Báo cáo tốt nghiệp
Chính sách tỷ giá của Trung Quốc
và tác động của nó tới thương mại
Trung Quốc và một số nước 1
Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và tác động của
nó tới thương mại Trung Quốc và một số nước LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, với tốc độ tăng trưởng cao và ổn định của
nền kinh tế, Trung Quốc đã vượt qua ba trụ cột kinh tế chính đang phục hồi
chậm chạp đó là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu về tốc độ tăng trưởng kinh tế. Vai
trò của Trung Quốc trên trường quốc tế ngày càng tăng nhanh, nhất là trên
lĩnh vực thương mại. Sự thành công đ
ó một phần là nhờ vào việc hoạch định
và điều hành các chính sách của chính phủ Trung Quốc khá sát với tình hình
đất nước và trên thế giới.
Chính sách tỷ giá, đương nhiên không phải là một ngoại lệ. Với chính
sách tỷ giá hiện nay của mình, Trung Quốc đang dần trở thành nguồn cung
cấp hàng hoá cho toàn thế giới. Điều này đã khiến cho các nền kinh tế lớn lo
ngại và trở thành đề tài chính trong các cuộc thương thảo về
việc lựa chọn chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay được các chính phủ rất
coi trọng.
1.1.1 Tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính
bằng tiền tệ của một nước khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa
hai đồng tiền của các quố
c gia khác nhau. Nó là một phạm trù kinh tế bắt
nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ phát sinh trực tiếp từ quan hệ
tiền tệ giữa các quốc gia. Về cơ bản, phân tích vấn đề tỷ giá cần tập trung
chú trọng vào hai vấn đề cơ bản sau: các nhân tố tác động đến sự biến động
của tỷ giá hối đoái và các chế độ tỷ giá hối đoái. 3
1.1.1.1 Các nhân tố tác động tới tỷ giá hối đoái.
Ngày nay, tỷ giá hối đoái biến động rất thường xuyên và thất thường.
Sự tăng hay giảm của tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng rất nhiều nhân tố khác
nhau, trong đó ta chia hai dạng : đó là nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá dài
hạn và nhân tố ngắn hạn.
Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ
giá dài hạn:
Xét trong dài hạn có 4 nhân tố chủ yếu tác động tới quan hệ cung cầu
ngoại tệ. Đó là: mức giá cả tương đối, chính sách bảo hộ, sở thích của người
tiêu dùng và năng suất lao động.
Mức giá cả tương đối
Khi mức giá cả hàng hoá, dịch vụ trong nước tăng so với mức giá cả
của hàng hoá - dịch vụ nước ngoài, các hãng sản xuất hàng xuất khẩu nói
riêng, các hãng sản xuất của một nước nói chung có xu hướng thu hẹp quy
mô sản xuất do chi phí đầu vào tăng. Do đó xuất khẩu giảm, cung ngoại tệ
ện bảo hộ dưới các hình thức như thuế
quan, quato, làm hạn chế khối lượng hàng hoá nhập khẩu, do đó làm giảm
cầu về ngoại tệ, chuyển dịch đường cầu ngoại tệ xuống phía dưới, về lâu dài
làm giảm tỷ giá, đẩy giá trị của đồng nội tệ tăng lên E(VND/USD)
S1
E1
E2
D2 D1
Q
Sở thích người tiêu dùng
Thực tế trên thị trường nói chung và trong thương mại quốc tế nói
riêng cho thấy ngay cả khi hàng hoá trong nước và nước ngoài đã có những
đặc điểm giống nhau như về giá cả, chất lượng, hình thức thì chúng vẫn
không có khả năng thay thế hoàn toàn cho nhau chỉ vì người tiêu dùng có sở
thích khác nhau
Ví dụ :
E(VND/USD)
S1
E1
E2
D2 D1 5
Q
Xét trong ngắn hạn có một số nhân tố chủ yếu tác động. Đó là: Mức chênh
lệnh lạm phát, lãi suất giữa các quốc gia; những dự đoán về tỷ giá hối đoái.
Mức chênh lệnh lạm phát giữa các quốc gia
6
Nếu như mức độ lạm phát giữa hai nước khác nhau, trong điều kiện
các nhân tố khác không thay đổi, sẽ dẫn đến giá cả hàng hoá ở hai nước đó
có những biến động khác nhau, làm cho ngang giá sức mua của hai đồng tiền
đó bị phá vỡ, làm thay đổi tỷ giá hối đoái.
