LỜI GIỚI THIỆU
Từ năm 1975, khi cả nước độc lập. Cách mạng dân tộc dân chủ hoàn
thành trên phạm vi cả nước thì cả nước cùng tiến hành cách mạng xã hội chủ
nghĩa xã hội. Đảng ta đã chủ trương giữ vững quan điểm cũng như con đường
mà chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn là tiến lên chủ nghĩa xã hội, quyết tâm
đưa đất nước trở thành một nước giàu mạnh về kinh tế, ổn định về kinh tế chính
trị, xã hội công bằng văn minh. Để đạt được như vậy, Đảng ta đã chủ trương
phải ưu tiên phát triển kinh tế và coi đó là vấn đề sống còn và một trong số đó là
xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trên thực tế vấn đề nhà nước và thị trường là mối quan tâm hàng đầu của
nhiều nhà kinh tế trong nhiều thập kỷ qua. Do đó mà ở nước ta cũng như các
nước khác trên thế giới muốn tìm tòi mô hình quản lý kinh tế vĩ mô thích hợp và
hiệu quả hơn. Trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khoá VIII
trình đại hội IX của Đảng ta có đề cập: “ Nhà nước quản lý kinh tế bằng pháp
luật, chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, chính sách nhằm phát huy mặt tích cực,
hạn chế mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường, bảo vệ lợi ích của nhân dân lao
động”
Chính vì vậy mà xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là một yếu tố tất yếu cơ bản của quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở nước
ta, và nhờ có đường lối đúng đắn kinh tế nước ta đã thoát khỏi những khủng
hoảng đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiên đáng kể,
chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh quốc gia được giữ vững. Nước ta từ
một nứoc có nên kinh tế quan liêu, bao cấp đã từng bước chuyển sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dựa trên quy luật giá trị và tín hiệu
cung cầu của thị trường.
I. Nghiên cứu cơ sở lý luận về nền kinh tế định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta
1. Khái niệm về nền kinh tế thị trường
Theo quan điểm của Samuelson trích trong kinh tế học thì: “ Một nền
kinh tế hàng hoá. Phân công lao động đang phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều
sâu. nhiều ngành nghề mới đã ra đời, đặc biệt là những ngành công nghiệp có
hàm lượng kỹ thuật kết tinh trong sản phẩm cao như điện tử, tin học… Bên cạnh
đó các làng nghề cổ truyền cũng đang phát triển mạnh mẽ. Các sản phẩm của
ngành đang từng bước khẳng định thương hiệu trên thị trường trong nước và
quốc tế. Đây chính là những thế mạnh củaViệt Nam trong quá trình hội nhập
kinh tế thế giới.Sự phát triển này đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng của lực
lượng sản xuất.
Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần VI. Việt Nam đã chính thức thừa
nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Nhờ đó các thành
phần kinh tế này đã có những điều kiện cần thiết để phát triển. Từ đó xuất hiện
sự khác biệt giữa các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động.
Đây chính là điều kiện đủ để nền kinh tế hành hoá có cơ sở ra đời. Khác biệt về
sở hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động đã tạo ra động lực to lớn để
thúc đẩy kinh tế phát triển mặc dù mặt trái của nó là sự phân hoá về giàu và
nghèo.
Sau một thời gian dài duy trì cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã đến
lúc chúng ta cần một sự chuyển đổi để phát triển kinh tế. Cơ chế thị trường với
những ưu thế không thể chối cãi là một sự lựa chọn hợp lý và cần thiết. Cơ chế
quản lý cũ cồng kềnh, kém năng lực đã không còn phù hợp với tình hình trong
nước và quốc tế. Những căn bệnh đặc trưng của cơ chế cũ như bảo thủ, trì trệ,
kém năng lực hình thành nên bộ máy quản lý thiếu chuyên môn nghiệp vụ
nhưng lại có thái độ quan liêu, cửa quyền cần phải được thay đổi. Thực tế cho
thấy trải qua gần hai mươi năm đổi mới gây dựng nhưng chúng ta vẫn phải thực
hiện các cuộc chỉnh đốn Đảng, cải cách bộ máy hành chính chứng tỏ những
quan niệm cũ sai lầm đã ăn sâu bám rễ như thế nào. Việc xoá bỏ hoàn toàn
không dễ dàng, không thể hoàn thành trong một sớm một chiều nhưng đó là việc
cần thiết để thúc đẩy kinh tế phát triển. Cùng với cơ chế cũ cũng là sự bất cập
khi nhà nước can thiệp quá sâu vào sản xuất kinh doanh, điều hành không tuân
gia, thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách nhanh chóng.
