TÀI LIỆU THAM KHẢO KINH tế CHÍNH TRỊ mở RỘNG QUAN hệ KINH tế QUỐC tế và tác ĐỘNG của nó tới QUỐC PHÒNG AN NINH ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 43

Mở ĐầU
Trong xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá đời sống kinh tế,
thì mỗi quốc gia dân tộc muốn phát triển không thể không
tham gia, hội nhập vào quá trình đó. Mở rộng quan hệ kinh tế
quốc tế là xu thế, là tất yếu, là đều kiện tiên quyết để các nớc thuộc thế giới th ba thoát ra khỏi tình trạng nghèo và kém
phát triển; còn các nớc phát triển ngày càng giàu thêm nhờ thu
đợc những khoản lợi nhuận cách xù từ nớc ngoài. Quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế của mỗi nớc là khác nhau tuỳ thuộc vào
điều kiện kinh tế xã hội trong nớc mà quyết định về quy mô,
mức độ, nội dung, bản chất và các hình thức quan hệ kinh tế
quốc tế của quốc gia đó. Đồng thời quan hệ kinh tế quốc tế
cũng mang lại những cơ hội và thách thức không giống nhau
đối với các nớc khác nhau. Thực hiện công cuộc đổi mới, đất nớc
ta từng bớc tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và
đã thu đợc những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đa đất
nớc thoát ra khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển; nâng cao
năng lực cạnh tranh và vị thế của nền kinh tế đất nớc trên thị
trờng quốc tế. Đó là kết quả của sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng trong xác định đờng lối, chủ trơng, chính sách thực hiện
quan hệ kinh tế quốc tế. Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã
tác động sâu sắc đến toàn bộ lĩnh vực của đời sống xã hội
trong đó lĩnh vực quốc phòng - an ninh cũng không phải là một
ngoại lệ. Nhằm nâng cao nhận thức trong quán triệt ng li,
quan điểm của Đảng cũng nh sự cần thiết mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế và tác động của nó đến quốc phòng - an ninh.

2


Tác giả chọn vấn đề Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế và
tác động của nó tới quốc phòng - an ninh ở nớc ta hiện

trong nớc và thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ.
Ngày nay trớc yêu cầu mở rộng không gian an ninh, chính trị
của các nớc lớn thì các quan hệ kinh tế quốc tế đợc coi là một
công cụ hữu hiệu để thực hiện mục đích của họ. Do vậy xu hớng kinh tế hoá các quan hệ chính trị và chính trị hoá các
quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng phổ biến. Nên trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế mỗi quốc gia dân tộc không thể
không xem xét những tác động của xu hớng này. Đặc biệt sau
khi hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ thì
quan hệ kinh tế quốc tế đã có những chuyển biến, thay đổi
so với quan niệm truyền thống nh; vợt qua hàng rào liên minh
chính trị quân sự đã hình thành trong lịch sử, không phân
biệt ý thức hệ chế độ chính trị; tốc độ tăng ngoại thơng lớn,
cơ cấu hàng hoá thay đổi; có sự gặp gỡ giữa các hình thức tài
chính, tín dụng, pháp lý khác nhau; sự tác động của giá cả,
dịch vụ bất lợi cho các nớc đang phát triển; đan xen tự do hoá
và bảo vệ mậu dịch; có sự khống chế của các tổ chức độc
quyền xuyên quốc gia...
Khi thế giới vẫn còn điều kiện để sản xuất hàng hoá tồn
tại và phát triển thì vẫn còn nhu cầu về trao đổi hàng hoá và
hoạt động của quan hệ hàng-tiền. Lực lợng sản xuất phát triển

4


đẩy nhanh quá trình phân công lao động, chuyên môn hoá
trên phạm vi toàn thế giới thì mỗi quốc gia trở thành một bộ
phận, một mắt khâu của quá trình đó. Chính quá trình quốc
tế hoá đời sống kinh tế đã mang lại những lợi ích kinh tế cho
tất cả các nớc khi tham gia; với nớc phát triển giúp cho việc bành
trớng mau lẹ sức mạnh kinh tế ra nớc ngoài thông qua mở rộng

tăng thêm sự phụ thuộc lẫn nhau giữa nền kinh tế các nớc. Quốc
tế hoá, toàn cầu hoá là kết quả tất yếu của phát triển lực lợng
sản xuất, mà lực lợng sản xuất phát triển là cơ sở của phân
công lao động tạo ra sự chuyên môn hoá ngày càng cao, làm
tăng tính sự

