Chính sách tiền tệ và tác động của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn 2011-2012 và Giải pháp hoàn thiện - Pdf 10


1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN


Bài tập nhóm
PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH
Tên đề tài:
“Chính sách tiền tệ và tác động của nó đối với sự phát triển của
nền kinh tế trong giai đoạn 2011-2012 và Giải pháp hoàn thiện”. Nhóm thực hiện : NHÓM 4
Chuyên ngành : TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Cao học khoá : 21

Chính sách tiền tệ là một chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cực kì quan trọng
của nhà nước trong nền kinh tế thị trường vì nó có ảnh hưởng lớn đến các biến số vĩ
mô như: tốc độ tăng trưởng, lạm phát Để đạt được các mục tiêu của chính sách tiền
tệ thì việc sử dụng các công cụ của nó có vai trò cơ bản, quyết định.
Ở Việt Nam kể từ khi đổi mới đến nay, chính sách tiền tệ đặc biệt là các công
cụ của nó đang từng bước hình thành, hoàn thiện và phát huy tác dụng đối với nền
kinh tế. Với đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thì việc lựa chọn các công cụ nào, sử
dụng nó ra sao ở các giai đoạn cụ thể của nền kinh tế luôn là một vấn đề thường
xuyên phải quan tâm theo dõi và giải quyết đối với các nhà hoạch định và điều hành
chính sách tiền tệ quốc gia, các nhà nghiên cứu kinh tế. Đặc biệt là trong bối cảnh
nền kinh tế trong nước và quốc tế như hiện nay thì việc nghiên cứu về chính sách
tiền tệ cụ thể là các công cụ của chính sách tiền tệ là một vấn đề có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn cao.
Với mục đích trau dồi kiến thức đã học và góp phần nghiên cứu, tìm hiểu về
chính sách tiền tệ, nhóm em quyết định chọn đề tài: “Chính sách tiền tệ và tác động
của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn 2011-2012 và Giải
pháp hoàn thiện”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 phần được bố cục như sau:
Phần I. Tổng quan về chính sách tiền tệ.
Phần II. Thực trạng chính sách tiền tệ ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2012.
Phần III. Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách tiền tệ ở Việt Nam.
Khi nghiên cứu đề tài này, do bản thân nhóm còn nhiều hạn chế nên chắc chắn
sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự giúp đỡ của thầy, cô giáo và sự
đóng góp của các bạn.

Hà N

i, ngày 20 tháng 6 năm 2013

Nhóm 4

hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực
hiện mục tiêu đề ra”. Với chính sách này, Nhà nước thống nhất quản lý mọi hoạt
động của Ngân hàng, động viên các nguồn lực trong nước, đồng thời tranh thủ các
nguồn lực từ bên ngoài, tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó, giữ vững
chủ quyền quốc gia, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế-xã hội.
Tại mỗi một quốc gia, với tư cách là thiết chế đầu não của toàn bộ hệ thống tài
chính & ngân hàng, NHTW là cơ quan chủ chốt, thiết kế và quyết định chính sách
tiền tệ. Dù với tên gọi khác nhau (NHTW, NHNN, Hệ thống dự trữ lên bang ),
nhưng tất cả chúng đều có chung một tính chất là cơ quan trong bộ máy quản lý Nhà
nước, độc quyền phát hành tiền, thực hiện nhiệm vụ cơ bản là ổn định giá trị tiền tệ,
thiết lập trật tự, bảo dảm sự hoạt động an toàn và ổn định và hiệu quả của toàn bộ hệ
thống ngân hàng nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của mỗi đất nước.
Hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ là nhiệm vụ trung tâm của NHTW
trong lĩnh vực tiền tệ. Điều hành chính sách tiền tệ của NHTW trong nền kinh tế thị
trường mang tính chất điều tiết vĩ mô, hướng các tổ chức tín dụng vào thực hiện các
mục tiêu của chính sách tiền tệ, đồng thời vẫn đảm bảo tính tự chủ trong hoạt động
kinh doanh của các tổ chức tín dụng. NHTW thường không can thiệp và không ra
lệnh trực tiếp vào các quyết định tác nghiệp của các tổ chức tín dụng mà chủ yếu sử
dụng các biện pháp tác động gián tiếp để điều chỉnh môi trường và các điều kiện kinh
doanh của các tổ chức tín dụng như: khả năng thanh toán, lãi suất chiết khấu, dự trữ,
khối lượng tiền cung ứng, tỷ giá để thông qua đó đạt tối mục tiêu của chính sách
tiền tệ.
Để điều hành chính sách tiền tệ, NHTW phải hình thành và sử dụng hệ thống
công cụ của nó. Đặc điểm của các công cụ chính sách tiền tệ là tạo cho NHTW khả
năng tác động có hiệu lực đến các yếu tố tiền đề buộc các tổ chức tín dụng phải tự
điều chỉnh hoạt động của mình theo hướng chỉ đạo của NHTW nhưng vẫn phải đảm
bảo quyền tự chủ trong kinh doanh cũng như sự bình đẳng trong môi trường cạnh
tranh giữa các ngân hàng.


