Tài liệu Luận văn "Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và tác động của nó tới thương mại Trung Quốc và một số nước" doc - Pdf 98


Luận văn

Đề tài
"Chính sách tỷ giá của Trung Quốc và tác động của nó tới thương mại
Trung Quốc và một số nước"


thương một số nước.
3. Triển vọng thay đổi chính sách tỷ giá của Trung Quốc và tác động
có thể có tới Việt Nam.
21. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ
CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI, TÁC ĐỘNG CỦA NÓ TỚI
THƯƠNG MẠI.

1.1 Những vấn đề lý luận chung về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá
hối đoái.
Tỷ giá hối đoái không chỉ tác động đến những cân bằng bên ngoài mà
còn tác động đến cả những cân đối bên trong nền kinh tế. Phân tích
những tác động chủ yếu của tỷ giá hối đoái đến thương mại nói riêng và
nền kinh tế nói chung giúp chúng ta thấy rõ tầm quan trọng cũng như vai
trò của nó đối với phát triển kinh tế của các nước. Đó cũng là cơ sở cho
việc lựa chọn chính sách tỷ giá hối đoái hiện nay được các chính phủ rất
coi trọng.
1.1.1 Tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính
bằng tiền tệ của một nước khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa
hai đồng tiền của các quốc gia khác nhau. Nó là một phạm trù kinh tế bắt
nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ phát sinh trực tiếp từ quan hệ
tiền tệ giữa các quốc gia. Về cơ bản, phân tích vấn đề tỷ giá cần tập trung
chú trọng vào hai vấn đề cơ bản sau: các nhân tố tác động đến sự biến động
của tỷ giá hối đoái và các chế độ tỷ giá hối đoái.

đổi theo hướng tăng lên và đồng tiền của nước đó giảm giá.
Chính sách bảo hộ
Chính sách bảo hộ là các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được
các nước dựng lên để bảo vệ lợi ích và tạo sức cạnh tranh cho các ngành
công nghiệp non trẻ của một nước trong thương mại quốc tế. Chính sách bảo
hộ này đã ngăn cản tự do buôn bán và làm tổn hại đến lợi ích của một số các
ngành kinh tế, các khu vực kinh tế khác và làm giảm lợi ích của những

4

người tiêu dùng. Sự tăng cường các biện bảo hộ dưới các hình thức như thuế
quan, quato, làm hạn chế khối lượng hàng hoá nhập khẩu, do đó làm giảm
cầu về ngoại tệ, chuyển dịch đường cầu ngoại tệ xuống phía dưới, về lâu dài
làm giảm tỷ giá, đẩy giá trị của đồng nội tệ tăng lên

E(VND/USD)
S1
E1
E2
D2 D1
Q

Sở thích người tiêu dùng
Thực tế trên thị trường nói chung và trong thương mại quốc tế nói
riêng cho thấy ngay cả khi hàng hoá trong nước và nước ngoài đã có những
đặc điểm giống nhau như về giá cả, chất lượng, hình thức thì chúng vẫn
không có khả năng thay thế hoàn toàn cho nhau chỉ vì người tiêu dùng có sở
thích khác nhau
Ví dụ :
E(VND/USD)

Q

Những nhân tố cơ bản làm thay đổi tỷ giá ngắn hạn
Xét trong ngắn hạn có một số nhân tố chủ yếu tác động. Đó là: Mức chênh
lệnh lạm phát, lãi suất giữa các quốc gia; những dự đoán về tỷ giá hối đoái.
Mức chênh lệnh lạm phát giữa các quốc gia
Nếu như mức độ lạm phát giữa hai nước khác nhau, trong điều kiện
các nhân tố khác không thay đổi, sẽ dẫn đến giá cả hàng hoá ở hai nước đó
có những biến động khác nhau, làm cho ngang giá sức mua của hai đồng tiền
đó bị phá vỡ, làm thay đổi tỷ giá hối đoái.
Ảnh hưởng của mức chênh lệch lạm phát đến tỷ giá hối đoái có thể
được minh họa ở đồ thị sau:

6 Giả sử Việt Nam có tỷ lệ lạm E(USD/VND) S2
phát cao hơn Mỹ. Thì tăng nhu cầu về S1
USD, cung USD giảm, làm cho đồng
VND giảm giá.
D2
D1
Q