phụ thuộc lẫn nhau về; kinh tế, khoa học, ký

thuật. Nhiều sản phẩn đợc đăng ký ở một nớc nhng tham gia
sản xuất nó có hàng trăm công ty ở hàng chục nớc, ví dụ: Hãng
Bô-ing có 650 công ty ở 30 nớc, hãng Pho có 165 công ty ở 20
nc tham gia. Chính quá trình toàn cầu hoá đã mở ra những
cơ hội để chúng ta hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt sau khi
hệ thống các nớc xã hội chủ nghĩa sụp đổ đã mang lại những
thách thức vô cùng to lớn đối với nền kinh tế, nhng cũng trong
hoàn cảnh khó khăn đó đã tạo ra cho chúng ta cơ hội để thực
hiện quan hệ kinh tế quốc tế với những nội dung, hình thức,
đối tác phong phú hơn, linh hoạt hơn.
Hai là; Xuất phát từ yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hóa đất nớc, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho
chủ nghĩa xã hội ở nớc ta.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc là nhiệm vụ trung
tâm của thời kỳ quá độ, nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ

6


thuật cho chủ nghĩa xã hội. Với xuất phát điểm từ nền sản xuất
nhỏ là chủ yếu, quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn
chế độ t bản chủ nghĩa; muốn phát triển kinh tế phải tiến

Đảng ta nền kinh tế độc lập thự chủ đợc định nghĩa nh sau.
Nền kinh tế độc lập tự chủ trớc hết là độc lập tự chủ về đờng lối chính trị phơng hớng phát triển , chính sách thể chế,
qui mô phát triển kinh tế. Đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ
mạnh có mức tích lũy cao từ nội bộ nền kinh tế, có cơ cấu kinh
tế hợp lý, có sức cạnh tranh cả ở trong nớc và ngoài nớc, có năng
lực nội sinh về khoa học và công nghệ, giữ ổn định kinh tế
tài chính vĩ mô; có lực lợng vật chất đảm bảo an toàn và điều
kiện cơ bản cho cuộc sống xã hội và phát triển kinh tế nh an
ninh lơng thực an toàn năng lợng an toàn tài chính, an toàn môi
trờng, xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng hiện đại và một số
ngành công nghiệp then chốt đáp ứng yêu cầu tái sản xuất mở
rộng không ngừng trên cơ sở kỹ thuật ngày càng cao1. Thực
chất là nền kinh tế mà có thể duy trì đợc mức độ tăng trởng
trong mọi hoàn cảnh, là quá trình xây dựng thực lực kinh tế,
tiềm lực kinh tế mạnh đủ sức cạnh tranh, dành quyền chủ
động trong quan hệ kinh tế quốc tế, tự chủ về đờng lối chính
trị và chính sách phát triển kinh tế. Độc lập tự chủ về kinh tế là
nền tảng vật chất cơ bản để củng cố và duy trì độc lập tự
chủ về chính trị. Sẽ không có độc lập tự chủ về chính trị nếu
bị lệ thuộc về kinh tế. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
phải đi đôi với mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế; kết hợp nội lực với ngoại lực thành
1

Tìm hiểu một số khái niệm trong văn kiện Đạ i hội Đảng IX Nxb. CTQG , H ..2002, tr 112

8


nguồn lực tổng hợp để phát triển đất nớc. Xây dựng nền kinh

những biến đổi phức tạp, khó lờng, Đảng ta đã đa ra quan điểm
mới về quốc phòng - an ninh (NQ TW 8 khoá IX), nên chỉ có thông
qua quan hệ kinh tế quốc tế chúng ta mới khai thác triệt để
những thuận lợi từ đối tác và khắc phục, đấu tranh có hiệu quả
những trở ngại từ đối tợng. Với quan điểm đối tợng có thể có
những nội dung của đối tác và đối tác cũng bao hàm những nội
dung của đối tợng cần đấu tranh, đã khắc phục đợc khuynh hớng,
t tởng đơn thuần về quân sự trớc đây, tạo điều kiện cho việc
xác định và mở rộng đối tác trong thực hiện các quan hệ kinh tế
quốc tế.
Những cơ sở trên khẳng định tính tất yếu khách quan
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại ở nớc ta trong thời đại ngày
nay. Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế vừa là một tất yếu khách
quan vừa là nhu cầu nội sinh của mọi nền kinh tế. Quan hệ
kinh tế quốc tế đem lại nhiều nội dung tích cực cho phát triển
kinh tế - xã hội, nhng bên cạnh đó vẫn còn nhiều nhân tố tiêu
cực làm ảnh hởng tới an ninh quốc phòng, bản sắc văn hóa dân
tộc. Để nâng cao hiệu quả của quan hệ kinh tế quốc tế và hạn
chế những nhân tố tiêu cực có thể có nhằm làm cho nền kinh
tế đất nớc ngày càng hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế
giới cần phải có đờng lối, quan điểm chỉ đạo đúng đắn để
chúng ta xác định chiến lợc, sách lợc, hình thức, biện pháp phù
hợp trong từng thời kỳ.
1.2. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về mở