Ảnh hưởng của mức chênh lệch lạm phát đến tỷ giá hối đoái có thể
được minh họa ở
đồ thị sau:
Giả sử Việt Nam có tỷ lệ lạm E(USD/VND) S2
phát cao hơn Mỹ. Thì tăng nhu cầu về S1
USD, cung USD giảm, làm cho đồng
VND giảm giá.
D2
D1
Q
ều người tham gia vào thị trường ngoại hối đều cho rằng
đồng USD sẽ giảm giá trong thời gian tới, trong điều kiện các nhân tố khác
không thay đổi. Điều này dẫn đến cung về USD sẽ tăng lên vì nhiều người
muốn bán chúng. Đồng thời, cầu về USD sẽ giảm xuống
Ảnh hưởng này được minh hoạ bằng đồ thị:
E(USD/VND) S1
S2
.
D1
D2
Q
8
Ngoài ra tỷ giá hối đoái còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác như
khủng bố, thiên tai đình công, các quyết sách lớn cảu nhà nước Điều này
có thể giải thích sự thay đổi đột ngột, thất thường của tỷ giá mà không theo
quy luật nào.
Như vậy, trong điều kiện hiện nay, tỷ giá hối đoái chịu sự tác động
của rất nhiều yếu tố. Vi
ệc xác định đúng và kịp thời các nhân tố này là cơ sở
quan trọng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái cho phù hợp với các mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1.1.1.2 Các dạng chế độ tỷ giá hối đoái.
Các chế độ cố định cơ bản: Tỷ giá gắn :
chính sách tỷ giá hối đoái gồm hai vấn đề lớn: một là vấn đề lựa chọn chế độ
tỷ giá hối đoái và hai là vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
1.1.2.1 Mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái.
Chính sách tỷ giá hối đoái là một bộ phận của hệ th
ống chính sách tài
chính, tiền tệ, thực hiện các mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế. Trong nền
kinh tế mở, mục tiêu của việc hoạch định chính sách nói chung, chính sách
tài chính, tiền tệ và chính sách tỷ giá nói riêng là nhằm đạt được các cân đối
bên trong và cân đối bên ngoài của nền kinh tế.
Cân bằng nội đạt được khi các nguồn lực kinh tế của một quốc được
sử dụng đầy đủ với mức giá ổn đị
nh. Việc sử dụng không thiếu hoặc quá
nguồn lực dẫn đến lãng phí không đem lại hiệu quả cao. Ngoài ra còn làm
cho mức giá chung bị biến động, giá trị thực tế của đồng tiền không ổn định,
dẫn đến giảm hiệu quả của nền kinh tế. Sự không ổn định của giá cả còn có
tác động làm thay đổi hoặc tăng tính rủi ro cao của các món nợ.
Vì vậy, với mụ
c tiêu tránh tình trạng mất ổn định của giá cả và ngăn
chăn sự dao động lớn trong tổng sản phẩm, chính sách tỷ giá đã tránh cho
nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát hoặc giảm phát kéo dài và đảm bảo
việc cung ứng tiền không quá nhanh hoặc quá chậm.
Khác với cân bằng nội, cân bằng ngoại đạt được lại dựa vào trạng thái
của cán cân tài khoản vãng lai. Một sự thâm hụt tài khoản vãng lai cho thấy
rằng nước đó đang đi vay nợ của nước ngoài. Khoản nợ này, sẽ đáng lo ngại 10
khi nó được sử để đầu tư có hiệu quả, bảo đảm trả được nợ trong tương lai
và có lãi. Nhưng nếu khoản thâm hụt này kéo dài và không tạo ra được
những cơ hội đầu tư có hiệu quả thì nó sẽ tạo ra nguy hiểm đến nền kinh tế.
11
trong phạm vi quốc gia. Và tương ứng với điều đó, kết quả của các chính
sách kinh tế nước ngoài dù thế nào đi chăng thì điều chỉnh tỷ giá sẽ giữ ảnh
hưởng của chúng nằm ngoài phạm vi quốc gia. Vậy việc lựa chọn cơ chế hối
đoái linh hoạt đồng nhất với lựa chọn hệ thống đóng cửa, trong đó tỷ
giá linh
hoạt sẽ tách rời nền kinh tế quốc gia khỏi môi trường quốc tế.