Ảnh hưởng này được minh hoạ bằng đồ thị:
E(USD/VND) S1
S2

.
D1
D2
Q

Ngoài ra tỷ giá hối đoái còn chịu ảnh hưởng của các nhân tố khác như
khủng bố, thiên tai đình công, các quyết sách lớn cảu nhà nước Điều này
có thể giải thích sự thay đổi đột ngột, thất thường của tỷ giá mà không theo
quy luật nào.
Như vậy, trong điều kiện hiện nay, tỷ giá hối đoái chịu sự tác động
của rất nhiều yếu tố. Việc xác định đúng và kịp thời các nhân tố này là cơ sở

8

quan trọng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái cho phù hợp với các mục tiêu phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
1.1.1.2 Các dạng chế độ tỷ giá hối đoái.
Các chế độ cố định cơ bản: Tỷ giá gắn :
 Vào một đồng tiền: nền kinh tế gắn đồng tiền của mình vào những
đồng tiền quốc tế chủ chốt mà không hoặc rất hiến khi điều chỉnh giá
trị so sách của chúng; các nền kinh tế thường công bố trước lịch điều
chỉnh tỷ giá của đồng tiền nước mình so với đồng tiền mà nó gắn vào
theo mức cố định.
 Vào một rổ các loại đồng tiền: các nước gắn đồng tiền mình vào một
rổ đồng tiền giao dịc chính hoặc hỗn hợp các đồng tiền tiêu chuẩn.
 Trong khoảng chênh lệch xác định trước: các nước gắn đồng tiền

dẫn đến giảm hiệu quả của nền kinh tế. Sự không ổn định của giá cả còn có
tác động làm thay đổi hoặc tăng tính rủi ro cao của các món nợ.
Vì vậy, với mục tiêu tránh tình trạng mất ổn định của giá cả và ngăn
chăn sự dao động lớn trong tổng sản phẩm, chính sách tỷ giá đã tránh cho
nền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát hoặc giảm phát kéo dài và đảm bảo
việc cung ứng tiền không quá nhanh hoặc quá chậm.
Khác với cân bằng nội, cân bằng ngoại đạt được lại dựa vào trạng thái
của cán cân tài khoản vãng lai. Một sự thâm hụt tài khoản vãng lai cho thấy
rằng nước đó đang đi vay nợ của nước ngoài. Khoản nợ này, sẽ đáng lo ngại
khi nó được sử để đầu tư có hiệu quả, bảo đảm trả được nợ trong tương lai
và có lãi. Nhưng nếu khoản thâm hụt này kéo dài và không tạo ra được
những cơ hội đầu tư có hiệu quả thì nó sẽ tạo ra nguy hiểm đến nền kinh tế.
Ngược lại, khi tài sản vãng lai dư thừa cho thấy rằng nước đó đang tích tụ tài
sản của mình ở nước ngoài, nghĩa là họ là người cho vay. Nếu sự dư thừa
này diễn ra liên tục có thể dẫn đến có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cân đối

10

bên trong nền kinh tế, đồng thời tăng rủi ro về khả năng thu hồi các khoản
cho vay. Sẽ có nhiều nguồn lực bị bỏ lãng phí không được sử dụng, sản xuất
một số ngành bị đình trệ, tăng trưởng giảm và thất nghiệp gia tăng.
Như vậy, mục tiêu cân đối bên ngoài đòi hỏi chính sách tỷ giá phải
duy trì tài khoản vãng lai không thâm hụt hoặc dưc thừa quá mức để tránh
những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế quốc gia.
1.1.2.2 Căn cứ để lựa chọn chính sách tỷ giá.