khủng hoảng kinh tế cao. Chính vì vậy mà mục tiêu này được xem là một trong
những mục tiêu quan trọng nhất trong CSTT. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế luôn luôn
gắn liền với mục tiêu ổn định giá cả kiềm chế lạm phát.
2.4. Mục tiêu ổn định lãi suất:
Tất cả các quốc gia đều mong muốn một sự ổ định về lãi suất. Vì lãi suất có
ảnh hưởng lớn đến đầu tư và tăng trưởng, ảnh hưởng đến các luồng vốn, ngoại tệ
Chính vì thế, ổn định lãi suất tạo ra thế ổn định cho các lĩnh vực như tín dụng, đầu tư,
sự di chuyển vốn… dẫn đến ổn định chung cho nền kinh tế.

6

Lãi suất chính là một trong những công cụ quan trọng nhất của CSTT. Để cho
nền kinh tế được ổn định đòi hỏi CSTT phải đưa ra một hệ thống lãi suất mềm dẻo
đúng đắn,phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường.
2.5. Về ổn định thị trường tài chính:
Việc tạo ra một nền tảng tài chính ổn định để hệ thống NH & các tổ chức tín
dụng có thể hoạt động một cách có hiệu quả và hỗ trợ một cách tốt nhất cho tăng
trưởng KT cao, lạm phát thấp, cũng như hạn chế những khuyết tật của hệ thống tài
chính là mục tiêu chủ đạo của chính sách tiền tệ. NHTW phải điều hoà hoạt động của
hệ thống TC trong nước một cách gián tiếp,tăng cường hiệu quả cho nó.
Bản thân hệ thống TC cũng có những mục tiêu riêng của nó và nhiều khi
những mục tiêu này lại đối chọi với các mục tiêu chung của nền KT. Do đó vai trò
của CSTT là làm hài hoà một cách tối ưu giữa các mục tiêu trên,để phục vụ tốt nhất
cho lợi ích chung của nền KT mà không làm tổn hại hay hạn chế sự phát triển của hệ
thống TC.
2.6. Mục tiêu ổn định thị trường ngoại hối:
Nhằm ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền quốc gia, NHTW thực hiện các
nhiệm vụ giao dịch về TC và Tiền tệ đối ngoại bằng các phương diện: quản lý ngoại
hối, lập và theo dõi diễn biến của cán cân thanh toán quốc tế, thực hiện các nghiệp vụ
hối đoái, tổ chức và điều tiết thị trường hối đoái trong nước, xây dựng và thống nhất

