NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC
ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG
TP.HỒ CHÍ MINH
TIỂU LUẬN MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài:
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: LÊ HÙNG
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN LÊ MAI ANH
Lớp: Cao đẳng 19E1
Tp Hồ Chí Minh, tháng 03 năm 2005
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI GIỚI THIỆU
Hiện nay việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu,
bao cấp sang nền kinh tế thò trường xã hội chủ nghóa là một nhiệm vụ trung tâm
của các nước xã hội chủ nghóa trong lónh vực kinh tế. Đây là một vấn đề không
đơn giản đòi hỏi phải nghiên cứu để giải quyết một cách sáng tạo hàng loạt vấn
đề. Tuy nhiên trong thời đại của thông tin hiện đại và khoa học_ kó thuật tiên
tiến, mỗi nước có thể rút ngắn quá trình thực hiện việc chuyển đổi cơ chế kinh
tế, giảm bớt đến mức thấp nhất cái giá phải trả trong quá trình chuyển đổi đầy
khó khăn ấy bằng cách học tập cách làm của các nước khác để giải quyết từng
bước vấn đề trong điều kiện cụ thể của nước mình, sáng tạo cách làm có hiệu
quả nhất.
Ở hầu hết các quốc gia này, những thiếu sót của của chính sách kinh tế
mang một số đặc điểm của kinh tế kế họach hóa trong quá khứ ngày càng trở
nên rõ ràng. Việc kế họach hóa các qui trình kinh tế đã bò lung lay hòan tòan.
Những ảnh hưởng nghiêm trọng bắt nguồn từ sự méo mó của giá cả dẫn tới việc
phân bổ không hợp lý các nhân tố sản xuất đã được đưa ra ánh sáng. Người ta
là một tất yếu khách quan của loài người và mục tiêu của chủ nghóa xã hội là
hướng tới sự phồn thònh , bình đẳng và văn minh , trong đó vấn đề bình đẳng là
then chốt nhất . Vì vậy , phát triển kinh tế thò trường đònh hướng xã hội chủ
nghóa là quá trìng sử dụng kinh tế thò trường hưo81ng vào việc phục vụ một xã
hội phồn thònh , bình đẳng và văn minh , trong đó Nhà Nước xã hội chủ nghóa
Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết đònh cho đònh hướng đó .
• Mục đích nghiên cứu nền kinh tế thò trường xã hội chủ nghóa:
Nghiên cứu nền kinh tế thò trường xã hội chủ nghóa một cách rõ ràng để
có thể áp dụng thực tiễn vào Việt Nam , giúp Việt Nam xóa bỏ nền kinh tế kế
hoạch hóa tập trung , quan liêu , bao cấp chuyển sang nền kinh tế thò trường xã
hội chủ nghóa . Ở Trung Quốc trước đây trong đại hội Đảng cộng sản Trung
Quốc lần XIV đã nêu rõ mục tiêu cải cách cơ chế thò trường của Trung Quốc là
xây dựng cơ chế thò trường xã hội chủ nghóa . Hiện nay Trung Quốc ở trong thới
kỳ quan trọng là từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế
thò trường theo đònh hướng xã hội chủ nghóa. Sự chuyển biến này mang ý nghóa
bước ngoặt trong lòch sử phát triển của chủ nghóa xã hội .
Trước đây nói đến chủ nghóa xã hội về cơ chế kinh tế là nói đến thực
hiện kinh tế kế hoạch hóa . Chúng ta đã thực hiện mấy chục năm kinh tế kế
hoạch hóa , đã đạt được không ít thành tích , nhưng cùng với tình hình biến đổi ,
những khuyết điểm cũng ngày càng bộc lộ rõ rệt hơn . Từ hội nghò toàn thể ban
chấp hàng trung ương Đảng lần thứ ba ( khóa XI ) đến nay . trong thực tiễn cải
cách làm sáng tỏ chân lý : khi từ bỏ cơ chế kinh tế kế họach hóa tập trung , quan
liêu , bao cấp , phát huy thật sự tác dụng của cơ chế thò trường , trên cơ sở bố trí
tài nguyên nền kinh tế xã hội xã hội chủ nghóa có thể bừng lên sức sống và sinh
lực mới , có thể thúc đẩy phát huy mạnh mẽ hơn hẳn của chế độ xã hội chủ
nghóa.