Việc lựa chọn chế độ tỷ giá xoay quanh hai vấn đề chính: mối quan hệ
giữa các nền kinh tế quốc gia với cả hệ thống toàn cầu và mức độ hoạt tính
của các chính sách kinh tế trong nước.
Vấn đề thứ nhất, thực chất là lựa chọn hệ thống mở cửa hay đóng cửa.

loạn gây ra quá nhiều tiền cung ứng sẽ dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán
do hao tốn dự trữ ngoại tệ để phục hồi sự cân đối trong thị trường tiền tệ.
Rối loạn này sẽ không thực sự ảnh hưởng tới nền kinh tế vì nó được đảm
bảo bằng chế độ tỷ giá cố định. Ngược lại, các rối loạn thực như rối loạn
phát sinh từ sự mất cân đối thị trường hàng hoá, để chống lại tác động này
tốt nhất là sử dụng hệ thống tỷ giá linh hoạt vì các biến động mức cầu trong
nước sẽ dẫn đến thay đổi tỷ giá do đó sẽ điều chỉnh mức cầu ngoài nước, vì
vậy sản phẩm trong nước không bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Tuy nhiên, tiêu chuẩn này khó thực hiện vì không thể thay đổi chính
sách thường xuyên để đối phó với các hình thức rối loạn, đặc biệt khi mà
hiện nay các hình thức này rất phong phú và đa dạng.
1.1.2.3 Vấn đề điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
Nguyên nhân dẫn tới việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái là sự tách rời giữa
tỷ giá danh nghĩa và thực tế, nhưng sự tách rời này không thể đi quá xa một

12

biên độ nhất định. Điều quan trọng là phải xác định được biên độ nào sẽ có
nhiều tác động tích cực nhất đến nền kinh tế.
Để điều chỉnh tỷ giá hối đoái theo mục tiêu đã định, Chính phủ các
nước đã sử dụng rất nhiều biện pháp nhưng có hai biện pháp cơ bản nhất
thường dùng: Đó là công cụ lãi suất tái chiết khấu và công cụ nghiệp vụ thị
trường mở.
Phương pháp dùng lãi suất tái chiết khấu để điều chỉnh tỷ giá hối đoái
được thực hiện với mục tiêu thay đổi ngắn hạn về tỷ giá. Tác động của công
cụ này được thực hiện theo cơ chế khi lãi suất tái chiết khấu thay đổi, kéo
theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất thị trường, làm thay đổi lợi tức của
các tài sản nội- ngoại tệ sẽ dẫn tới thay đổi dòng vốn đầu tư quốc tế, cung
cầu tài sản nội- ngoại tệ thay đổi và tỷ giá thay đổi theo. Như khi lãi suất tái
chiết khấu tăng, làm cho lãi suất trong nước tăng, dòng vốn ngắn hạn trên thị

hoá cần nhiều nguồn lực mà họ dồi dào và nhập khẩu những sản phẩm mà
họ sản xuất tương đối kém hiệu quả hay đó là những hàng hoá cần nhiều
nguồn lực mà họ không có nhiều. Do các nước có nguồn lực khác nhau, nên
một nước có thể có nhiều lao động, tài nguyên phong phú nhưng thiếu vốn
và trình độ công nghệ trong khi nước khác có ít lao động nhưng trình độ
công nghệ cao nên khi tham gia vào thương mại quốc tế các nước có thể
phát huy được lợi thế của mình. Bên cạnh đó, khi tham gia thương mại quốc
tế khả năng tiêu dùng ở mỗi nước được mở rộng, mỗi người dân được cung
cấp nhiều loại hàng hoá hàng với chất lượng được cải thiện hơn, phong phú
hơn và thoả mãn được những nhu cầu cao hơn.
Mặt khác, dựa vào lợi thế kinh tế nhờ qui mô khi tham gia quan hệ
thương mại quốc tế cũng thu được lợi ích, ngoài những lợi ích thu được từ
lợi thế so sánh. Lợi thế qui mô giải thích tại sao các nước lại tiến hành
thương mại trong ngành đó là việc một nước vừa xuất khẩu và nhập khẩu