chế lạm phát. Chính sách này được đưa ra nhằm ngăn trặn tình trạng phát triển quá
nóng của nền kinh tế. Nó tạo ra sự khan hiếm về tiền, sự đắt đỏ về chi phí, làm giảm
tốc độ tăng trưởng quá nhanh, tạo ra một sự phát triển bền vững.
Trong nền kinh tế thị trường, CSTT bao gồm 3 thành phần cơ bản gắn liền với
3 kênh dẩn nhập tiền vào lưu thông.
 Chính sách tín dụng:
Thực chất CSTD là cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế quốc
dân, thông qua các nghiệp vụ ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay được tạo lập từ
các nguồn tiền gửi của XH và với một hệ thống lãi suất mềm dẻo, phù hợp với sự vận
động của cơ chế thị trường.
 Chính sách ngoại hối:
Nhằm đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản có giá trị thanh toán đối
ngoại phục vụ cho việc ổn định tiền tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và gia
tăng việc làm trong xã hội, đảm bảo chủ quyền tiền tệ của đất nước.
 Chính sách đối với ngân sách nhà nước:
Nhằm đảm bảo phương tiện thanh toán cho chính phủ trong trường hợp Ngân
sách nhà nước bị thiếu hụt. Phương thức tối ưu là NHTW cho ngân sách nhà nước
vay theo kỳ hạn nhất định, dần dần tiến tới loại bỏ hoàn toàn phát hành tiền để bù đắp
thiếu hụt ngân sách.
Ngân sách nhà nước có thể ở ba trạng thái, đó là thâm hụt ngân sách, cân bằng
ngân sách & thặng dư ngân sách.
- Trong trường hợp NSNN bị thiếu hụt, chênh lệch giữa thu và chi ngân sách
sẽ có những tác dụng khác nhau đến nền KT, tuỳ theo các tác động đó mà có các cách
thức để giảm bớt sự thiếu hụt: Một là vay dân cư; Hai là vay từ hệ thống tín dụng và
thị trường tài chính trong nước; Ba là vay NHNN; Bốn là vay nước ngoài. Việc vay
của NHTW & vay nước ngoài sẽ làm tăng mạnh khối tiền tệ gây ra các áp lực tiềm
tàng về sau. Vay của dân cư & của các NHTM trong nước sẽ làm cho các nguy cơ
trên giảm đi. Hiện nay, áp lực lạm phát tại các nước đang & kém phát triển cao hơn

8

nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.
Công cụ này thường được sử dụng trong trường hợp lạm phát cao nhằm khống
chế trực tiếp và ngay lập tức lượng tín dụng cung ứng. Trong trường hợp các công cụ
gián tiếp không phát huy hiệu quả do thị trường tiền tệ chưa phát triển hoặc do mức
cầu tiền tệ không nhạy cảm với sự biến động của lãi suất hay Ngân hàng trung ương
không có khả năng không chế và kiểm soát được sự biến động của lượng vốn khả
dụng của hệ thống Ngân hàng thương mại thì hạn mức tín dụng là cứu cánh của Ngân
hàng trung ương trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng.

9

Tuy nhiên, hiệu quả điều tiết của công cụ này không cao bởi nó thiếu tính linh
hoạt và đôi khi đi ngược lại chiều hướng biến động của thị trường tín dụng do đó đẩy
lãi suất lên cao hoặc làm suy giảm khả năng cạnh tranh của Ngân hàng thương mại.
4.1.2. Lãi suất tiền gửi và cho vay.
Lãi suất là con át chủ bài tác động đến đầu tư và tiêu dùng là hành lang mà từ
đó những sự thay đổi trong cung ứng tiền dẫn đến sự thay đổi trong kinh tế vĩ mô.
NHTW có thể qui định khung lãi suất tiền gửi và cho vay trên thị trường nhưng thông
qua cơ chế điều chỉnh cung cầu tiền tệ. Nếu lãi suất tiền gửi cao sẽ thu hút được
nhiều tiền gửi làm tăng nguồn vốn vay, ngược lại sẽ làm giảm khả năng mở rộng kinh
doanh tín dụng. Khi muốn tăng khối lượng cho vay, NHTW giảm mức lãi suất cho
vay để kich thích các nhà đầu tư vay vốn, khi cần hạn chế đầu tư NHTW sẽ ấn định
mức lãi suất cao.
Tuy nhiên, biện pháp này làm cho các NHTM mất tính chủ động, linh hoạt
trong kinh doanh. Mặt khác, nó dễ dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn ở Ngân hàng,
nhưng lại thiếu vốn đầu tư hoặc khuyến khích dân cư dùng tiền để dự trữ vàng, ngoại
tệ, bất động sản trong khi ngân hàng bị thiếu hụt về tiền mặt cũng như nguồn cho
vay.
Biện pháp này có ưu điểm là giúp Ngân hàng lựa chọn những dự án kinh tế tối
ưu để cho vay, loạI bỏ các dự án kém hiệu quả nhưng nó cũng làm cho tính linh hoạt

