TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ mô HÌNH KINH tế THỊ TRƯỜNG xã hội CHỦ NGHĨA đặc sắc TRUNG QUỐC - Pdf 43

MÔ HÌNH KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐẶC SẮC TRUNG QUỐC
Tài liệu tham khảo:
1. TS Đinh Văn Ân, TS Lê Xuân Bá Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể
chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (sách tham khảo), Nxb Khoa
học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2006.
2. GS TS Vũ Đình Bách, GS TS Trần Minh Đạo, Đặc trưng của kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, NXB CTQG, HN, 2006
3. Võ Đại Lược, Nghiên cứu so sánh đổi mới kinh tế ở Việt Nam và cải
cách kinh tế của Trung Quốc, Nxb CTQG, HN, 2003.
4. Hội đồng lý luận Trung ương, Hội thảo lý luận giữa Đảng Cộng Sản
Trung Quốc và Đảng Cộng sản Việt Nam: Chủ nghĩa xã hội và kinh tế thị trường
- Kinh nghiệm Trung Quốc, kinh nghiệm Việt Nam, Nxb CTQG, HN, 2003.
5. Ngu Kiều Hồng và Vương Tổ Cường, Đổi mới chế độ sở hữu tập thể và
suy nghĩ về cải cách xí nghiệp tập thể. Tạp chí Nghiên cứu CNXH Trung Quốc,
Số 4/2004.
6. Vụ lý luận Bộ tuyên truyền Trung Quốc: Rút ra từ 18 điểm nóng lý luận,
“Kích thích mặt bằng sức sống mới của kinh tế công hữu, lý giải thế nào về việc
coi chế độ cổ phần là hình thức thực hiện chủ yếu của chế độ công hữu”. TL,
Thư viện HVCT.
7. Hà Bình Mạnh (TQ), 18 điểm nóng lý luận: “Làm cho chế độ cổ phần trở
thành hình thức thực hiện chủ yếu của chế độ công hữu”. TL, Thư viện HVCT
8. Trung Quốc trỗi dậy trong hòa bình, Tập 1, Nxb QĐND, HN, 2007.
9, Báo cáo phát triển Trung Quốc - tình hình và triển vọng, Nxb Thế Giới,
HN, 2007.
10. Về lý luận xã hội hài hòa XHCN Trung Quốc, CTQGHCM, 2007.
11. Chiến lược “Hưng biên phú dân” của Trung Quốc, Viện nghiên cứu TQ,
2009.
1





“TQ xây dựng CNXH cần phải xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước
không sao chép máy móc sách vở các nhà kinh điển cũng không thể dập khuôn
theo một mô thức kinh tế thị trường của nước khác”.
- Sao chép máy móc sách vở tư tưởng của các nhà kinh điển dẫn tới hiểu
không đúng những tư tưởng ấy và sau đó vận dụng vào TQ có những điều kiện
rất khác với bối cảnh mà những tư tưởng đó ra đời cũng như dự báo của các nhà
kinh điển.
- Mô hình kế hoạch hóa tập trung bao cấp, nền kinh tế hiện vật và chỉ có
chế độ công hữu về tư liệu sản xuất độc tôn duy nhất trong lịch sử đã không đem
lại thành công cho TQ.
- Những sai lầm khác trong quá khứ như cách mạng văn hóa những năm 60
đầu những năm 70 của thế kỷ trước làm cho đất nước TQ không phát triển được,
bị tụt hậu so với thế giới.
- Sự cấu kết bền chặt dân tộc Trung Hoa trong sản xuất kinh doanh, làm ăn,
buôn bán, vươn lên làm giàu đã trở thành truyền thống lâu đời…
* Xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc là một quá trình lịch sử lâu dài,
phù hợp với đặc điểm TQ và xu thế của thời đại, có nội dung phong phú, bao
quát toàn diện từ hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc.
- Xu thế của thời đại hiện nay về mô hình kinh tế là phát triển kinh thị
trường hiện đại, mở cửa, hội nhập quốc tế.
- Để tránh mắc sai lầm trong việc xác lập mô hình kinh tế thị trường xã hội
chủ nghĩa cần phải nắm vững đặc điểm tình hình KT - XH của TQ trong thời
đoạn lịch sử cụ thể (nhận diện đầy đủ và chính xác xuất phát điểm của đất nước
TQ).
+ Theo các nhà lãnh đạo TQ thì TQ vẫn và sẽ trường kỳ ở giai đoạn “sơ
cấp” (giai đoạn đầu) của CNXH, đây là điểm xuất phát cơ bản, quan trọng nhất
để hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách cho phù hợp với công cuộc cải
cách, xây dựng kinh tế thị trường XHCN đặc sắc TQ. (Liên Xô những năm cuối