Vấn đề mức độ hoạt tính của các chính sách kinh tế đối nội, rõ ràng có
các mức độ khác nhau. Vì tỷ giá cố định thể hiện sự cam kết áp đặt các ràng
buộc đối với chính sách kinh tế quốc gia, không thể theo đuổi chính sách đối
nội một cách độc lập. Ngược lại, tỷ giá linh hoạt là một công cụ
chính sách
có thể sử dụng để giữ cho các hoạt động kinh tế của hệ thống quốc tế, có thể
thực hiện các chính sách quốc gia mà không cần quan tâm đến môi trường
bên ngoài.
Ngoài ra còn có các tiêu chuẩn khác để xem xét lựa chọn chính sách
tỷ giá như các hình thức rối loạn kinh tế, đặc thù cơ cấu kinh tế và tính chất
rủi ro và các mục tiêu theo đuổi
Nếu dựa vào các hình thức rối loạn kinh tế. Người ta thườ
ng phân biệt
rối loạn thực và rối loạn danh nghĩa để lựa chọn chế độ tỷ giá. Đối với rối
loạn danh nghĩa thì tốt nhất là dùng hệ thống tỷ giá cố định. Ví dụ, sự rối
loạn gây ra quá nhiều tiền cung ứng sẽ dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán
do hao tốn dự trữ ngoại tệ để phục hồi sự cân đối trong thị trường ti
ền tệ.
Rối loạn này sẽ không thực sự ảnh hưởng tới nền kinh tế vì nó được đảm
bảo bằng chế độ tỷ giá cố định. Ngược lại, các rối loạn thực như rối loạn
phát sinh từ sự mất cân đối thị trường hàng hoá, để chống lại tác động này
tốt nhất là sử dụng hệ thống tỷ giá linh hoạt vì các biến độ
giá hối đoái giảm và đồng nội tệ tăng giá. Ngược lại, khi muốn tỷ
giá tăng, đồng nội tệ giảm giá sẽ tiến hành giảm lãi suất tái chiết khấu.
Còn đối với công cụ nghiệp vụ thị trường mở ngoại tệ, thực chất là
hoạt động của ngân hàng trung ương can thiệp vào thị trường ngoại hối để
điều chỉnh tỷ giá hố
i đoái. Khi tỷ giá hối đoái lên cao, ngân hàng trung ương
sẽ bán ngoại tệ và mua đồng nội tệ kéo tỷ giá hối đoái giảm xuống. Muốn
thực hiện được ngân hàng phải có dự trữ ngoại hối lớn. Khi tỷ giá hối đoái ở 13
mức thấp, trình tự sẽ ngược lại, dự trữ ngoại tệ tăng, cung tiền tăng, lãi suất
của tiền gửi nội tệ giảm, đồng nội tệ sẽ giảm giá và đồng ngoại tệ tăng giá.
Ngoài hai công cụ cơ bản nói trên, các quốc gia còn sử dụng một loạt
công cụ khác như: nâng giá tiền tệ, phá giá tiền tệ, quỹ dự trữ bình ổn h
ối
đoái.
1.2 Tác động của chính sách tỷ giá tới ngoại thương.
Cơ sở và mục đích của thương mại quốc tế
Đó chính là lợi thế so sánh và lợi thế nhờ quy mô. Sự khác biệt về tài
nguyên thiên nhiên, trình độ sản xuất và điều kiện sản xuất dẫn tới sự khác
biệt về chi phí sản xuất và giá cả sản phẩm giữa các nước. Thông qua trao
đổi quốc tế, các nước có thể cung cấp cho nền kinh tế thế giới những loại
hàng mà họ sản xuất tương đối rẻ hơn và mua củ
a nền kinh tế thế giới những
loại hàng tương đối rẻ hơn từ các nước khác. Những lợi ích thương mại này
càng lớn khi kết hợp với lợi thế kinh tế nhờ quy mô. Thay vì mỗi nước phải
có nhiều cơ sở sản xuất quy mô nhỏ không khai thác được công suất tối ưu,
các nước khác nhau có thể hợp tác xây dựng những cơ sở sản xuất có qui mô
thương mại trong ngành, một nước cùng một lúc có thể giảm bớt số loại sản
phẩm tự mình sản xuất và tăng thêm sự đa dạng của hàng hoá cho người tiêu
dùng trong nước. Do sản xuất ít chủng loại hơn, nước đó có thể sản xuất mỗi
loại hàng hoá ở qui mô lớn hơn, với năng xuất lao động cao hơn và chi phí
thấp hơn. Vì v
ậy, người sản xuất sẽ có lợi nhuận cao hơn và người tiêu dùng
cũng được lợi hơn bởi chi phí rẻ hơn và có phạm vi lựa chọn rộng hơn.