Trong quan hệ quốc tế chúng ta có nhiều đổi mới quan trọng. Chúng ta đã
chuyển quan hệ quốc tế từ đơn phương sang đa phương, quan hệ với tất cả các
nước không phân biệt chế độ chính trị, theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và
không can hệ vào chuyện nội bộ của nhau.
4. Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta
Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát
triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân lao động và tất cả các thành
viên trong xã hội. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng
quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.
Về sở hữu sẽ phát triển theo hướng còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu
khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo. Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản
xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất,
cải thiện đời sống nhân dân và thực hiện công bằng xã hội nên phải từng bước
xác lập và phát triển chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu một
cách vững chắc, tránh nóng vội xây dựng ồ ạt mà không tính đến hiệu quả như
trước đây.
Về quản lý trong kinh tế thị trường địng hướng xã hội chủ nghĩa phải có
sự quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ quản lý
nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách đồng thời sử dụng
cơ chế thị trường, các hình thức kinh tế và phương thức quản lý kinh tế thị
trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực và
hạn chế những mặt tiêu cực, khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích
nhân dân lao động và toàn thể quần chúng nhân dân.
Về phân phối kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện
phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân
triển, sản xuất nhỏ là phổ biến và nặng nề tính tự cung tự cấp. Trình độ trang
thiết bị kỹ thuật trong sản xuất cũng như trong kết cấu hạ tầng kinh tế văn hoá
xã hội lạc hậu, mất cân đối, chưa tạo được tích luỹ trong nước và lệ thuộc nhiều
vào bên ngoài. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu quả
tiêu cực do đó nền kinh tế hoạt động với hiệu quả thấp.
Khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra nhiều với đặc trưng sản xuất chậm và
không ổn định, lạm phát lên đến 774,7% năm 1986. Tài nguyên thiết bị lao động
và tài năng mới được sử dụng thấp. Đời sống nhân dân thiếu thốn, nếp sống văn
hoá tinh thần và đạo đức kém lành mạnh, trật tự an toàn xã hội không được đảm
bảo, tham nhũng nhiều và tệ nạn xã hội phát triển.
Trên thực tế nền kinh tế nước ta từ nghị quyết hội nghị lần thứ 6 ban chấp
hành Trung ương khoá IV (năm 1979) các quan hệ hàng hoá tiền tệ đã được
chấp nhận nhưng mới ở mức độ thứ yếu. Đó là do qua nhiều thập kỷ qua, tư
tưởng kinh tế xã hội chủ nghĩa mang nặng thành kiến coi quan hệ hàng hoá và
cơ chế thị trường là biểu hiện thuộc tính của chế độ tư hữu và tư bản. Mặt khác
là do chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình dập khuôn giáo điều chủ
quan duy ý chí các mặt bố trí cơ cấu kinh tế thiếu về phát triển công nghiệp
nặng, quy mô lớn với xoá bỏ các hình thức kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư
liệu sản xuất, phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, nặng nề hình thức
phủ nhận nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường, bộ máy quan liêu cồng
kềnh kém hiệu quả. Những sai lầm đó đã dẫn đến việc kìm hãm lực lượng sản
xuất và nhiều động lực phát triển, cuộc cải cách kinh tế bị đẩy lùi. Tư tưởng
Lênin trong chính sách kinh tế Mác bị xem như bước lùi tạm thời bất đắc dĩ.
2. Sau đổi mới
Khi chuyển sang kinh tế thị trường chúng ta đứng trước thực trạng là đất
nước đã và đang từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, từ một xã hội vốn là
thuộc địa nửa phong kiến, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội thấp.