Do còn nhiều hạn chế về mặt kiến thức nên tiểu luận còn nhiều hạn chế
và thiếu sót . Mong thầy cô chấp nhận và bổ sung những thiếu sót cho tiểu luận
này . Em thành thật cảm ơn .
Sinh viên
khuôn nước ngoài, kết hợp những sáng kiến “ phá rào ” của nhân dân, của cơ sở
với những bước tiến trong chính sách, trong chỉ đạo của các cơ quan có trách
nhiệm của Đảng và Nhà Nước. Kết quảngày càng rõ hơn, sáng kiến có giá trò
hơn, từ chỗ chỉ cải tiến trong cái cũ, mở ra cái mới .
II/ KINH TẾ VIỆT NAM TRƯỚC VÀ SAU THỜI KỲ ĐỔI MỚI
NĂM 1986:
1/ Trước thời kỳ đổi mới:
Tình hình những năm 80 khi chưa có đường lối đổi mới, đất nước chìm
trong suy thoái, xã hội lâm vào khủng hoảng tưởng chừng không có lối ra. Tiếp
đó, các nướcxã hội chủ nghóa Đông u, Liên Xô lần lượt tan rã kéo theo không
ít những tác động bất lợi đối với nước ta, khiến cho nguồn viện trợ quốc tế bò
chấm dứt đột ngột, nợ nước ngoài chồng chất, sản xuất kinh doanh đình đốn, lạm
phát tăng đến ba con số, vật giáleo thang, đời sống người dân ngày một sa sút
v.v…Cộng vào đó Mỹ siết chặt bao vây cấm vận làm cho khó khăn vốn đã gay
gắt càng được tích tụ đến đỉnh cao .
Trước tình thế hiểm nghèo đó, không ít người đã hoang mang dao động,
giảm long tin vào đường lối đổi mới của chúng ta. Bè bạn và những người có
long tri ở bên ngoài tuy thông cảm nhưng lại rất lo cho ta, ít ai tin ta có thể đứng
vững được trước những khó khăn chồng chất
2/ Sau thời kỳ đổi mới:
Giữa những năm 80 nền kinh tế Việt Nam phát triển rất kém, mặc dù có
một khối lượng viện trợ rất lớn của Liên Xô. Đặc chưng của nền kinh tếvó mô
lúc này là tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người đình trệ, lạm phát tăng
cao, những vấn đề cán cân thanh toán thường xuyên lắp đi lắp lại. Đứng trước
tình hình đó ban lãnh đạo đã bắt đầuthực hiện một số thay đổi rất mạnh mẽ cả
trong chính sách đối ngoại lẫn trong việc quản lý kinh tế ở trong nước.Chương
trình đổi mới đầy khát vọng của Việt Nam bắt đầu năm 1986và được đẩy mạnh
vào năm 1989. Những nét chính của nỗ lực này nhằm đònh hướng lại hệ thống
kinh tế là
Những cuộc cải cách ở nông thôn: chế độ tập thểbò bỏ đi rất nhiều và
Chi phí xã hội cho điều chỉnh : Chính Phủ đã bắt đầu thực hiện một số
chương trình tiến bộ nhằm giải quyết tình trạng thất nghiệp trong thời kỳ chuyển
tiếp do chương trình cải cách gây nên, bao gồm các kế hoạch đào tạo lại và cho
vay với lãi suất thấp cho khu vực tư nhân quy mô nhỏ .