một tài khoản tiền gửi không hưởng lãi tại Ngân hàng trung ương. Nó được xác định
bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số dư tiền gửi tại một khoảng thời gian
nào đó. Mức dự trữ bắt buộc được quy định khác nhau căn cứ vào thời hạn tiền gửi,
vào quy mô và tính chất hoạt động của ngân hàng thương mại. Cơ chế tác động của
dự trữ bắt buộc:
Việc thay đổi dự trữ bắt buộc và do đó mức dự trữ bắt buộc ảnh hưởng đến
lượng tiền cung ứng theo ba cách:
Thứ nhất: Giả sử Ngân hàng trung ương quyết định tăng tỷ lệ bắt buộc từ 10%
đến 12%, bộ phận dự trữ dư thừa trước đây giờ trở thành bắt buộc, làm giảm khả
năng cho vay của hệ thông Ngân hàng thương mại.
Thứ hai: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là một thành phần trong mẫu số của công thức
tạo tiền. Vì thế sự tăng lên của tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm giảm hệ số tạo tiền và do
đó khả năng mở rộng tiền gửi của hệ thống Ngân hàng giảm.
Thứ ba: tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng lên làm giảm mức cung vốn Ngân hàng
trung ương trên thị trường liên Ngân hàng. Trong điều kiên nhu cầu vốn khả dụng
không thay đổi, sự sút giảm này làm tăng lãi suất liên Ngân hàng, từ đó mà tác động
đến các mức lãi suất dài hạn và khối lượng tiền cung ứng. Quyết định giảm tỷ lệ dự
trữ bắt buộc sẽ gây lên những ảnh hưởng ngược lại.
Ưu điểm và nhược điểm của dự trữ bắt buộc:
Điểm lợi chính của công cụ này là nó tác động đến tất cả các ngân hàng như
nhau và có tác dụng đâỳ quyền lực đến cung ứng tiền tệ. Tuy nhiên khi dự trữ bắt
buộc không được trả lại, chúng tương đương với một khoản thuế và có thể dẫn đến
hiện tượng phi trung gian hoá. Mặt khác bự trữ bắt buộc thiếu tính mềm dẻo bởi sẽ
rất vất vả để thực hiện được những thay đổi nhỏ trong cung ứng tiền tệ bằng cách
thay đổi dự trữ bắt buộc. Một điểm bất lợi khác nữa của việc sử dụng dự trữ bắt buộc
để kiểm soát việc cung ứng tiền tệ là việc tăng dự trữ bắt buộc cói thể gây ảnh hưởng
xấu đến khả năng thanh khoản của các NHTM, gây ra tình trạng không ổn định cho

11


khả năng thanh toán của Ngân hàng khi đến vay tại cửa sổ chiết khấu.
- Phí về việc rất có thể bị từ chối cho vay chiết khấu bởi vì đến cửa sổ chiết
khấu quá thường xuyên.
Ưu và nhược điểm của chính sách chiết khấu.
Chính sách chiết khấu là một công cụ rất quan trọng trong việc thực thi chính
sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương. Nó không chỉ điều tiết lượng tiền cung ứng,

12

mà còn thể hiện vai trò người cho vay cuối cùng đối với các tổ chức tín dụng và tác
động đến việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư đối với nền kinh tế.
Biện pháp này có ưu điểm là việc vay mượn được thực hiện trên những giấy tờ
có giá nên thời hạn vay mượn tương đối rõ ràng, việc hoàn trả nợ tương đối chắc
chắn, tiền vay vận động phù hợp với sự vận động của qui luật cung cầu thị trường.
Nó cũng giúp NHTW thực hiện vai trò là người vay cuối cùng nhằm tránh khỏi
những cuộc sụp đổ tài chính. Chiết khấu là một cách có hiệu quả đặc biệt để cung cấp
dự trữ cho hệ thống ngân hàng trong quá trình xảy ra một cuộc khủng hoảng ngân
hàng bởi vì dự trữ lập tức được điều đến các ngân hàng nào cần thêm dự trữ hơn cả.
Chính sách chiết khấu có tác dụng thông báo ý định của NHTW về chính sách tiền tệ
trong tương lai.
Việc sử dụng biện pháp này đôi khi cũng không đạt hiệu quả bởi vì nó có hai
nhược điểm chính sau: thứ nhất, ở vào nghiệp vụ này NHTW ở vào thế bị động,
NHTW có thể thay đổi lãi suất tái chiết khấu nhưng không thể bắt các NHTM phải đi
vay; thứ hai khi NHTW ấn định mức lãi suất chiết khấu tại một mức đặc biệt nào đấy
sẽ xảy ra những biến động lớn trong khoảng cách giữa lãi suất chiết khấu và lãi suất
thị trường vì lãi suất vay thay đổi, dẫn đến những thay đổi ngoài ý định trong khối
lượng cho vay chiết khấu và do đó trong cung ứng tiền tệ, NHTW khó có thể đảo
ngược những thay đổi trong lãi suất chiết khấu.
2.2.3.Nghiệp vụ thị trường mở
Khái niệm và nội dung:

Tuy nhiên, khi NHTW mua bán chứng khoán trên thị trường thì vẫn phải phụ
thuộc vào người mua bán (các NHTM). Và để sử dụng được nghiệp vụ này thì phải
có sự phát triển khá cao của của cơ chế thanh toán không dùng tiền mặt, tiền trong
lưu thông phần lớn nằm trong tài khoản của ngân hàng, đòi hỏi thị trường tài chính
phải tương đối phát triển. Hay nói cách khác, nghiệp vụ thi trường mở chỉ đạt được
hiệu quả trong điều kiện có một thị trường chứng khoán thứ cấp sôi động, một thị
trường liên NH, thị trường tiền tệ hoạt động sôi động.

14

II. Thực trạng chính sách tiền tệ ở VN và tác động của nó tới sự phát
triển của nền kinh tế giai đoạn 2011-2012
1. Việc sử dụng các công cụ của CSTT năm 2011-2012
1.1. Mục tiêu hàng đầu của CSTT:
Thời kỳ 1997-2010, theo quy định của Luật NHNN 1997, quy định rõ quan
điểm CSTT đa mục tiêu: ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc
đẩy kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống xã hội.
Thời kỳ 2011-2012, Luật NHNN 2010, có hiệu lực từ 1/1/2011, chỉ quy định
một mục tiêu của CSTT, đó là:ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm
phát. Theo luật NHNN 2010, thì mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng của CSTT
của Việt Nam hiện nay là: Ổn định giá trị đồng tiền. Đây là sự đổi mới, hoàn thiện
đúng hướng của CSTT ở VN, theo hướng CSTT đơn mục tiêu, phù hợp với các
chuẩn mực quốc tế.
1.2. Điều hành công cụ CSTT năm 2011-2012
Công cụ của CSTT là hệ thống các biện pháp mà NHNN có thể sử dụng để
điều chỉnh, tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới mức cung cầu tiền tệ, nhằm đạt
được mục tiêu cao nhất của CSTT đã đề ra. Các công cụ thực hiện chính sách tiền tệ
đã được NHNN sử dụng chủ yếu trong thời gian qua bao gồm: lãi suất, tái cấp vốn,
tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở, kiểm soát hạn mức tín
dụng,

của hệ thống Ngân hành được cải thiện bằng nguồn vốn hút vào từ nền kinh tế chứ
không phải từ nguồn tái cấp vốn như năm 2011.
Từ tháng 6/2011-10/2012: Mối quan hệ giữa các loại lãi suất được điều chỉnh
hợp lý hơn thời kỳ trước đó, theo nguyên tắc: Lãi suất tái chiết khấu< lãi suất huy
động vốn dưới 12 tháng < lãi suất tái cấp vốn; “sàn” là lãi suất tái chiết khấu; “Trần”
là lãi suất tái cấp vốn; Biên độ 1-2%, lãi suất huy động vốn của TCTD biến động
trong biên độ nói trên.
Sự đổi mới cơ chế lãi suất lãi suất nói trên đã khuyến khích các TCTD huy
động vốn từ nền kinh tế, hạn chế vay vốn từ NHNN, không còn cơ hội cho các
TCTD lợi dụng vay tái cấp vốn của NHNN để cho vay lại trên thị trường liên ngân
hàng với lãi suất cao để hưởng chênh lệch lãi suất lớn.
- Lãi suất huy động và cho vay của TCTD 2012 giảm hơn nhiều so với 2011:
So với cuối năm 2011, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng giảm được
6%/năm(14%/năm xuống 8%/năm), lãi suất cho vay 4 đối tương ưu đãi giảm được
4%-5%/năm (16-17%/năm xuống 12%/năm). Hiện nay, lãi suất cho vay phổ biến
đối với 4 lĩnh vực ưu tiên: nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ
và vừa, công nghiệp hỗ trợ ở mức 11-12%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh
doanh khác ở mức 14-17%/năm. Đặc biệt, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh 8-
9%/năm so với đầu năm 2012, thị trường tiền tệ đã có sự cải thiện tích cực hơn
nhiều so với năm 2011
- Cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với lãi suất huy động vốn trên 12 tháng và lãi
suất cho vay trung dài hạn
Cơ chế lãi suất huy động lãi suất thỏa thuận được thực hiện theo Thông tư
19/2012/TT-NHNN ngày 8/6/2012: “Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng trở lên do
TCTD ấn định trên cơ sở cung cầu vốn thị trường”.