14

cùng một loại hàng hoá nào đó. Do ngày nay sự phát triển của các nước công
nghiệp ngày càng trở nên giống nhau về trình độ công nghệ và các nguồn
lực, lợi thế so sánh ở nhiều ngành không bộc lộ rõ nữa, cho nên để tiếp tục
duy trì thương mại quốc tế lợi thế về qui mô thực hiện sự trao đổi nhiều
chiều trong nội bộ ngành được coi là biện pháp chiếm lược. Thông qua
thương mại trong ngành, một nước cùng một lúc có thể giảm bớt số loại sản
phẩm tự mình sản xuất và tăng thêm sự đa dạng của hàng hoá cho người tiêu
dùng trong nước. Do sản xuất ít chủng loại hơn, nước đó có thể sản xuất mỗi
loại hàng hoá ở qui mô lớn hơn, với năng xuất lao động cao hơn và chi phí
thấp hơn. Vì vậy, người sản xuất sẽ có lợi nhuận cao hơn và người tiêu dùng
cũng được lợi hơn bởi chi phí rẻ hơn và có phạm vi lựa chọn rộng hơn.
Mọi quốc gia khi tham gia vào thương mại quốc tế đều có thể thu
được lợi, những lợi ích cụ thể này lại phụ thuộc vào điều kiện và trình độ

đoạn đầu khi mới tham gia vào thương mại quốc tế.
Song song với hoạt động xuất khẩu là hoạt động nhập khẩu. Nếu như
xuất khẩu được coi là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế xã hội thì
nhập khẩu lại được coi là nền tảng để thực hiện vai trò đó. Thực tế đã cho
thấy, nhập khẩu có thể tác động trực tiến đến sản xuất, kinh doanh và thương
mại thông qua việc đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất, cung cấp các
nguồn lực khan hiếm Đồng thời nhập khẩu còn giúp cho việc cải thiện và
nâng cao đời sống dân cư của một nước bằng việc cung cấp nhiều hàng hoá
hơn, chất lượng hơn và rẻ hơn.
Tuy nhiên, không nên khai thác quá mức lợi ích của nhập khẩu, nếu
không sẽ có thể biến quốc gia thành bãi thải của công nghệ lạc hậu, không
thúc đẩy sản xuất trong nước, tạo tâm lý tiêu dùng trong nước không tốt
Tác động của tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái tới thương mại

16

Có thể nói, tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là những công
cụ kinh tế vĩ mô chủ yếu để điều tiết cán cân thương mại quốc tế theo mục
tiêu định trước của một nước.
Trước hết, tỷ giá và những biến động của tỷ giá có ảnh hưởng trực
tiếp đến mức giá cả hàng hoá dịch vụ xuất nhập khẩu của một nước. Khi tỷ
giá thay đổi theo hướng làm giảm sức mua đồng nội tệ, thì giá cả hàng hoá
dịch vụ của nước đó sẽ tương đối rẻ hơn so với hàng hoá dịch vụ nước khác
ở cả thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Dẫn đến cầu về xuất khẩu
hàng hoá dịch vụ của nước đó sẽ tăng, cầu về hàng hoá dịch vụ nước ngoài
của nước đó sẽ giảm và tạo ra sự thặng dư của cán cân thương mại.
Ví dụ: Trước đây 1USD = 14000VND . 1 chiếc máy tính giá 750USD
được nhập khẩu và tính ra đồng nội tệ của Việt Nam là 10.500.000VND.
Đến nay, giả sử giá chiếc máy tính không đổi, trong khi tỷ giá thay đổi
1USD = 15000VND thì cũng chiếc máy tính đó được nhập khẩu và bán với

2. CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ CỦA TRUNG QUỐC

2.1 Điều hành chính sách tỷ giá của Trung Quốc trong quá trình cải
cách và chuyển đổi.
2.1.1 Thời kỳ chuyển từ chính sách tỷ giá cố định sang thả nổi theo sát với
những diễn biến của tỷ giá thị trường( 1981- 1993)
Cho đến đầu những năm 1980, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ
giá cố định, gắn đồng NDT luôn cao hơn giá trị thực của nó. Điều này kéo
theo một loạt tiêu cực như: hàng xuất khẩu kém sức cạnh tranh, mất cân đối
nghiêm trọng trong nền kinh tế. Ngân sách quốc gia hàng năm phải bù lỗ
nhiều cho cả sản xuất và tiêu dùng. Như năm 1989 mức bù lỗ là 76,3 tỷ
NDT tương đương với 29% thu nhập tài chính. Vào lúc này tổng số nợ của