@ Có lợi cho việc nâng cao đời sống nhân dân.

4


- Xây dựng kinh tế thị trường XHCN đặc sắc TQ là nhiệm vụ bao trùm, cốt
yếu, có vị trí đặc biệt nhằm tạo cốt vật chất, bảo đảm sự thành công cho sự
nghiệp xây dựng CNXH Trung Quốc.
2. Bản chất của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung
Quốc
* Sau 1/3 thế kỷ thực hiện công cuộc cải cách Trung Quốc đã đạt được
những thành tựu kinh tế - xã hội to lớn cả thế giới phải khâm phục (xem bảng).
* Kinh tế thị trường XHCN đặc sắc TQ là vấn đề mới và có nội hàm vô
cùng phong phú, đang trong quá trình hình thành và phát triển cùng với công
cuộc cải cách của nhân dân TQ.
* Việc làm sáng rõ bản chất của CNXH và kinh tế thị trường XHCN có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, là đòi hỏi khách quan của công cuộc cải cách,
xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung cũng như ở TQ nói riêng.
- Các nhà sáng lập CNMLN đã bàn về những đặc trưng cơ bản của CNXH
từ những góc độ khác nhau, nhưng tuyệt nhiên không dùng từ “bản chất” để
khái quát CNXH.
Trên cơ sở phát triển nội dung cốt lõi, thực chất quan niệm mácxít về
CNXH, đồng thời tổng kết lịch sử xây dựng CNXH trong thực tiễn, ông Đặng
Tiểu Bình đã đưa ra quan niệm mới về bản chất của CNXH:
“Bản chất của CNXH là giải phóng LLSX, xóa
bỏ bóc lột, loại bỏ phân hóa hai đầu, cuối cùng là cùng giàu
có”1.
Tư tưởng của Đặng Tiểu Bình thể hiện được những vấn đề có tính nguyên
tắc của CNXH:
+ Giữ vững và kiên trì chế độ cơ bản của CNXH, đồng thời khắc phục

sức SX, căn cứ vào tiến trình thực tế dần dần thực hiện cùng giàu có để
xác định.
+ Nó phá vỡ quan niệm truyền thống coi kinh tế kế hoạch là đặc trưng bản
chất của CNXH.
Ông Đặng Tiểu Bình nói: “Kế hoạch nhiều hơn một chút hay thị trường
nhiều hơn một chút, không phải là sự khác biệt về bản chất giữa CNXH và
CNTB. Kinh tế kế hoạch không phải là CNXH, CNTB cũng có kinh tế kế hoạch;

6


kinh tế thị trường không phải là CNTB, CNXH cũng có thị trường. Kế hoạch và
thị trường đều là công cụ kinh tế”2.
Những nhận thức mới này đã loại bỏ tư tưởng trói buộc, thủ cựu, mở ra
phương hướng mới cho việc cải tổ thể chế kinh tế kế hoạch hóa trước đây của
TQ và là một cống hiến cho kho tàng lý luận CNXH khoa học.
+ Quan niệm bản chất của CNXH cũng phản ánh lợi ích thiết thân của nhân
dân TQ và nhu cầu của thời đại:
@ Khẳng định nghèo đói không phải là CNXH.
@Phát triển quá chậm và tụt hậu, chủ nghĩa bình quân không phải là
CNXH.
@ Hai cực phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng cũng không phải là
CNXH.
@ Không có luật pháp và không coi trọng văn minh tinh thần cũng không
làm tốt CNXH.
Tóm lại: CNXH mang đặc sắc TQ là không ngừng giải phóng, phát triển
LLSX, là thực hiện cùng giàu có, cải cách mở cửa, phát huy dân chủ và kiện
toàn pháp chế, phát triển văn minh vật chất và văn minh tinh thần, chủ
trương duy trì hòa bình thế giới, lấy CNMLN, tư tưởng Mao Trạch Đông và
lý luận Đặng Tiểu Bình làm kim chỉ nam, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thực