Mọi quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế đều có thể thu
được lợi, những lợi ích cụ thể này lại phụ thuộc vào điều kiện và trình độ
phát triển của từng quốc gia. Nhưng cho dù với bất k
ỳ quốc gia nào thì
không thể phủ nhận lợi ích thu được từ thương mại quốc tế. Và việc sử dụng
tỷ giá hối đoái vừa là chính sách, vừa là công cụ có tác động lớn tới quy mô
và mức độ của những lợi ích này.
Vai trò của thương mại quốc tế đến sự phát triển kinh tế của các nước
Từ sự phân tích trên, chúng ta thấy rằng thương mại quốc tế đều mang
lại lợi ích cho các quốc gia tham gia. Nếu các nước này biết khai thác các cơ 15
sở thương mại của mình thì sẽ đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu và có thể
đẩy nhanh quá trình phát triển nền kinh tế.
Trước hết là hoạt động xuất khẩu, có tác động rất lớn đến phát triển
kinh tế của đất nước. Hoạt động xuất khẩu kích thích các ngành kinh tế phát
triển, góp phần tăng tích luỹ vốn, mở rộng sản xuất trong nước, nâng cao
trình độ tay nghề và thói quen làm việc của những lao động trong sản xuất
hàng xuất khẩu, tăng thu nhập, cải thiện mức sống của nhân dân. Bên cạnh
đó, ngoại tệ thu được sẽ làm tăng nguồn dự trữ ngoại tệ giúp cho quá trình
ổn định đồng nội tệ và chống lạm phát dẫn đến ổn định nền kinh tế.
ới thương mại
Có thể nói, tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là những công
cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán cân thương mại quốc tế theo mục
tiêu định trước của một nước.
Trước hết, tỷ giá và những biến động của tỷ giá có ảnh hưởng trực
tiếp đến mức giá cả hàng hoá dịch vụ xuất nhập khẩu củ
a một nước. Khi tỷ
giá thay đổi theo hướng làm giảm sức mua đồng nội tệ, thì giá cả hàng hoá
dịch vụ của nước đó sẽ tương đối rẻ hơn so với hàng hoá dịch vụ nước khác
ở cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Dẫn đến cầu về xuất khẩu
hàng hoá dịch vụ của nước đó sẽ tăng, cầu về
hàng hoá dịch vụ nước ngoài
của nước đó sẽ giảm và tạo ra sự thặng dư của cán cân thương mại.
Ví dụ: Trước đây 1USD = 14000VND . 1 chiếc máy tính giá 750USD
được nhập khẩu và tính ra đồng nội tệ của Việt Nam là 10.500.000VND.
Đến nay, giả sử giá chiếc máy tính không đổi, trong khi tỷ giá thay đổi
1USD = 15000VND thì cũng chiếc máy tính đó được nhập khẩu và bán với
giá 11.250.000VND. Giá đắt hơn, nhu cầu nhập máy tính sẽ giảm. Nhưng
đối với xuất khẩu thì ngược lại khi tỷ giá 1USD = l4000VND, giá xuất khẩu
1 tấn gạo với chi phí sản xuất là 3,5 triệu VND là 250USD, nhưng với chi
phí sản xuất không đổi thì giá bán chỉ khoảng 233USD. Giá giảm cầu xuất
khẩu sẽ tăng.
Trong trường hợp ngược lại, khi tỷ giá biến đổi theo hướng làm tăng
giá đồng nội tệ. Sự tăng giá của đồng nội tệ có tác động hạn ch
ế xuất khẩu vì 17
cùng một lượng ngoại tệ thu được do xuất khẩu sẽ đổi được ít hơn đồng nội
tệ. Tuy nhiên, đây là cơ hội tốt cho các nhà nhập khẩu, nhất là nhập khẩu
Cho đến đầu những năm 1980, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ
giá cố định, gắn đồng NDT luôn cao hơn giá trị thực của nó. Điều này kéo
theo một loạt tiêu cực như: hàng xuất khẩu kém sức cạnh tranh, mất cân đối
nghiêm trọng trong nền kinh tế. Ngân sách quốc gia hàng năm phải bù lỗ
nhiều cho cả sản xuất và tiêu dùng. Như năm 1989 mức bù lỗ là 76,3 tỷ
NDT tương đương v
ới 29% thu nhập tài chính. Vào lúc này tổng số nợ của
Trung Quốc lên tới 47 tỷ USD, trong khi dự trữ ngoại tệ quốc gia hầu như
cạn kiệt và lạm phát trong nước lên cao. Để đẩy mạnh xuất khẩu, nhằm đưa
đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đồng thời cùng với việc thực hiện các biện
pháp cải cách kinh tế, Trung Quốc đã liên tục tiến hành điều chỉnh tỷ giá h
ối
đoái danh nghĩa theo hướng giảm giá trị đồng NDT bị đánh giá cao trước
đây cho phù hợp với sức mua thực tế của nó trên thị trường trong suốt thời
gian đầu của quá trình cải cách cho đến đầu những năm 90.