18

Trung Quốc lên tới 47 tỷ USD, trong khi dự trữ ngoại tệ quốc gia hầu như
cạn kiệt và lạm phát trong nước lên cao. Để đẩy mạnh xuất khẩu, nhằm đưa
đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đồng thời cùng với việc thực hiện các biện
pháp cải cách kinh tế, Trung Quốc đã liên tục tiến hành điều chỉnh tỷ giá hối
đoái danh nghĩa theo hướng giảm giá trị đồng NDT bị đánh giá cao trước
đây cho phù hợp với sức mua thực tế của nó trên thị trường trong suốt thời
gian đầu của quá trình cải cách cho đến đầu những năm 90.
Từ năm 1981-1985, Trung Quốc luôn luôn muốn thực hiện chế độ
một loại giá hàng, một tỷ giá thống nhất nhưng do nhiều nguyên nhân nên
trong giai đoạn cải cách này bên cạnh sự tồn tại tỷ giá giao dịch thương mại
nội bộ, tỷ giá chính thức thường xuyên thay đổi, hầu hết là phá giá. Theo
thống kê, đồng NDT được điều chỉnh 23 lần trong năm 1981, 28 lần trong
năm 1982 và 56 lần trong năm 1984 ở các mức độ khác nhau để tiến tới tỷ
giá thực của nó. Cải cách, điều chỉnh phần lớn là phá giá dẫn đến tỷ giá
chính thức ngang bằng với tỷ giá nội bộ vào cuối 1984, và cuối cùng là

điều chỉnh này được dựa vào mức giá giữa Trung Quốc và Mỹ đã làm cho
lạm phát cao ở Trung Quốc tác động xấu tới mục tiêu tăng trưởng và thúc
đẩy xuất khẩu của nền kinh tế. Như từ mức thặng dư thương mại là 9.165
triệu USD với tốc độ lạm phát 3,06% năm 1990 thì đến năm 1993 cán cân
thương mại bị thâm hụt –10.654 triệu USD và tốc độ lạm phát là 14,58%.
Có thể nói đây là những bước đầu tiên của quá trình chuyển đổi tỷ giá
hối đoá và chính sách tỷ giá ở Trung Quốc, là giai đoạn để cho tỷ giá ấn định
trước đây được thả nổi theo sát với những diễn biến của thị trường.
2.1.2 Thời kỳ phá giá mạnh đồng NDT và thống nhất hai tỷ giá hướng tới
một đồng NDT có khả năng chuyển đổi (1994- 1997).
Nhận thấy nguy cơ đồng NDT có khả năng trở lại tình trạng bị đánh
giá cao so với sức mua thực tế, chính phủ Trung Quốc đã quyết định chuyển

20

hướng điều chỉnh chính sách tỷ giá hối đoái. Ngày 1-1-1994, đồng NDT
chính thức bị tuyên bố phá giá mạnh từ 5,8 NDT/USD xuống 8,7
NDT/USD, và thống nhất các mức giá thành một tỷ giá chung. Tuy nhiên, tỷ
giá danh nghĩa bắt đầu lên giá chậm chạp và cuối cùng ổn định ở mức
8,3NDT/USD. Để giảm bớt tác động của sự thay đổi trong chính sách tỷ giá
lên thị trường tiền tệ, vào thời kỳ này chính phủ Trung Quốc đã ban hành
một loạt những biện pháp hỗ trợ và quản lý ngoại hối như : thực hiện chế độ
ngân hàng kết hối, xoá bỏ sự găm giữ ngoại tệ và tăng giá ngoại hối của các
công ty, xây dựng thị trường giao dịch ngoại tệ liên ngân hàng; cải tiến cơ
chế hình thành tỷ giá hối đoái; xoá bỏ kế hoạch mang tính mệnh lệnh đối với
thu chi ngoại hối… kết hợp với kiểm soát chặt chẽ của ngân hàng trung
ương Trung Quốc. Đối với công ty nước ngoài, Trung Quốc yêu cầu phải có
bảng cân đối ngoại tệ hàng năm. Đối với các doanh nghiệp liên doanh với
nước ngoài phải có giấy phép đổi ngoại tệ mạnh sang NDT. Còn đối với
doanh nghiệp nhà nước, yếu cầu phải nộp 100% ngoại tệ thu được thay vì