lệch và không cân đối, thông qua phát triển có trước, có sau từng bước thu hẹp
khoảng cách phát triển.
* Bảy là, giai đoạn lịch sử thông qua cải cách và thể nghiệm, xây dựng và
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN dồi dào sức sống, tương đối phát
triển, hoàn thiện thể chế chính trị dân chủ XHCN và thể chế ở các phương diện
khác.
* Tám là, giai đoạn lịch sử mà quảng đại nhân dân giác ngộ vững vàng lý
tưởng chung xây dựng CNXH đặc sắc TQ, phấn đấu tự cường, rèn luyện chí tiến
thủ, cần kiệm xây dựng đất nước, đồng thời xây dựng văn minh vật chất cũng lỗ
lực xây dựng văn minh tinh thần.

8


* Chín là, giai đoạn lịch sử thu hẹp từng bước khoảng cách so với trình độ
tiên tiến của thế giới, trên cơ sở CNXH thực hiện sự nghiệp phục hưng dân tộc
Trung Hoa.
Đặc điểm thứ nhất là đặc điểm cơ bản của giai đoạn này;
Đặc điểm thứ chín là khái quát chung về nhiệm vụ lịch sử;
Và 7 đặc điểm còn lại là sự triển khai các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa đối
với đặc điểm cơ bản và nhiệm vụ lịch sử.
3.2. Đặc trưng chủ yếu của kinh tế thị trường XHCN đặc sắc Trung
Quốc.
Đặc trưng kinh tế thị trường XHCN đặc sắc TQ được thể hiện ở bốn nội
dung:
* Thứ nhất, xây dựng chế độ kinh tế đa sở hữu, trong đó lấy công hữu làm
chủ thể, kinh tế nhiều chế độ sở hữu cùng phát triển.
- Đây là kết quả tổng kết kinh nghiệm và bài học về chế độ sở hữu trước
đây ở TQ.
- Hội nghị TW3 khóa XI Đảng Cộng sản TQ cho rằng cần thiết phải xây

kinh tế quốc hữu.
@ Tiêu chuẩn về tối ưu hóa kết cấu và bố cục kinh tế quốc hữu không phải
là nhất thành bất biến mà sẽ thay đổi cùng với sự thay đổi của tình hình phát
triển và môi trường kinh tế.
+ Chỉ cần kiên trì kinh tế quốc hữu là chủ thể, kinh tế quôc hữu khống chế
các huyết mạch của nền kinh tế quốc dân, sức điều tiết và sức cạnh tranh của
nền kinh tế quốc dân sẽ được tăng cường.
Dưới tiền đề này, tỷ trọng kinh tế quốc hữu có thể giảm đi một chút cũng sẽ
không ảnh hưởng đến tính chất XHCN của TQ.
- Kinh tế tập thể: là bộ phận hợp thành quan trọng của kinh tế quốc hữu
(công hữu). Kinh tế tập thể có ba đặc trưng cơ bản:
+ Người làm việc trong các doanh nghiệp vừa là chủ sở hữu vừa là người
lao động, họ tạo thành tập thể và có quyền điều hành doanh nghiệp;
10