3/ Những thành tựu kinh tế sau thời kỳ đổi mới
Các cuộc cải cách trong năm 1989 đã đem lại sự tăng trưởng ban đầu
của tổng sản phẩm, đặc biệt là trong nông nghiệp và dòch vụ, tổng sản phẩm
trong nước đã tăng 8% trong năm 1989. Tuy nhiên lúc bấy giờ Việt Nam vẫn còn
đang nhận được sự giúp đỡ quan trọng của Liên Xô. Tiền dành dụm từ nguồn
của nước ngoài đưa vào Việt Nam chấm dứt hẳn trong khoảng thời gian từ 1989
đến 1991 và điều này không tránh khỏi có ảnh hưởng đến sự phát triển. Tuy
nhiên điều bất ngờ là sự phát triển chỉ giảm sút rất nhẹ, với mức tăng tổng sản
phẩm trong nước giảm xuống 5,1% năm 1990 và 6% năm 1991. Năm 1992 là
một năm rất tốt đẹp đối với Việt Nam. Lúc ấy nền kinh tế đã được phục hồi
hoàn toàn sau cú sốc do sự sụp đổ của Liên Xôgây nên và mức tăng trưởng đã
lên tới 8,3%. Trong lúc thành tựu phát triển gần đây là tốt đẹp, vẫn có những lý
do cần được quan tâm về triển vọng của sự phát triển sau này. Phần lớn trong số
gia tăng của tổng sản phẩm là do hai phân ngành đem lại dầu lửa và lúa gạo. Để
giữ vững được sự phát triển, Việt Nam cần cuốn hút thêm nhiều ngành nữa vào
sự phát triển của nó.
Về đầu tư: có hai điều rất đáng ngạc nhiên trong tình hình đầu tư của
Việt Nam. Thứ nhất, nhòp độ đầu tư phổ biến không giảm sút trong thời kỳ 1989
–1992, mặc dù viện trợ của của bên ngoài giảm rất mạnh. Thứ hai, tổng đầu tư
vẫn rất thấp đối với nhòp độ trung bình 6,9% trong thời thời kỳ đó. Việt Nam đã
làm được việc to lớn là thay thế tiết kiệm từ nguồn của nước ngoài bằng tiết
kiệm ở trong nước và đã đã tỏ ra đầu tư có hiệu quả rất cao trong những năm
gần đây. Trong thời gian từ 1989 đến 1992, tổng đầu tư tăng đang lên tới 12%
tổng sản phẩm trong nước. Tuy nhiên trong thời kỳ này, cơ cấu đầu tư đã thay
đổi. Chương trình đầu tư của chính phủ đã giảm mạnh từ 6,7% tổng sản phẩm
trong nước, năm 1989 xuống chỉ còn 3,1% năm 1991 trước khi gần phục hồi lại
Nam cần phải phát triển kết cấu hạn hạ tầng cần thiết cho sự phát triển nhanh
chóng vững chắc. Chính phủ sẽ khó mà xử lý được những sự thúc ép đó, nếu
không có một khối lượng lớn viện trợ của nước ngoài. Đồng thời chính phủ có cơ
hội tăng tiết kiệm của mình thông qua việc huy động tốt hơn nữa các nguồn lực
và quản lý chặt chẽ hơn nữa chi phí đònh kỳ. Những nhu cầu đầu tư công cộng có
thể được đáp ứng tốt nhất thông qua việc kết hợp viện trợ của nước ngoài với
tiết kiệm cao hơn nữa của chính phủ.
Ngoài ra, Việt nam còn đạt được những thành tựu trong các lónh vực
khác của kinh tế vó mô như trong cán cân thanh toán xuất nhập khẩu, tỷ giá hối
đoái….
CHƯƠNG II
CHƯƠNG II
NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ
NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ
TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ
PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT
PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT
I/ NHỮNG VIỆC CẦN LÀM ĐỂ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG XÃHỘI CHỦ NGHĨA .