Từ năm 1981-1985, Trung Quốc luôn luôn muốn thực hiện chế độ
một loại giá hàng, một tỷ giá thống nhất nhưng do nhiều nguyên nhân nên
trong giai đoạn cải cách này bên cạnh sự
tồn tại tỷ giá giao dịch thương mại
nội bộ, tỷ giá chính thức thường xuyên thay đổi, hầu hết là phá giá. Theo
thống kê, đồng NDT được điều chỉnh 23 lần trong năm 1981, 28 lần trong
năm 1982 và 56 lần trong năm 1984 ở các mức độ khác nhau để tiến tới tỷ
giá thực của nó. Cải cách, điều chỉnh phần lớn là phá giá dẫn đến tỷ giá
chính thức ngang bằng với tỷ
giá nội bộ vào cuối 1984, và cuối cùng là
thống nhất một tỷ giá. Cho tới cuối những năm 80, tỷ giá chính thức ít biến
động nhưng lại có mức phá giá nhanh khi biến động, bên cạnh đó sự phát
triển của thị trường ngoại hối đã tạo nên sự biến đổi mạnh mẽ của tỷ giá. Ra
đời từ đầu những năm 1980 ở Trung Quốc, thị trường ngoại h
ối phát triển rất
điều chỉnh này được dựa vào mức giá giữa Trung Quốc và Mỹ đã làm cho
lạm phát cao ở Trung Quốc tác động xấu tới mục tiêu tăng trưởng và thúc
đẩy xuất khẩu của nền kinh tế. Như từ mức thặng dư thương mại là 9.165
triệu USD với tốc độ lạm phát 3,06% năm 1990 thì đến năm 1993 cán cân
thương mại bị thâm hụt –10.654 triệu USD và tố
c độ lạm phát là 14,58%. 20
Có thể nói đây là những bước đầu tiên của quá trình chuyển đổi tỷ giá
hối đoá và chính sách tỷ giá ở Trung Quốc, là giai đoạn để cho tỷ giá ấn định
trước đây được thả nổi theo sát với những diễn biến của thị trường.
2.1.2 Thời kỳ phá giá mạnh đồng NDT và thống nhất hai tỷ giá hướng tới
một đồng NDT có khả năng chuyển đổ
i (1994- 1997).
Nhận thấy nguy cơ đồng NDT có khả năng trở lại tình trạng bị đánh
giá cao so với sức mua thực tế, chính phủ Trung Quốc đã quyết định chuyển
hướng điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái. Ngày 1-1-1994, đồng NDT
chính thức bị tuyên bố phá giá mạnh từ 5,8 NDT/USD xuống 8,7
NDT/USD, và thống nhất các mức giá thành một tỷ giá chung. Tuy nhiên, tỷ
giá danh nghĩa bắt đầu lên giá chậm chạp và cuối cùng
ổn định ở mức
8,3NDT/USD. Để giảm bớt tác động của sự thay đổi trong chính sách tỷ giá
lên thị trường tiền tệ, vào thời kỳ này chính phủ Trung Quốc đã ban hành
một loạt những biện pháp hỗ trợ và quản lý ngoại hối như : thực hiện chế độ
ngân hàng kết hối, xoá bỏ sự găm giữ ngoại tệ và tăng giá ngoại hối của các
công ty, xây dựng th
ị trường giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng; cải tiến cơ
chế hình thành tỷ giá hối đoái; xoá bỏ kế hoạch mang tính mệnh lệnh đối với
thu chi ngoại hối… kết hợp với kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng trung
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, môi
trường kinh tế quốc tế đã có nhiều biến động đáng kể. Các nước bị khủng
hoảng rơi vào tình trạng suy thoái, mức sống của người dân bị sụt giảm đáng
k
ể. Cuộc khủng hoảng này đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế và thương
mại toàn cầu chậm lại. Trung Quốc không phải là một ngoại lệ. Xuất khẩu
và đầu tư nước ngoài giảm mạnh. Vấn đề sản xuất dư thừa ngày càng trở nên
trầm trọng trong các ngành công nghiệp chế biến. Giá thị trường liên tục
giảm xuống và dần dần xuất hiện nhữ
ng dấu hiệu giảm phát.