+ Thành quả kinh doanh được phân phối trong nội bộ doanh nghiệp. Mọi
tổ chức, cá nhân không thuộc doanh nghiệp, không được chiếm hữu tài sản
doanh nghiệp cũng như không được hưởng thành quả của nó.
+ Về quan hệ với bên ngoài, doanh nghiệp không chịu sự can thiệp trực
tiếp của chính phủ cũng như sự ràng buộc của kế hoạch pháp lệnh, mà chủ yếu
quan hệ với thị trường và chịu sự chi phối của cơ chế thị trường.
Thực tiễn cải cách kinh tế ở TQ đã chứng minh, sự phát triển mạnh
mẽ của kinh tế tập thể ở cả thành thị và nông thôn có sức sống và khả
năng thích ứng với những nhu cầu và trình độ phát triển SX khác nhau,
do đó nó không thể được thay thế bằng kinh tế nhà nước.
Ví dụ, chế độ hợp tác cổ phần nhiều hình thức là một biện pháp có
hiệu quả thực hiện sự kết hợp giữa sức lao động và vốn, giữa phân phối
theo lao động và phân phối theo yếu tố SX.
- Một đột phá quan trọng trong lý luận cải cách chế độ sở hữu của TQ là

thôn TQ lấy liên hiệp lao động và tiền vốn của người lao động làm chủ yếu, bắt
đầu trở thành hình thức quan trọng tổ chức doanh nghiệp hợp tác.
Kinh tế chế độ hợp tác xã cổ phần cũng phát huy vai trò
quan trọng thu hút tiền vốn phân tán trong xã hội, làm dịu áp lực
việc làm, gia tăng tích lũy công cộng và tăng thuế cho nhà nước.
- Thực tiễn TQ chứng minh, kinh tế công hữu chỉ cần tìm được hình thức
thực hiện thích hợp thì sẽ có sức sống mạnh mẽ, có thể chiếm được địa vị ưu thế
trong cạnh tranh thị trường, thực sự củng cố địa vị chủ thể của chế độ công hữu.
TQ cũng đưa ra khuyến cáo, trong quá trình tìm tòi hình
thức thực hiện chế độ công hữu, cần giữ được tỉnh táo và xử
lý thận trọng, chú ý phòng ngừa phát sinh tình huống lượng
hóa không giới hạn, biến tài sản quốc hữu thành tài sản cá
nhân (cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở VN đã xuất hiện
12


tình trạng tiêu cực này) và cuối cùng tập trung vào tay một số
ít người, tránh để cho chế độ XHCN mất đi nền móng kinh tế.
(Hội nghị TW 3 khóa XVI, Đảng Cộng sản TQ coi chế độ cổ
phần trở thành hình thức thực hiện chủ yếu của chế độ công
hữu XHCN).
- Kinh tế phi công hữu.
TQ xác định kinh tế phi công hữu là bộ phận cấu thành quan trọng của nền
kinh tế thị trường XHCN. Lý luận của TQ là:
+ Phát triển kinh tế phi công hữu trong điều kiện kinh tế quốc hữu làm chủ
thể là yêu cầu khách quan của sự phát triển sức sản xuất của giai đoạn đầu của
CNXH.
+ Quá trình cải cách chế độ công hữu của TQ hướng vào việc cải tạo chế
độ công hữu đơn nhất cũng chính là quá trình phát triển từng bước của kinh tế
phi công hữu.

như một lực lượng quan trọng trong phát triển nền kinh tế quốc dân, mà còn
dưới góc độ biến đổi tính chất của nó dưới ảnh hưởng của hạ tầng cơ sở cũng
như thượng tầng kiến trúc trong một nền kinh tế mới - kinh tế thị trường XHCN
đặc sắc TQ.
- Về sở hữu đất đai:
+ Đất đai ở thành phố thuộc sở hữu của nhà nước.
+ Đất đai ở nông thôn thuộc sở hữu tập thể.
@ Nông dân chỉ có quyền duy nhất với đất đai là quyền sử dụng, không có
quyền chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp.
@ Khi nông dân chuyển ra thành phố hay đi nơi khác thì phải trả lại đất
cho tập thể để giao cho người khác sử dụng.
@ Tuy nhiên, một số nơi vẫn có sự chuyển nhượng đất nông nghiệp, theo
đó, đất đai được tập trung vào một số người có ưu thế để hình thành doanh
nghiệp tư nhân, nhưng phải có điều kiện: Công nghiệp phải phát triển để thu hút
nông dân ly nông và ly hương và phải bảo đảm tốt về mặt xã hội cho nông thôn.
@ Ngoài ra, đất đai ở TQ còn được tập trung theo phương thức di chuyển
theo gia đình.