Để phát triển nền kinh tế thò trường xã hội chủ nghóa , Đảng và Nhà
Nước ta cần phải :
1/ Phát triển các loại hình doanh nghiệp:
Để hình thành và phát triển nền kinh tế thò trường đònh hướng xã hội chủ
nghóa , việc công nhận , bảo hộ chế độ đa sở hữu và phát triển các doanh nghiệp
thuộc các thành phần kinh tế có ý nghóa cực kỳ quan trọng , do các doanh nghiệp
luôn là những chủ thể quan trọng nhất của các nền kinh tế .
Trong những năm đổi mới vừa qua , đồng thời với việc đã hiến pháp hóa
chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần , công nhận , bảo vệ chế độ đa sở
hữu , trong đó có sở hữu tư nhân, Đảng và Nhà Nước đã từng bước xây dựng ,
Trước tình hình đó, việc cải cách doanh nghiệp Nhà Nước đã trở thành
hết sức cấp bách. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, càng
thấy rõ yêu cầu này. Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang cung ứng những hàng
hóa , dòch vụ chủ yếu là chi phí đầu vào của các doanh nghiệp, thế nhưng kinh
doanh kém hiệu quả , giá thành cao, nếu không gấp rút cải thiện kinh doanh thì
rất khó khăn trong việc giảm chi phí đầu vào , góp phần nâng cao năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp cả nước.
Yêu cầu của việc cải cách doanh nghiệp nhà nước là điều chỉnh cơ cấu
để doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý , tập trung vào những ngành , lónh
vực then chốt và đòa bàn quan trọng , là đa dạng hóa sở hữu , kể cả sở hữu tư
nhân , mục tiêu là sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động và cơ sở vật chất_kỹ
thuật của doanh nghiệp nhà nước , phát triển sản xuất king doanh.
Nghò quyết hội nghò lần thứ 3 của ban chấp hành trung ương Đảng khóa
IX (9_2001) về doanh nghiệp nhà nước đã quyết đònh đến năm 2005 hoàn thành
cơ bản việc sắp xếp điều chỉnh cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hiện có bằng các
hình thức : cổ phần hóa , chuyển một số doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh
nghiệp trực thuộc các tổ chức chính trò , tổ chức chính trò_xã hội sang loại hình
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (còn gọi là công ty hóa ) , sáp
nhập ,giải thể, phá sản, giao, bán,khoán knh doanh,cho thuê.
b/ Doanh nghiệp tư nhân
Đối với doanh nghiệp tư nhân trong một thời gian dài đã không có
những cách nhìn nhận đúng đắn, phù hợp với thực tế, còn nặng giáo điều, bảo
thủ, trong thực tế còn nhiều phân biệt đối xử có tính chất kỳ thò, hạn chế doanh
nghiệp tư nhân mở rộng sản xuất _ kinh doanh. Từ năm 2000 thi hành Luật
doanh nghiệp , trước tình hình doanh nghiệp tư nhân phát triển nhanh chóng
đóng góp phần quan trọng vào sự phát triển của nền kinh tế, đã có những băn
khoăn, lo ngại, vì sự phát triển quá nhanh của kinh tế tư nhân và một số lệch lạc
khó tránh khỏi trong quá trình đó , cho rằng “ quản lý được đến đâu thì mở ra
đến đó “ . nhiều hạn chế, biến tướng của một số ngành và cấp quản lý đã và
đang được tạo ra dưới nhiều hình thức khác nhau để thực hiện cái gọi là “tăng
kinh tế tự chủ , tách biệt về kinh tế và pháp lý khỏi hợp tác xã truyền thống. Từ
năm 1988, hộ gia đình nông dân đã tự mình quyết đònh sản xuất cái gì, sản xuất
bao nhiêu, sản xuất như thế nào, bán cho ai và tự quyết đònh cả giá bán . Đòa vò
nói trên của hộ gia đình không chỉ là kết quả của các biện pháp đổi mới kinh tế
hợp tác, chế độ quản lý đất đai, mà cả các biện pháp cải cách vó mônhư về giá
cả, về thò trường. . . .Kết quả đạt được thật ngoạn mục , ngoài sự mong đợi, nhất
là trên lónh vực sản xuất lương thực . Kể từ thời điểm đo, vấn đề “ăn” từ lâu luôn
là mối lo toan của cả bộ máy nhà nước , kể cả của các nhà lãnh đạo Đảng và
nhà nước trong mấy chục năm dưới cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu ,
bao cấp đã được giải quyết.