kể. Cuộc khủng hoảng này đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế và thương
mại toàn cầu chậm lại. Trung Quốc không phải là một ngoại lệ. Xuất khẩu
và đầu tư nước ngoài giảm mạnh. Vấn đề sản xuất dư thừa ngày càng trở nên
trầm trọng trong các ngành công nghiệp chế biến. Giá thị trường liên tục
giảm xuống và dần dần xuất hiện những dấu hiệu giảm phát.
Trước tình hình đó, chính phủ Trung Quốc đã có chủ trương không
phá giá đồng NDT, tỷ giá vẫn giữ ở mức 8,3NDT/USD, với biên độ giao
đông là nhỏ. Nhờ đó mà những tác động của cuộc khủng hoảng khu vực
Châu Á đối với nền kinh tế Trung Quốc và cả nền kinh tế thế giới đã ít
nghiêm trọng hơn.
Để bảo vệ đồng NDT trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính
khu vực, năm 1998 Trung Quốc đã quay trở lại kiểm soát chặt chẽ thị trường
ngoại hối, giảm nguy cơ đầu cơ và găm giữ ngoại tệ, tăng dự trữ ngoại tệ.
Thu nhập ngoại tệ của các doanh nghiệp bắt buộc phải bán cho những ngân
hàng đã được chỉ định trước, việc bán ngoại tệ cũng phải có hoá đơn theo

22

quy định mới được rút, thậm chí các nhà đầu tư nước ngoài cũng phải bán
ngoại tệ cho các ngân hàng Trung Quốc để đổi lấy một lượng NDT nhất
định sử dụng trong lãnh thổ nước này. Song song với việc quản lý chặt chẽ
thị trường ngoại hối, để giảm bớt sức ép đối với xuất khẩu và sự tăng trưởng
của nền kinh tế, Trung Quốc còn phối hợp với các chính sách kinh tế như
nới lỏng chính sách tiền tệ và kích cầu. Trong năm này, Trung Quốc đã liên
tiếp 3 lần hạ lãi suất tiền cho vay và tiền gửi bằng đồng NDT, lãi suất chiết
khấu cũng giảm 1,91%, đồng thời với việc giảm cả lãi suất với các loại tiền
gửi bằng ngoại tệ, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, kích thích tiêu dùng ở
các tầng lớp dân cư Với cơ chế quản lý rất chặt chẽ như vậy, tỷ giá giữa
đồng NDT và USD vẫn cố định là 8,3NDT/USD cho tới ngay nay.
Theo các chuyên gia hàng đầu về kinh tế thì cho rằng với tỷ giá hiện

được sử dụng nhiều ở bên ngoài biên giới Trung Quốc, đặc biệt là dọc biên
giới Trung Quốc với các nước Đông Nam Á. Theo tính toán hiện có khoảng
30 tỷ NDT đang lưu hành ở bên ngoài Trung Quốc, điều này chứng tỏ niềm
tin của quốc tế vào kinh tế Trung Quốc. Và đồng NDT được dự đoán là sẽ
đóng vai trò khu vực lớn hơn đồng Eruo, có thể trở thành đồng tiền dự trữ
thay thế các đồng tiền quốc tế khác ở Châu Á.
Bên cạnh những thành tựu đạt được một phần là nhờ vào chính sách
tỷ giá hiện nay, thì vẫn còn những hạn chế. Khi mà đồng tiền giảm giá, nó
làm cho các khoản vay bằng ngoại tệ của nước đó và rủi ro của đầu tư trong
tương lai tăng lên khi các nhà đầu tư dự kiến tăng về tính không ổn định của
tỷ giá hối đoái. Hiện nay, nợ quá hạn của Trung Quốc đã lên đến mức 1.800
tỷ nhân dân tệ, tương đương 140% GDP so với mức 88% trong năm 1996.
Và những khoản nợ khó đòi tập trung ở bốn ngân hàng lớn của Trung Quốc-
đó là những ngân hàng hiện nay mất khả năng thanh toán xét trên phương
diện kỹ thuật. Kể từ 1998 đến nay, Trung Quốc đã bỏ ra 200 tỷ USD để tái

Trích đoạn Một số kiến nghị.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status