14


(Việc quản lý, sử dụng đất đai ở nông thôn TQ không phải nhất nhất theo
một phương thức cụ thể mà cũng rất linh hoạt cho phù hợp với tình hình phát
triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương).
* Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện phương thức phân phối xã hội chủ
nghĩa, lấy phân phối theo lao động làm chủ thể, cho phép một bộ phận người và
khu vực giàu có trước, lôi kéo giúp đỡ những người, khu vực khác giàu có sau,
từng bước đi tới cùng giàu có.
Đảng Cộng sản TQ và giới lý luận cho rằng:
- Chế độ kinh tế cơ bản lấy công hữu làm chủ thể, kinh tế nhiều chế độ sở

@ Trong quá trình SX hàng hóa, đối với LĐ sống tạo ra giá trị thì yêu cầu
thực hiện chế độ phân phối theo LĐ làm chủ thể; các yếu tố SX khác như tiền
vốn, kỹ thuật, thông tin… là những điều kiện quan trọng mà SX hàng hóa không
thể thiếu được thì đòi hỏi cho phép tham gia vào phân phối lợi ích thu được ở
giai đoạn đầu của CNXH.
@ Kết hợp phân phối theo LĐ với phân phối theo yếu tố SX tạo điều kiện
thuận lợi cho việc động viên tính tích cực của quảng đại thành viên XH, có lợi
cho việc phân bổ và sử dụng hợp lý các nguồn lực, có lợi cho phát triển sức SX
của XH.
+ Hai là, thực hiện chính sách ưu tiên năng suất, hiệu quả và chú trọng
công bằng;
TQ cho đây là một nguyên tắc nên phải kiên trì ưu tiên năng suất, chú
trọng công bằng.
@ Nguyên tắc này thể hiện phát triển LLSX là nhiệm vụ quan trọng hàng
đầu của CNXH; năng suất là nền tảng của công bằng, công bằng lại là tiền đề
cho năng suất, thực hiện tốt hai điều này cũng là yêu cầu cơ bản của kinh tế thị
trường XHCN TQ.
@ Đồng thời, trong các tầng bậc phân phối khác nhau, lại có sự xử lý khác
nhau trong mối quan hệ giữa năng suất và công bằng.

16


> Trong quá trình tái sản xuất, lĩnh vực phân phối lần đầu phải kiên trì
nguyên tắc ưu tiên năng suất, chú ý hơn nữa tới năng suất, hiệu quả là chính để
thúc đẩy SX.
> Trong lĩnh vực phân phối lại thì nên kiên trì nguyên tắc chú trọng công
bằng, đề xướng công bằng nhiều hơn để hạn chế phân hóa hai đầu.
+ Ba là, cho phép khuyến khích một bộ phận người giàu lên trước bằng lao
động và kinh doanh trung thực, đề xướng người giàu trước giúp người giàu sau,

thu nhập bất chính, điều chỉnh thu nhập bất hợp lý; thông qua chính sách phân
phối thu nhập và thuế, Nhà nước điều tiết những thu nhập quá cao, phòng ngừa
phân hóa hai cực và sự cách biệt quá lớn về giàu nghèo.
* Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN với sự
điều hành vĩ mô của Nhà nước.
TQ cho rằng, phương thức phân bổ các nguồn tài nguyên là
yếu tố quyết định hiệu quả vận hành của hệ thống kinh tế. Xây
dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN làm cho vai
trò nền móng của thị trường trong phân bổ các nguồn tài nguyên
được phát huy một cách đầy đủ, sẽ nâng cao mạnh mẽ hiệu quả
vận hành của nền kinh tế, tăng cường sức sống của cả nền kinh
tế. Để xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường XHCN,
TQ đề ra nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 1: xử lý tốt mối quan hệ giữa điều hành vĩ mô của nhà nước
với vai trò điều tiết của cơ chế thị trường.
+ Trong điều kiện kinh tế thị trường, tất cả các hoạt động kinh tế đều phải
tuân theo yêu cầu quy luật giá trị, thích ứng với sự thay đổi của cung - cầu; cần
phải thông qua công năng của đòn bẩy giá cả và cơ chế cạnh tranh để phân bổ
tài nguyên vào đúng khâu có hiệu quả, loại bỏ cơ chế xin - cho và đặc quyền
của doanh nghiệp nhà nước. Cần phải sử dụng ưu điểm của thị trường phản
18