Năm 1996, nhằm đổi mới hợp tác xã , quốc hội đã ban hành Luật hợp
tác xã. Ngoài việc qui đònh thành lập, tổ chức quản lý,hoạt động củ hợp tác xã,
luật còn đề ra hàng loạt các ưu đãi dành riêng cho hợp tác xã các loại. Luật hợp
tác xã là khung pháp lý tạo điều kiên vừa để thành lập các hợp tác xã mới , vừa
để chuyển đổi hợp tác xã trước đây sang tổ chức quản lý và hoạt động theo mô
hình hợp tác xã kiểu mới . Thời hạn chuyển đổi dự kiến kết thúc vào cuối năm
1998; nhưng cho đến nay, vẫn còn háng nghìn hợp tác xã chưa chuyển đổi được.
Quy mô của hợp tác xã còn rất nhỏ. Bình quân vốn hoạt động của mỗi
hợp tác xa chó khoảng 758 triệu đồng với số xã viên bình quân 787 xã viên và
197 lao động làm thuê /hợp tác xã. Như vậy, bình quân mỗi xã viên đóng góp
chưa đầy 1 triệu d0ồng, và mỗi chỗ làm việc chỉ có gần 4 triệu đồng (báo cáo
điều tra năm 2003 ).
Hợp tác xã cũng chưa thực hiện tốt chức năng dòch vụ đầu vào, đầu ra
như mong muốn của những người thiết kế chính sách. Thực vậy, chính lực lượng
tư thương buôn bán nhỏ( chứ không phải hợp tác xã )đã tiêu thụ đại bộ phận sản
phẩm cho nông dân cũng như chính họ đã làm tốt hơn chức năng cung cấp dòch
vụ, phân bón, các loại nguyên liệu khác cho các hộ nông dân. Nói cách khác, sự
hợp tác giữa hộ xã viên và tư thương chặt chẽ thì hiệu qủa hơn so với xã viên và
hợp tác xã .
Thực tế phát triển kinh tế nói chung va hợp tác xã nói riêng trong mấy
công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm, theo yêu cầu chuyển dòch cơ cấu
kinh tếc cũng như hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên không phải đã hết những
băn khoăn, lo ngại và phân biệt d0ối xử đối với đầu tư nước ngoài. Dó là những
lo ngại khi có thành phần nước ngoài trong nền kinh tế, cho rằng đây là hình
thức bóc lột của tư bản nước ngoài đối với các nước chấp nhận đầu tư, không
thấy rằng trong điều kiện nền kinh tế toàn cầu hoá như hiện nay, việc thu hút
đầu tư nước ngoài là một hình thức thu hút nguồn lực cần thiết cho công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ;đồng thời cũng là việc làm mà hai bên
cùng có lợi, nhà tư bản bỏ vốn đầu tư được hưởng lợi nhuận thoả đáng. Những
nước kém phát triển thu hút đầu tư nước ngoài là để tăng thêm nguồn vốn cho
đầu tư , du nhập công nghệ mới( đặt biệt là công nghệ từ những nước phát
triển)học tập phương pháp quản lý tiên tiến. Đầu tư nước ngoài ngày càng trở
thành dòng chính trong liên kết kinh tế toàn cầu hiện nay, không chỉ các nước
chậm phát triển cần đầu tư nước ngoài mà ngay các nước phát triển cũng đang
khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài .
2/ Phát triển đồng bộ các loại thò trường:
Hình thành đồng bộ các loại thò trường là một yêu cầu khách quan của
nền kinh tế thò trường đònh hướng xã hội chủ nghóa, có thể ví như một cơ thể
sống phải có đầy đủ các bộ phận của cơ thể. Tuy nhiên, trong cơ thể sống mọi
bộ phận không thể cùng một lúc được hình thành và phát triển như cơ thể lúc đã
trưởng thành. Nền kinh tế thò trường cũng vậy, để có thể vận hành được thì phải
nhen nhóm, ấp ủ, hình thành và phát triển dần từng bước .
Tư duy va chính sáchvề hình thành và phát triển đồng bộ các loại thò
trường được khởi nguồn từ đại hội lần thứ VI của Đảng với tư tưởng giải phóng
sức sản xuất và lưu thông hàng hoá bằng việc thực hiện 3 chương trình mục tiêu
về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Tư duy này được
tiếp tục khẳng đònh và làm rõ hơn tại đại hội lần thứ VII của Đảng, đó là xây
dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thò trường,
có sự quản lý của Nhà Nước theo đònh hướng xã hội chủ nghóa đại hội lần IX của
Đảng vạch ra rõ ràng va dứt khoát hơn chủ trương xây dựng nền kinh tế thò
hành thông thoáng và mang lại hiệu qủa thực.
Có thể nói làm thử, rút kinh nghiệm làm tiếp, làm từng bộ phận tiến tới
làm tổng thể là phương châm chỉ đạo trong công cuộc xây dựng nền kinh tế thò
trường đònh hướng xã hội chủ nghóa, trong việc hình thành và phát triển đồng bộ
các loại hình thò trường là một quá trình liên tục, kiên đònh và cần có thời gian,
không kể nóng vội, cũng không ngập ngừng, do dự, gây ra chậm trễ và tổn thất
nhiều mặt .
* Mức độ phát triển của các loại thò trường
Hiện đang còn có những ý kiến đánh giá khác nhau về mức độ hay trình
độ phát triển của các loại thò trường. Tuy nhiên đa số ý kiến cho rằng ngoại trừ
thò trường hàng hoá và dòch vụ, mà chủ yếu là thò trường hàng hoá, tương đối
phát triển, các thò trường khác còn rất kém phát triển, thậm chí còn ở dạng mạch
nha, chẳng hạn như thò trường khoa học và công nghệ, thò trường bất động sản.
Chính sự kém phát triển của nhiều loại thò trường chủ yếu làm cho nhiệm vụ xây
dựng đồng bộ các loại thò trường gặp rất nhiều khó khăn, ngay như xây dựng
đồng bộ các yếu tố cấu thành của một loại thò trường cụ thể như cũng không hề
đơn giản. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực của toàn Đảng toàn dân, từ những người
làm công tác lý luận đến những người hoạt động thực tiễn, trong đó lý luận cần
thực hiện tốt vai trò của nó là vừa phản ánh thực tiễn vừa hướng dẫn thực tiễn .
3/ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên cơ sở phát huy nội lực và chủ
động hội nhập:
Công nghiệp hoá là quá trình vận động của một nền kinh tế, từ một nền
kinh tế nông nghiệpdựa trên nền tảng kỹ thuật thủ công, mang tính hiện vật, tự
cấp tự túc thành một nền kinh tế công nghiệp. Quá trình công nghiệp hoá như
vậy bao gồm cả việc phát triển của một nền sản xuất công nghiệp quy mô lớn,
xây dựng văn minh công nghiệp và phát triển thể chế của nền kinh tế. Quá trình
công nghiệp hoá có những đặc trưng sau :
Tỷ trọng ngành công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội ngày càng tăng
.
Tỷ trọng lao động tham gia ngành công nghiệp cũng ngày càng tăng lên,
tảng, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát
truiển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, nhằm biến nước ta từ nước nông nghiệp
lạc hậu thành một nước có công nghiệp hiện đại và nông nghiệp hiện đại .”