Không những thế, đất nước ta lại trải qua hàng chục năm chiến tranh, hậu quả để
lại vô cùng nặng nề, những tàn dư thực dân phong kiến còn nhiều, lại chịu ảnh
trường ngày càng đầy đủ và thông suốt, thống nhất trên phạm vi cả nước, phải
gắn thị trường trong nước với thị trường quốc tế.
Thứ hai về thực trạng của nền kinh tế nước ta khi chuyển sang nền kinh tế
thị trường là ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp. Hai cơ chế kinh tế cũ và mới (cơ chế tập trung quan liêu bao cấp và
thị trường) có nhiều đặc điểm khác nhau, điểm khác nhau cơ bản nhất là: cơ chế
cũ hình thành trên cơ sở thu hẹp hoặc gần như xoá bỏ quan hệ hàng và tiền tệ,
làm cho nền kinh tế bị “ hiện vật hoá” còn cơ chế mới hình thành trên cơ sở mở
rộng quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Quy luật tồn tại trong cơ chế giao nộp và cấp phát chỉ là hình thức, việc
mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá là một tất yếu lịch sử cho nên hạn chế
quuan hệ hàng hoá tiền tệ và quy luật giá trị trở thành sự cản trở tiến bộ kinh tế,
kìm hãm nhân tố mới. Do đó làm cho nhà nước không thể làm chủ những quá
trình kinh tế khách quan mặc dù trong tay nhà nước có thực lực kinh tế to lớn.
Vì vậy, đại hội lần thứ VII Đảng ta đã khẳng định: Xoá bỏ triệt để cơ chế quản
lý tập trung quan liêu bao cấp hình thành cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà
nước bằng pháp luật, kế hoạch chính sách và các công cụ khác. Xây dựng và
phát triển đồng bộ hàng tiêu dùng, vật tư, dịch vụ sức lao động… thực hiện kinh
tế thông suốt trong cả nước và với thị trường thế giới.
Xuất phát từ nhiệm vụ bao trùm về chính sách đối ngoại và quan điểm:
“Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu
vì hoà bình, độc lập và phát triển”, chính sách knh tế đối ngoại của nền kinh tế
hàng hoá nước ta hiện nay được thực hiện theo những định hướng sau:
Đa dạng hoá, đa phương hoá kinh tế với mọi quố gia, mọi tổ chức kinh tế
không phân biệt chế độ chính trị trên nguyên tắc tôn trong độc lập chủ quyền
bình đẳng và cùng có lợi. Củng cố và tăng cường vị trí của Việt Nam ở các thị
trường quen thuộc và với bạn hàng truyền thống, tích cực thâm nhập và tạo chỗ
đứng ở thị trường mới, phát triển các mối quan hệ dưới mọi hình thức.
Kinh tế đối ngoại là một trong các công cụ kinh tế bảo đảm cho việc thực
nhưng phải thừa nhận chúng ta đã không có nhưng thông tin cần thiết và cũng
không tiến hành những hoạt động mà đáng ra chúng ta phải thực hiện trước khi
thâm nhập và thành công trên thị trường khó tính này. Một hạn chế khác là
chúng ta vẫn còn tồn tại những nghành kinh tế còn quá yếu kém khi mà chúng ta
đã và đang dỡ bỏ một số hạn ngạch thuế quan cho một số mặt hàng để chuẩn bị
cho quá trình tham gia tổ chức thương mại quốc tế WHO. Nguyên nhân của sự
khó khăn này một phần là do còn có nhưng ngành kinh tế hoạt động không hiệu
quả đặc biệt trong sử dụng vốn. Một phần là do một phần những ngành khác có
tỷ lệ nội địa hoá thấp. Ngoài ra vẫn phải thừa nhận là các ngành kinh tế Việt
Nam phát triển phần lớn là dựa vào sự tăng lên về vốn. Theo thống kê gần đây
thì trong cơ cấu một đồng sản phẩm tăng lên thì có tới 74% là do tăng về vốn,
14% do lao động và chỉ có 12% là do sự tăng lên về năng suất thôi. Trong những
nghành có tỷ lệ nội địa hoá thấp thì có thể kể đến ngành ô tô và công nghệ tin
học, phần lớn hàng hoá sản xuất trong nước mới dừng ở mức lắp ráp sản phẩm
linh kiện nhập từ nước ngoài về.Ví dụ ngành ô tô tỷ lệ nội địa hoá mới ở mức
8%, cao nhất là Toyota Việt Nam tỷ lệ này cung chỉ đạt 14%. Hiện nay một
trong những vấn đề mà các nhà quản lý không thể giải quyết mâu thuẫn giữa
việc giảm để kích thích tiêu dùng các loại hàng hoá đồng thời phải tăng thuế để
buộc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ nội địa hoá.