ứng nhanh nhạy với các tín hiệu kinh tế, thực hiện cơ chế chọn lọc tự nhiên, tốt
thì chiến thắng, yếu kém thì bị đào thải đối với doanh nghiệp, thúc đẩy cân đối
giữa sản xuất và nhu cầu.
+ Tuy nhiên, vai trò mang tính nền móng của thị trường đối với phân bổ
các nguồn lực cần phải được tiến hành dưới sự điều hành vĩ mô của Nhà nước.
Bởi vì, để khắc phục những nhược điểm và bất cập của tính tự phát thị trường,
cần phải dựa vào sự chỉ đạo, điều hành vĩ mô của Nhà nước đối với hoạt động

thức điều hành vĩ mô của Nhà nước phải chuyển từ trực tiếp là chủ yếu sang
gián tiếp. Biện pháp kinh tế chủ yếu bao gồm vận dụng các chính sách tài
chính , tiền tệ và chỉ đạo công tác kế hoạch hóa để điều tiết nền kinh tế quốc
dân. Để bảo đảm sự hài hòa trong chính sách điều hành vĩ mô và vận dụng tổng
hợp các đòn bẩy kinh tế, cần phải xây dựng được cơ chế phối hợp qua lại ràng
buộc lẫn nhau giữa tài chính, tiền tệ và kế hoạch.
Ngoài ra, cần xây dựng một hệ tống tổ chức điều hành có uy tín và chế độ
tương quan, nhằm làm cho các cơ quan điều hành vĩ mô có thể độc lập hoạt
động theo chức năng của mình, đồng thời lại có thể phối hợp được nhịp nhàng
theo một mục tiêu thống nhất, tăng cường hiệu quả chỉnh thể của điều hành vĩ
mô. Vận dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế có thể giúp cho hoạt động vi mô
của doanh nghiệp thực sự phù hợp với mục tiêu vĩ mô của nhà nước, thực hiện
phân bổ tối ưu nguồn tài nguyên và hợp lý hóa kết cấu sản nghiệp.
Biện pháp pháp luật bao gồm vận dụng các quy phạm pháp luật và pháp
quy về quản lý kinh tế, làm cho các hoạt động kinh tế có thể được tiến hành theo
trật tự. Trong quá trình chuyển đổi sang thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ
nghĩa, sử dụng biện pháp hành chính trong phạm vi nhất định vẫn cần thiết,
nhưng phạm vi này sẽ ngày càng thu nhỏ cùng với sự hoàn thiện của các biện
pháp kinh tế và biện pháp pháp luật. Cần lấy biện pháp kinh tế là chủ yếu, vận
dụng tổng hợp các biện pháp, phát huy vai trò của hệ thống điều hành vĩ mô,
bảo đảm cho nền kinh tế phát triển cao liên tục và bền vững.