Trong những năm qua, công nghiệp đã thực sự trở thành đầu tàu trong
việc nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế. Hơn thế nữa cùng với những chính
sách phân phối thu nhập được thực hiện tốt, sự phát triển của ngành công nghiệp
đã có tác động lan tỏa, nâng cao đời sống của người lao động thuộc mọi giai
tầng xã hội .
Chủ trương của Đảng không phải là công nghiệp hoá và hiện đại hoá
mà là công nghiệp, hiện đại hoá trong quá trình phát triển không chỉ đơn thuần
phát triển công nghiệp , mà còn phải thực hiện sự chuyển dòch cơ cấu trong từng
ngành, từng lónh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng công nghệ tiến
bộ, không chỉ đi tuần tự qua các bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, mà
còn kết hợp đồng thời các thành tựu trên nhiều lónh vực và có những mũi nhọn
phát triển đi tắt, đón đầu, không chỉ áp dụng các công nghệ tiên tiến mà còn
phải biết tận dụng và hiện đại hoá công nghệ truyền thống .
Điều quan trọng nhất của hiện đại hoá là các doanh nghiệp đã chú trọng
nhiều hơn đến nghiên cứu, tìm kiếm những giải pháp kỹ thuật và cách thức sản
xuất mới, đổi mới đa dạng hoá sản phẩm.
4/ Xoá đói giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội, phát triển con
người một cách toàn diện:
Đặt con người ở vò trí trung tâm, coi trọng các quan hệ xã hội và đời
sống xã hội và đời sống xã hội là bản chất của chế độ ta . Những thành tựu về
xã hội, ngay trong 30 năm kháng chiến và trong những năm hoà bình xây dựng
trước thời đổi mới, là niềm tự hào chính đáng của dân tộc ta.
Trong dòng tư duy và hành động đặt con người ở vò trí trung tâm, chúng
ta dễ hiểu chủ trương do Đảng ta đề ra trong thời kỳ đổi mớilà kết hợp ngay từ
đầu và trong từng bước, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và công bằng
xã hội.
Điều được bhấn mạnh là kết hợp ngay từ đầu, khi trình độ phát triển
nghó và cách làm của từng thời kỳ, rất khác nhau, thậm chí trái ngược nhau giữa
thời kỳ này với thời kỳ khác, để giải quyết tốt vấn đề công ăn việc làm. Chúng
ta đã phấn đấu để từng bước giúp cho mỗi người lao động có việc làmhữu ích,
sau đó tiến lên có việc làm hợp lý, hàng năm thu xếp công việc cho hàng triệu
người đến tuổi lao động, giảm số người thất nghiệp o83 các thành thò, giảm tình
trạng nông dân hàng năm mỗi người thừa hàng trăm ngày không có việc làm ở
nông thôn, trí thức chưa được sử dụng hết thời gian và khả năng lao động trí óc,
thanh niên tốt nghiệp các loại trường khó tìm công việc, phải chờ đợi dài ngày,
số đông người lao động không được đào tạo nên chỉ giao làn lao động giản đơn .
Xét về những gì đã làm được, kể cả thời bao cấp và thời đổi mới thì
thành tựu là lớn. Xét về yêu cầu và khả năng, thì thời trước cũng như thời nay,
còn xa mới dùng hết khả năng và đạt được yêu cầu. Về điều này, tiếng nói của
số liệu và nhất là tiếng nói thực tế của cuộc sống thật là rõ rệt.
b/ Xóa đói giảm nghèo:
Mục tiêu giảm ngèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia
kiên quyết và sụ hợp tác quốc tế, là một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức, xã
hội, chính trò và kinh tế của cả loài người .
Theo Liên hiệp quốc, để phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và
công bằng, các nước trên thế giớicần tiến công xoá đói nghèobằng một giải
pháp toàn diện, bao gồm xoá bỏ nạn đói và suy dinh dưỡng, bảo đảm an toàn