16

Lãi suất cho vay thỏa thuận được thực hiện từ 14/4/2010 theo Thông tư số
12/2010/TT-NHNN vàthông tư 14/2012/TT-NHNN từ ngày 4/5/2012. Đối với các

phát huy được vai trò chủ đạo trong việc giải quyết vấn đề rủi ro thanh khoản cho các
NHTM trong thời gian qua.

17

d. Nghiệp vụ thị trường mở (OMO)
Trong thời gian 2011-2012, NHNN điều hành công cụ Nghiệp vụ Thị trường
mở theo Quy chế nghiệp vụ thị trường mở ban hành kèm theo Quyết định số
01/2007/QĐ- NHNN và Quyết định 27/2008/QĐ-NHNN sửa đổi bổ sung QĐ
01/2007/QĐ-NHNN.
Theo quy chế trên, Ngân hàng Nhà nước thực hiện nghiệp vụ thị trường mở
thông qua việc mua, bán giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng. Các loại giấy tờ có
giá được phép giao dịch thông qua nghiệp vụ thị trường mở hiện nay là:Tín phiếu
NHNN, tín phiếu kho bạc, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu địa phương do
UBND thành phố Hà nội, UBNN thành phố Hồ Chí Minh phát hành.
Trong thời gian qua, nghiệp vụ thị trường mở phát triển nhanh, quy mô ngày
càng được mở rộng, góp phần giải quyết khó khăn về nguồn vốn thanh toán và kinh
doanh cho các TCTD, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến
tổng lượng tiền cung ứng (M2) trong nền kinh tế, theo mục tiêu của chính sách tiền
tệ.
Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, NHNN tác động trực tiếp đến
nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng tiền tệ cung ứng
và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường theo mục tiêu giảm lãi suất huy động và
cho vay của TCTD, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp.
e. Kiểm soát hạn mức tín dụng
Hạn mức tín dụng là công cụ can thiệp trực tiếp, mang tính hành chínhcủa
NHNN, được sử dụng để khống chế tổng dư nợ tín dụng, qua đó khống chế tổng
khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế.
Công cụ này thực sự phát huy hiệu quả khi tổng phương tiện thanh toán trong
nền kinh tế tăng cao và các công cụ gián tiếp khác tỏ ra kém hiệu lực.

đặc biệt là chính sách cho vay lãi suất thấp hơn các đối tượng khác đối với 4 đối
tượng sản xuất kinh doanh được ưu tiên, là quyết định đúng đắn, kịp thời; tác động
tích cực đến giảm chi phí vay vốn cho doanh nghiệp, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng. So
với cuối năm 2011, lãi suất tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng giảm được 6%/năm, lãi
suất cho vay 4 đối tượng ưu đãi giảm được 4%-5%/năm. Đặc biệt, lãi suất liên ngân
hàng giảm mạnh 8-9%/năm so với đầu năm 2012, thị trường tiền tệ đã có sự cải
thiện tích cực hơn nhiều so với năm 2011
Cơ chế lãi suất thỏa thuận đối với lãi suất huy động vốn trên 12 tháng và lãi
suất cho vay trung dài hạn là bước đi phù hợp, tạo điều kiện cho các NHTM hoạt
động kinh doanh theo nguyên tắc thương mại và thị trường.
Cơ chế lãi suất huy động lãi suất thỏa thuận được thực hiện theo thông tư
19/2012/TT-NHNN ngày 8/6/2012: “Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn 12 tháng trở lên do
TCTD ấn định trên cơ sở cung cầu vốn thị trường”.
- Tái cấp vốn
Thông qua các hình thức tái cấp vốn: cho vay đảm bảo giấy tờ có giá, chiết
khấu giấy tờ có giá và cho vay lại hồ sơ tín dụng, công cụ tái cấp vốn của NHNN đã