10


rộng quan hệ kinh tế quốc tế.
Quan điểm của Đảng ta về chỉ đạo thực hiện quan hệ

thời kỳ quá độ và xác định chủ trơng " Mở rộng, đa dạng hoá
quan hệ kinh tế đối ngoại trên nguyên tắc giữ vững độc lập,
chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi". Nh vậy điều kiện kinh tế
đất nớc đã cho phép chúng ta thực hiện quan hệ kinh tế quốc
tế dới nhiều hình thức, đa dạng và phong phú, với các đối tác
ngày càng đợc mở rộng, không phân biệt chế độ chính trị.
Nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có
lợi giữ vai trò chỉ đạo xuyên suốt trong tổ chức triển khai thực
hiện các quan hệ kinh tế quốc tế. Thực hiện chủ trơng trên,
chúng ta đã thu đợc những thành quả to lớn, tạo tiền đề cần
thiết cho để chuyển sang giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nớc.
Quan điểm về mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế của Đại
hội VII đợc Đại hội VIII kế thừa, tiếp tục phát triển và đa ra
quam điểm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc trong
khu vực và trên thế giới . Điều kiện thực tin của nền kinh tế đã
chín muồi, mở ra những điều kiện thuận lợi để thực hiện hội
nhập sâu rộng vào kinh tế quốc tế. Hội nhị lần thứ t BCH trơng ơng khoá VIII về kinh tế đối ngoại đã nhấn mạnh: " Chủ
động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp
và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh
tranh để hội nhập thị trờng khu vực và thị trờng quốc tế. Tiến
hành khẩn trơng, vững chắc việc đàm phán hiệp định thơng

13


mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO. có kế hoạch cụ thể để chủ
động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ APTA". Có nghĩa
là chúng ta đã thành công trong xác định chủ trơng cũng nh
hành lang pháp lý để hội nhập, đến lúc này cho phép chúng ta

nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; hội nhập kinh tế quốc tế là công
việc của toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; phát
huy tối da nội lực, coi trọng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài;
gắn tốc độ tăng trưởng với chất lượng và hiệu quả, tăng trưởng kinh tế phải đi
liền với tiến bộ và công bằng xã hội; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng, nâng cao vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị
- xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân
tộc”3. Để hội nhập kinh tế quốc tế thành công, phải tăng cường công tác tư
tưởng, nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân, tạo được sự đồng thuận
cao trong toàn xã hội; khẩn trương bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật và thể
chế kinh tế; hình thành nhanh và đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thị trường,
phát huy tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; đẩy mạnh cải cách hành
chính; nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và của
sản phẩm; bổ sung nguồn lực và chăm lo phát triển nông nghiệp, nông thôn; giải
quyết tốt các vấn đề xã hội; bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái; giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; giữ vững quốc phòng, an ninh; tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò quản lý của Nhà nước, hoàn thiện các thiết
chế dân chủ để bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Đối với nước ta, với quyết tâm xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã ý thức rõ, ngày nay không một quốc gia nào
tách khỏi thị trường quốc tế mà có thể phát triển nền kinh tế của mình. Bởi vậy,
3