20


Tính chất cơ bản của thể chế kinh tế thị trường XHCN là dưới sự điều tiết
vĩ mô của nhà nước, thị trường đóng vai trò cơ sở trong việc phân phối nguồn
lực; hoạt động kinh tế phải tuân theo quy luật giá trị, phù hợp với quan hệ cung
cầu, thông qua giá cả và cơ chế cạnh tranh để tiến hành phân phối các nguồn
lực vào những lĩnh vực có hiệu quả, thực hiện quy luật đào thải tự nhiên của thị

+ Văn hóa;
+ Khoa học và công nghệ;
+ Thực hiện phân công LĐ quốc tế một cách tự giác.
- Mục đích mở cửa kinh tế trên mọi lĩnh vực tầng bậc nhằm:
Tranh thủ các nguồn tài nguyên quốc tế to lớn bao gồm các mặt vật chất,
vốn, thông tin, tri thức;
Thực hiện phân phối hợp lý các nguồn tài nguyên trong phạm vi rộng và
tích cực tham gia hợp tác, cạnh tranh quốc tế;
Phát huy đầy đủ lợi thế so sánh và ưu thế phát triển theo chiều sâu;
Không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế;
Tăng cường khả năng tự lực cánh sinh và nguồn sức mạnh tổng hợp của
TQ;
Thúc đẩy hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân và tăng cường tiềm lực mọi
mặt cho đất nước.
- Trong việc thực hiện mở cửa, cần ra sức phát triển ngoại thương, mở rộng
xuất khẩu, tích cực thu hút thiết bị, kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, tích cực sử dụng
có hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài.
Không chỉ sử dụng tiền vay chính phủ nước ngoài, tiền vay của IMF… mà
còn cho phép thương nhân nước ngoài đầu tư trực tiếp, thành lập các doanh
nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài;
Thậm chí còn đầu tư ra nước ngoài và phát hành trái khoán, tích cực phát
triển công trình nhận thầu nước ngoài và hợp tác lao động, phát triển viện trợ kỹ
thuật - kinh tế đối ngoại và hợp tác cùng có lợi dưới nhiều hình thức;
Học hỏi sáng tạo những phương thức kinh doanh và quản lý tiên tiến của
các nước phát triển.
22


- Xây dựng những đặc khu kinh tế để thực hiện chủ trương mở cửa kêu gọi
đầu tư, hợp tác kinh tế với nước ngoài của TQ là một sáng kiến quan trọng trên

giữa mở cửa đối ngoại với tăng cường văn minh tinh thần… Xử lý đúng đắn mối
quan hệ này trên thực tế vẫn luôn là thách thức đặt ra cho TQ và là vấn đề không
thể xem thường trong bối cảnh TCH và sự phức tạp của tình hình chính trị thế
giới ngày nay.
4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của mô hình kinh tế thị trường XHCN
đặc sắc Trung Quốc
Đề xuất lý luận xây dựng nền kinh tế thị trường XHCN đặc sắc TQ có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn:
* Đối với TQ:
- Đây là bước đột phá lớn so với lý luận XHCN truyền thống và mang ý
nghĩa thời đại trong lĩnh vực kinh tế chính trị học, làm phong phú và phát triển
lý luận kinh tế chính trị học của chủ nghĩa Mác - Lênin.
- Tháo gỡ những ràng buộc về tư tưởng, đem lại nhận thức mới về kinh tế
kế hoạch hóa và kinh tế thị trường, coi chúng thuộc vào những chế độ kinh tế cơ
bản của XH, từ đó đặt nền móng lý luận cho việc xây dựng thể chế kinh tế thị
trường XHCN đặc sắc TQ.
- Tạo cơ sở lý luận cho việc mở cửa toàn diện lĩnh vực đối ngoại, thúc đẩy
TQ hướng ra thế giới một cách tích cực, năng động nhằm nhanh chóng hiện đại
hóa đất nước, hiện đại hóa CNXH và bắt kịp xu hướng phát triển chung của thời
đại.
* Đối với Việt Nam:.
Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN có nhiều nét tương đồng với TQ, thì mô hình kinh tế
thị trường XHCN đặc sắc TQ là những kinh nghiệm phong phú, bổ ích mà VN
có thể và cần phải nghiên cứu, tham khảo để phục vụ cho việc xây dựng thành
công của CNXH.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu và học tập kinh nghiệm của TQ, VN cũng cần
nhận diện sâu sắc những khác biệt giữa ý nguyện của ĐCS TQ được thể hiện
trong các văn kiện với diễn biến thực tế đời sống KT - XH Trung Quốc.
24

4

Thông tấn xã VN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 4/11/2002.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status