19

phát huy được vai trò chủ đạo trong việc giải quyết vấn đề rủi ro thanh khoản cho các
NHTM trong thời gian qua.
- Nghiệp vụ thị trường mở (OMO)
Nghiệp vụ thị trường mở phát triển nhanh, quy mô ngày càng được mở rộng,
góp phần giải quyết khó khăn về nguồn vốn thanh toán và kinh doanh cho các
TCTD, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến tổng lượng tiền
cung ứng (M2) trong nền kinh tế, theo mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá, NHNN tác động trực tiếp đến
nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng tiền tệ cung ứng
và tác động gián tiếp đến lãi suất thị trường theo mục tiêu giảm lãi suất huy động và
cho vay của TCTD, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp.

khách hàng. Nếu NHNN trực tiếp quyết định cả mức lãi suất cho vay và huy động
vốn của các TCTD thì công cụ lãi suất điều hành của NHNN sẽ không phát huy hết
tác dụng.
Trên thực tế, trong suốt thời kỳ 2011-2012, NHNN quyết định trực tiếp các
mức lãi suất huy động cho vay của TCTD đối với khách hàng đối với từng kỳ hạn và
đối tượng khách hàng (trừ lãi suất huy động trên 12 tháng theo Thông tư 19/2012/TT-
NHNN ngày 8/6/2012 và lãi suất cho vay thỏa thuận theo Thông tư số 12/2010/TT-
NHNN và Thông tư 14/2012/TT-NHNN ngày 4/5/2012); Cơ chế điều hành trực tiếp
quyết các mức lãi suất kinh doanh của các TCTD đã làm vô hiệu hóa các mức lãi suất
điều hành chủ chốt của NHNN (lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu)
Lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành là lãi
suất thực hiện vai trò định hướng thị trường tiền tệ, nhưng hiện nay chỉ mang tính
hình thức, chưa trở thành lãi suất cơ sở, chuẩn mực để định hướng cho các loại lãi
suất khác trên thị trường.Vì thế làm tăng rủi ro pháp lý trong hoạt động kinh doanh
tiền tệ tín dụng và các quan hệ dân sự khi có phát sinh tố tụng.
Luật dân sự 2005 quy định các TCTD không được phép huy động và cho vay
với lãi suất cao hơn 150% mức lãi suất cơ bản do NHNN công bố. Luật NHNN số
46/2010/QH12 “Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản và
các loại lãi suất khác để điều hành chính sách tiền tệ, chống cho vay nặng lãi”.
Trên thực tế, lãi suất cơ bản hiện nay là lãi suất mang tính hình thức, không
có cơ sở kinh tế và không liên quan đến bất kỳ quan hệ cung cầu vốn trên các thị
trường.
Vai trò định hướng và tác động của các loại lãi suất điều hành của NHNN (lãi
suất tái cấp vốn, tái chiết khấu, OMO) đến lãi suất thị trường rất hạn chế. Một trong
những nguyên nhân chủ yều là phương pháp xác định các loại lãi suất trên còn bất
cập, không dựa trên cơ sở lãi suất cơ bản là lãi suất chuẩn; cơ chế điều hành cụ thể
các loại lãi suất chưa được ban hành rõ ràng.
Thực tế trong thời gian qua, NHNN chưa ban hành được cơ chế điều hành và
phương pháp xác định cụ thể từng loại lãi suất trên. Khi quyết định các loại lãi suất
chủ yếu dựa vào diễn biến số liệu báo cáo thực hiện chỉ số CPI, các chỉ số kinh tế vĩ

tháng từ 3/2011-2/2012) trong khi CPI đã giảm mạnh và liên tục từ tháng 6/2011-
12/2011, làm tăng áp lực thanh khoản của hệ thống, tăng thêm các rủi ro kỳ hạn, rủi
ro thanh khoản, rủi ro đạo đức trong hệ thống Tài chính - Ngân hàng.
Hậu quả của cơ chế điều hành này đã gây thiệt hại cho người gửi tiền(7 tháng
liên tục lãi suất tiền gửi ở mức thực âm); các NHTM phá rào trần lãi suất huy động
vốn bằng mọi cách (hoa hồng, chi tiền mặt ngoài sổ sách, nhận ủy thác đầu tư trá
hình, ) thanh khoản căng thẳng, thị trường tiền tệ, thị trường liên Ngân hang đua
nhau cạnh tranh lãi suất “ngầm”.