NghÞ quyÕt BCH TW 4 kho¸ X, Nxb CTQG, H. 2007, tr 109

16


thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các

trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Nguyên tắc
này bắt nguồn từ nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ kinh tế đối ngoại; nó cũng
bắt nguồn từ nguyên tắc cùng có lợi, mà xét đến cùng là cùng có lợi về kinh tế,
tạo ra cơ sở để cùng có các lợi ích khác.
Như vậy, có thể nói quan điểm của Đảng ta về quan hÖ kinh tÕ
quèc tÕ chủ yếu được hình thành và đi vào thực tiễn trong giai ®o¹n đổi mới
đất nước. Trước xu thế khách quan toàn cầu hóa kinh tế, chúng ta chủ trương
“chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế
quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác” theo tinh thần phát
huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và
định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ vững
bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường. Đảng ta cũng nhận rõ khả năng vừa
hợp tác, vừa đấu tranh trong tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị xã hội khác nhau; đổi mới nhận thức trên vấn đề “địch - ta”, “đối tượng - đối
tác” theo tinh thần “thêm bạn bớt thù”, khẳng định “những ai chủ trương tôn
trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình
đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta, bất kỳ thế lực nào có
âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”. Chúng ta đã nhiều lần và
từng bước tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn”, “sẵn sàng là bạn”, “là bạn, là
đối tác tin cậy” của các nước trong cộng đồng quốc tế; “là thành viên tích cực
và có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế”, tích cực tham gia giải quyết các vấn
đề toàn cầu, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.

18


phần ii. tác Động của mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
đối với quốc phòng-an ninh.
2.1. Tác động của mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
đối với quốc phòng - an ninh.

đổi mới Đại hội X khẳng định Hai
mơi năm qua, với sự nỗ lực

phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc
đổi mới ở nớc ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa
lịch sử. Kết quả của hơn 20 năm đổi mới, thực hiện hội nhập
quan hệ kinh tế quốc tế đã xoá bỏ đợc bao vây cấm vận, đa
đất nớc ta thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, nghèo và kém
phát triển, kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trởng nhanh, hiệu quả
và bền vững; toạ những tiền đề vật chất cần thiết để thực
hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành
một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại.
Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã có tác động sâu
rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó lĩnh vực
quốc phòng - an ninh không phải là ngoại lệ. Từ vấn đề nghiên
cứu, tác giả tiếp cận tác động của mở rộng quan hệ kinh tế
quốc tế đối với quốc phòng - an ninh cả về thuận lợi cả về
những khó khăn, thách thức. Những tác động tích cực của mở
rộng quan hệ kinh tế quốc tế đến quốc phòng - an ninh đợc
biểu hiện trên các nội dung cụ thể sau:

20


Một là; m rng quan hệ kinh tế quốc tế tạo điều kiện
thuận lợi để nâng cao tiềm lực kinh tế quân sự, cng c sc
mnh quốc phòng - an ninh.
Khi mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, có nghĩa là chúng
ta tham gia này càng sâu rộng vào quá trình phân công lao
động quốc tế, chuyên môn hoá này càng cao, đã đặt ra yêu

cao lm trung tõm, cỏc nc trờn th gii u ly cụng ngh cao l lc lng sn
xut trờn mt kinh t, l sc mnh rn e, l sc mnh chin u v mt quõn s,
l lc lng nh hng v mt chớnh tr v l lc thỳc y tin b xó hi. Ngy
nay, cỏc quc gia phỏt trin trờn th gii, tng trng sc mnh tng hp ca
mỡnh, ó khụng cũn hn ch vic bnh trng quõn s, nh ỏnh thnh, cp
t, tranh ginh phm vi th lc hoc cnh tranh kinh t theo ý ngha thụng
thng m nú ó hũa trn trong s sc ca nhiu lnh vc ly cụng ngh cao
v ng thi cng lm cho cỏc lnh vc, kinh t, quõn s an xen nhau, tin hnh
cnh tranh mang tớnh chin lc ton cu, ly sc mnh tng hp ca quc gia
lm mc tiờu, to nờn nhng thay i trong mi lnh vc. Phỏt trin cụng ngh
cao s dng rng rói trong lnh vc quõn s: cụng ngh cao cú cỏc c im
qun th húa, t hp húa, trớ nng húa, sn nghip húa... nú trn ngp vo mi
phng din xó hi. Trong ú, cụng ngh thụng tin l nũng ct ca nhúm cụng
ngh cao v xu th ton cu húa ca cuc cỏch mng thụng tin ang a loi
ngi tin n xó hi thụng tin húa. V mt quõn s phỏt trin quõn s vn rt
gn bú vi khoa hc cụng ngh, nay cụng ngh cao lm c mỏy cho quõn s phỏt
trin gp bi. Phỏt trin cụng ngh cao cú nhiu nh hng ln n an ninh quõn
s khu vc. S phỏt trin ca khoa hc cụng ngh v tin b ca cụng ngh quõn
s trc tip lm n ra cỏc cuc cỏch mng quõn s mi rng ln, lm cho cỏc
hot ng quõn s phi chu nhng tỏc ng vi mc cha tng cú. S ng
dng cụng ngh thụng tin mt cỏch rng rói trong lnh vc quõn s ó dn n
22