Đó là trên sân nhà, còn trên thị trường thế giới thì sao? Nói chung hàng
hoá Việt Nam vẫn còn chủ yếu cạnh tranh bằng giá. Nói chung công nghệ sản
xuất của Việt Nam còn khá lạc hậu nên hàng hoá có giá trị thấp, hàm lượng
khoa học không cao. Kết quả dễ thấy là lợi nhuận sẽ thấp. Trong khi đó, Việt
Nam lại chưa vươn tới những thị trường dễ tính như châu Phi, Đông Âu… mà
chủ yếu hàng hoá xuất sang EU, Nhật và Mỹ vốn là những thị trường khó tính
đòi hỏi những tiêu chuẩn khắt khe. Các tham tán thương mại cũng chưa hoạt
động hiệu quả trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường. Một vấn đề
nữa là hàng hoá Việt Nam vẫn hay bị một số nước mua lại, dán nhãn mác khác
để bán ra thị trường. Đây là một thiệt thòi lớn cho chúng ta không chỉ là lợi
nhuận mà còn liên quan đến những quyền lợi và tài sản vô hình khác.
Thừa nhận trên thực tế tồn tại nhiều thành phần kinh tê trong thời kỳ quá
độ là một trong những điềukiện cơ sở để thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển,
nhờ đó mà sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế.
Cùng với việc đổi mới, củng cố kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác, thừa
nhận việc khuyến khích các thành phần kinh tế cá thế, tư nhân phát triển là nhận
thức quan trọng về xây dựng chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ. Theo hướng đó mà
khu vực kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể và các hình thức kinh tế
hỗn hợp khác đều được khuyến khích phát triển theo định hướng tiến lên chủ
nghĩa xã hội. Tất cả các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, tuy vị
trí, quy mô, tỷ trọng, trình độ có khác nhau nhưng tất cả đều là nội lực của nền
kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
2. Mở rộng phân công lao động, phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, tạo
lập đồng bộ các yếu tố thị trường
Phân công lao động là cơ sở của việc trao đổi sản phẩm. Để đẩy mạnh
phát triển kinh tế hàng hoá, cần phải mở rộng phân công lao động xã hội, phân
bố lại lao động và dân cư trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương,
từng vùng theo hướng chuyên môn hoá, hợp tác hoá nhằm khai thác mọi nguồn
lực, phát triển mọi ngành nghề, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật
hiện có và tạo việc làm cho người lao động. Cùng với mở rộng phân công lao
động xã hội trong nước, phải tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài
nhằm gắn phân công lao động trong nước và phân công lao động quốc tế, gắn thị
trường trong nước và thị trường quốc tế. Nhờ đó mà thị trường trong nước từng
bứơc được mở rộng, tiềm năng về lao động, tài nguyên, cơ sở vật chất hiện có
được khai thác có hiệu quả. Thị trường được khai thông trên khắp mọi miền của
đất nước, gắn liền với thị trường thế giới.
Cần phải tiếp tục phát triển mạnh thị trường hàng hoá và dịch vụ, hình
thành thị trường sức lao động có tổ chức, quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường
nhà cửa, xây dựng thị trường vốn, từng bước hình thành thị trường chứng khoán.
Để khai thác có hiệu quả tiềm năng về vốn, sức lao động, công nghệ, tài
nguyên, thực hiện mở rộng phân công lao động xã hội, cần phải từng bước hình
Hệ thống pháp luật đồng bộ là công cụ rất quan trọng để quản lý nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần. Nó tạo nên hành lang pháp lý cho tất cả mọi hoạt
động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Với hệ
thống pháp luật đồng bộ và pháp chế nghiêm ngặt, các doanh nghiệp chỉ có thể
làm giàu trên cơ sở tuân thủ luật pháp.