Trước tình hình đó, chính phủ Trung Quốc đã có chủ trương không
phá giá đồng NDT, tỷ giá vẫn giữ ở mức 8,3NDT/USD, với biên độ giao
đông là nhỏ. Nhờ đó mà những tác động của cuộc khủng hoảng khu vực 22
Châu Á đối với nền kinh tế Trung Quốc và cả nền kinh tế thế giới đã ít
nghiêm trọng hơn.
Để bảo vệ đồng NDT trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
khu vực, năm 1998 Trung Quốc đã quay trở lại kiểm soát chặt chẽ thị trường
ngoại hối, giảm nguy cơ đầu cơ và găm giữ ngoại tệ, tăng dự trữ ngo
ại tệ.
Thu nhập ngoại tệ của các doanh nghiệp bắt buộc phải bán cho những ngân
hàng đã được chỉ định trước, việc bán ngoại tệ cũng phải có hoá đơn theo
quy định mới được rút, thậm chí các nhà đầu tư nước ngoài cũng phải bán
ngoại tệ cho các ngân hàng Trung Quốc để đổi lấy một lượng NDT nhất
định sử dụng trong lãnh thổ nước này. Song song với việc quản lý chặ
t chẽ
thị trường ngoại hối, để giảm bớt sức ép đối với xuất khẩu và sự tăng trưởng
của nền kinh tế, Trung Quốc còn phối hợp với các chính sách kinh tế như
nhau, thực tế đã cho thấy cho tới nay việc điều chỉnh tỷ giá và chính sách tỷ
giá trong thời gian qua đã tạo ra khả năng góp phần giảm tác động trước
những cú sốc từ
bên ngoài và đạt được thành tựu to lớn kể từ năm 1997.
Trong năm 2002, tổng doanh số thương mại của Trung Quốc đạt
620,79 tỉ USD, trong đó xuất khẩu tăng 22,3%, đạt 325,57 tỉ USD; nhập
khẩu tăng 21,2%, đạt 295,22 tỉ USD. Thặng dư thương mại đạt 30,33 tỉ so
với 22,6 tỉ USD trong năm 2001. Dự trữ ngoại tệ đạt mức cao kỷ lục là
286,4 tỉ USD. Tốc độ tă
ng trưởng trung bình của nền kinh tế Trung Quốc là
8%/năm, và cao nhất trên thế giới.
Mặt khác, đồng NDT hiện đang mạnh lên so với đồng USD. Tuy chưa
phải là đồng tiền có thể chuyển đổi hoàn toàn, nhưng nó đang ngày càng
được sử dụng nhiều ở bên ngoài biên giới Trung Quốc, đặc biệt là dọc biên
giới Trung Quốc với các nước Đông Nam Á. Theo tính toán hiện có khoảng
30 tỷ NDT đang lưu hành ở bên ngoài Trung Quốc, đ
iều này chứng tỏ niềm
tin của quốc tế vào kinh tế Trung Quốc. Và đồng NDT được dự đoán là sẽ
đóng vai trò khu vực lớn hơn đồng Eruo, có thể trở thành đồng tiền dự trữ
thay thế các đồng tiền quốc tế khác ở Châu Á. 24
Bên cạnh những thành tựu đạt được một phần là nhờ vào chính sách
tỷ giá hiện nay, thì vẫn còn những hạn chế. Khi mà đồng tiền giảm giá, nó
làm cho các khoản vay bằng ngoại tệ của nước đó và rủi ro của đầu tư trong
tương lai tăng lên khi các nhà đầu tư dự kiến tăng về tính không ổn định của
tỷ giá hối đoái. Hiện nay, nợ quá hạn của Trung Quố
c đã lên đến mức 1.800
tỷ nhân dân tệ, tương đương 140% GDP so với mức 88% trong năm 1996.