vic phỏt trin h thng v khớ cú s thay i cn bn, thm chớ l cú bc nhy
vt vt thi i. S phỏt trin nhanh chúng ca cuc cỏch mng khoa hc cụng
ngh hin i cng lm cho cc din quõn s th gii ni lờn mt xu th phỏt
trin va n cc va a cc, hỡnh thnh mt an ninh quõn s kiu mi "va hip
ng hp tỏc, va cnh tranh i khỏng, trong ú ly hp tỏc l ch yếu". Phỏt
trin ca cụng ngh cao lm cho cnh tng sp ti ca hũa bỡnh v chin tranh

giáo dục để xây dựng của cố tiềm lực chính trị tinh thần cho
quốc phòng - an ninh trớc mọi âm mu thủ đoạn chống phá của
kẻ thù trên lĩnh vực t tởng văn hoá hiện nay. Đồng thời, thông qua
quan hệ kinh tế quốc tế thì quá trình giao thoa văn hoá cũng
diễn ra. Chúng ta vừa tiếp thu đợc những tinh hoa văn hoá của
nhân loại vừa có cơ hội thuận lợi để quảng bá, xâm nhập vào
các nền văn hoá của các nớc trên thế giới. Thông qua các hoạt
động giao lu kinh tế - văn hoá, làm cho nhân dân trên thế giớ
hiểu đợc truyền thống văn hoá, truyền thống chống giặc ngoại
xâm, nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân trong bảo
vệ tổ quốc ...của nớc ta. Từ đó nhận thức đúng về truyền
thống nhân ái, yêu chuộng hoà bình, tinh thần quốc tế trong
sáng của dân tộc Việt Nam. Khắc phục đợc sự hiểu lầm của
mọi ngời về chúng ta thông qua thông tin một chiều từ phía kẻ
thù (ví dụ những cựu chiến binh Mỹ tham gia chiến tranh Việt
Nam thừa nhận là họ đã bị lừa). Thông qua đó chúng ta tạo đợc đồng thuận của d luận thế giới về quan điểm, mục tiêu bảo
vệ tổ quốc, điều đó đem lại hiểu quả to lớn đối với hoạt động
của quốc phòng - an ninh về lĩnh vực chính trị thinh thần.

24


Bốn là; Thông qua mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế,
chúng ta nâng cao đợc uy tín và vị thế của đất nớc trên trờng
quốc tế tạo điều kiện thuận lợi để phát huy lợi thế của quốc
phòng - an ninh.
Phỏt trin kinh t v tng cng sc mnh quc phũng - an ninh l
nhng tin khụng th thiu c i vi yờu cu nõng cao v th quc t ca
t nc. iu ú khụng cú ngha l phi ch ti khi kinh t phỏt trin, quc
phũng hựng mnh mi nõng cao c v th quc t. Trong hn 20 nm qua kinh

hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng - an
ninh với hoạt động của quan hÖ kinh tÕ quèc tÕ, để phát huy tối đa lợi thế
của quèc phßng - an ninh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Năm là; mở rộng quan hÖ kinh tÕ quèc tÕ dẫn đến sự đan cài về
lợi ích kinh tế giữa các nước trên thế giới tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng
kinh tế và củng cố quèc phßng - an ninh.
Thành công của chủ trường mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã giúp
nước ta có được một khối lượng lớn đầu tư trực tiếp của các nước trên thế giới,
trở thành một trong những động lực để nền kinh tế phát triển. Việc thiết lập
quan hÖ kinh tÕ với các nước lớn trong khu vực và trên thế giới; các tổ chức
kinh tế; các khu vực kinh tế...chúng ta đã tạo được sự phụ thuộc lẫn nhau giữa
các quốc gia đó về lợi ích kinh tế. Do vậy hành động xâm phạm đến quèc
phßng - an ninh quốc gia sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi kinh tế của
các nước dẫn đến sự phản ứng của các nước đó theo hướng có lợi cho quèc
phßng - an ninh, đặc biệt trong giải quyết các vấn đề tranh chấp về chủ
quyền ở biển đông, chúng ta cần vận dụng tốt lợi thế này khi đưa ra các giải pháp
thực hiện. Đồng thì do vị trí địa – chính trị thuận lợi nên chung ta tranh thủ được
sự đồng thuận của các nước lớn, các trung tâm kinh tế, các tổ chức kinh tế thế
giới trong triển khai phạm vi ảnh hưởng của mình đối với khu vực Đông nam á
26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status