Các định chế kinh tế đa phương
có giá trị hướng dẫn tạo ra khuôn khổ khống chế các quan hệ song phương. Nếu
chúng ta không tham gia các tổ chưc đa phương thì khó có thể mở rộng quan hệ
kinh tế song phương với các nước. Các quan hệ đa phương không chỉ giới hạn
trong các quan hệ lợi ích kinh tế, thương mại trực tiếp cụ thể mà còn có các lợi ích
khác như liên kết các nước đang phát triển cùng đấu tranh bảo vệ lợi ích chung trên
diễn đàn quốc tế, chống lại sự áp đặt không công bằng, không bình đẳng của các
nước.
e. Một số biện pháp để chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
- Một là, Tiến hành làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền giải thích trong tổ
chức đảng, chính quyền, đoàn thể, trong các doanh nghiệp và trong các tầng lớp
nhân dân về chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Đại hội IX, X và
các nghị quyết chuyên đề cùng các quan điểm của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế
quốc tế để đạt được nhận thức và hành động thống nhất và nhất quán về hội nhập
kinh tế quốc tế, nâng cao niềm tin vào khả năng và quyết tâm của nhân dân ta về
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
- Hai là, Chính phủ cùng các bộ, ngành, doanh nghiệp khẩn trương xây dựng
chiến lược tổng thể về hội nhập với lộ trình hợp lý và chương trình hành động cụ
thể; phát huy tính chủ động của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp trong việc
tích cực chuẩn bị hội nhập. Theo đó lộ trình hội nhập phải đảm bảo vừa từng bước
rỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan một cách hợp lý, vừa khuyến khích
và buộc các doanh nghiệp trong nước phải tích cực đổi mới trình độ công nghệ, cơ
chế quản lý kinh tế, chuyển dịch cơ cấu đầu tư, tìm kiếm thị trường.....để nâng dần



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status