Đổi mới chính sách tài chính tiền tệ, giá cả nhằm mục tiêu thúc đẩy phát
triển, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, bảo đảm quản lý thống
nhất nền tài chính quốc gia, giảm bội chi ngân sách, góp phần khống chế và
kiểm soát lạm phát; xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng.
5. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô, đào tạo đội
ngũ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi
Hệ thống điều tiết kinh tế vĩ mô phải được kiện toàn, phù hợp với nhu cầu
kinh tế thị trường, bao gồm điều tiết bằng chiến lược và kế hoạch kinh tế, pháp
luật chính sách và các đòn bẩy kinh tế, hành chính giáo dục, khuyến khích, hỗ
trợ và cả răn đe, trừng phạt, ngăn ngừa, điều tiết thông qua bộ máy nhà nước,
các đoàn thể…
Mỗi cơ chế quản lý kinh tế có đội ngũ cán bộ quản lý kinh doanh tương
ứng. Chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định
hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi chúng ta phải đẩy mạnh sự nghiệp đào tạo và
đào tạo lại đội ngũ quản lý kinh tế, cán bộ kinh tế, cán bộ kinh doanh cho phù
hợp với mục tiêu phát triển kinh tế trong thời kỳ mới. Đội ngũ đó phải có năng
lực chuyên môn giỏi, thích ứng mau lẹ với cơ chế thị trường, dám chịu trách
nhiệm. chịu rủi ro và trung thành với con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và
nhân dân ta đã chọn. Song song với đào tạo và đào tạo lại, cần phải có phương
hướng sử dụng, bồi dưỡng, đãi ngộ đúng đắn với đội ngũ đó, nhằm kích thích
hơn nữa việc không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh quản lý, tài
năng kinh doanh của họ. Cơ cấu của đội ngũ cán bộ cần phải được chú ý đảm
bảo ở cả phạm vi vĩ mô cũng như lẫn cả vi mô, cả cán bộ quản lý cũng như kinh
doanh.
Tóm lại để đưa đất nước có thể đuổi kịp các nước phát triển trên thế giới
trong một tương lai không xa đồng thời cũng không để chệch hướng theo con
đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã chọn thì nhất thiết chúng ta
phải xây dựng được một nền kinh tế thị trường vững mạnh theo định hướng xã
hội chủ nghĩa và mang bản sắc của người Việt Nam. Những vấn đề đựơc đề cập
trên đây mới chỉ là một vài biện pháp mà chúng ta cần làm trong thời gian trước
mắt để tiếp tục ổn định và khắc phục những hạn chế của nền kinh tế thị trường
và sau này trong quá trình phát triển lâu dài của đất nước.
Nhất là trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới theo xu hướng toàn
cầu hoá nền kinh tế thế giới thì khi đó sẽ mở ra rất nhiều cơ hội cũng như những
thách thức đòi hỏi chúng ta phải thật sáng suốt nếu không muốn bị lâm vào tình
thế bị động trước những diễn biến của nền kinh tế thị trường. Nó có thể gây ra
những hậu quả nghiêm trọng như: sự phân hoá giàu nghèo ngày càng lớn, tệ nạn
xã hội ngày càng tăng và phức tạp, các truyền thống bị thương mại hoá, nạn lạm
phát gia tăng…
Chính vì vậy, chúng ta cần phải trau dồi kiến thức cho thật tốt, bên cạnh
đó là nhân phẩm của một người sinh viên, là tầng lớp trí thức trong xã hội sẽ đi
đầu trong mọi việc mà Đảng và nhà nước tiến hành để góp phần vào việc hoàn
thiện nền kinh tế thị trường tiến tới việc xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1) Giáo trình kinh tế chính trị_Đại học Kinh tế Quốc dân
2) Xây dựng nền kinh tế thị trường địng hướng xã hội chủ
nghĩa_Nguyễn Nhâm
3) Giáo trình Kinh tế chính trị Mác-Lênin _ NXB Chính trị quốc gia
4) Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam_GS - TS Chu Văn Cấp.
5) Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mâu thuẫn và
phướng giảI quyết_TS Nguyễn Tấn Hùng