22

Trong suốt 12 tháng liên tục từ tháng 3/2011-2/2012, mức lãi suất “trần” huy
động vốn của các TCTD vẫn cố định 1, 17%/tháng(14%/năm).Trong khi CPI biến
động liên tục hàng tháng với biên độ lớn và xu thế giảm rõ rệt lần lượt
là:2.25%;3.53%;2.43%;1.22%;1.32%;1.07%;0.95%;0.42%;0.45%;0.63%;1.00%;
1.37%. Kết quả là rủi ro kỳ hạn, rủi ro thanh khoản của các TCTD tăng lên do tiền
gửi huy động được của các NHTM chủ yếu là không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn 1-2
tháng, tiền gửi từ 3 -12 tháng chiểm tỷ lệ rất ít;tiền gửi trung dài hạn trên 12 tháng
không thể huy động được.

- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
NHNN cố định tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VND trong suốt thời gian
dài từ 2009-2012 trong cả quá trình lạm phát cao năm 2011 và xu hướng thiểu phát 6
tháng 2012.Công cụ tỷ lệ DTBB không phát huy tác dụng điều chỉnh nguồn vốn
thanh toán và cho vay của TCTD.Vì vậyhạn chế vai trò, tác dụng của tỷ lệ dự trữ bắt
buộc trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay, lượng tiền cung ứng và hệ số tạo tiền của
hệ thống TCTD.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là công cụ có tác động rất mạnh đến khối lương tiền
cung ứng trong lưu thông theo cấp số nhân, là công cụ kiểm soát lạm phát có hiệu
quả nhất, nhưng NHNN không tăng hoặc giảm tỷ lệ trong suốt thời gian dài, trong

thì sẽ gây khó khăn cho nền kinh tế.
Quan điểm trên rất đúng với nhóm 13 NHTM cổ phần nông thôn mới chuyển
đổi thành NHTM triền miên khó khăn thanh khoản. Nhưng đối với nhóm G12, gồm
12 NHTM chiếm gần 80-85% thị phần không phải là các NHTM thiếu thanh khoản,
thậm nhiều NHTM thừa tiền đi gửi vào các TCTD khác. Mặt khác, trong suốt thời
gian quá dài 2009- 2012, hệ thống NHTM không phải thiếu thanh khoản liên tục. Vì
vậy, cần phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung hoàn thiện cơ chế điều hành công cụ dự trữ
bắt buộc, để phát huy hiệu quả cao hơn.
- Tái cấp vốn
Trong thời gian qua, công cụ tái cấp vốn chưa đủ tiềm lực vốn và điều kiện để
phát huy hiệu quả, vai trò cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các
TCTD, chưa tác động được nhiều đến cung cầu vốn và các loại lãi suất trên thị
trường.
Nguyên nhân chủ yếu do nguồn vốn cho vay hạn hẹp, NHNN chỉ được cho
vay tái cấp vốn trong một giới hạn nhất định, nằm trong hạn mức tăng tổng phương
tiện thanh toán M2 đã được Chính phủ duyệt hàng năm;nhiều TCTD cần vay nhưng
không điều kiện được vay tái cấp vốn; một số TCTD đủ điều kiện vay vốn nhưng
không có nhu cầu vay. Do đó, doanh số cho vay và dư nợ tái cấp vốn đối với các
TCTD không lớn;mức độ tác động tới lãi suất và cung cầu vốn trên thị trường hạn
chế.
Trong điều kiện lạm phát đang bùng phát cao từ 1/2011- 2/2012, việc lựa
chọn sử dụng công cụ tái cấp vốn tuy giải quyết được khó khăn thanh khoản cho một
số TCTD, nhưng làm tăng thêm tiền cung ứng trong lưu thông, gây áp lực thêm cho
mục tiêu kiểm soát lạm phát.

24

Công cụ tái cấp vốn chỉ phát huy hiệu quả cao trong điều kiện lạm phát bình
thường và mục đích cho vay nhằm giải quyết khó khăn chi trả có tính chất tạm thời.
Đối với các trường hợp mất thanh khoản có nguyên nhân từ rủi ro cơ cấu kỳ hạn

Quyết định 27/2008/QĐ-NHNN sửa đổi bổ sung QĐ 01/2007/QĐ-NHNN chưa được
điều chỉnh cho phù hợp với sự thay đổi của các quy định pháp luật khác có liên quan
như: Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 5/1/2011 về phát hành trái phiếu Chính phủ,
trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu của chính quyền địa phương; Luật sửa
25

đổi, bổ sung Luật Chứng khoán(Luật 62/2010/QH 12); Luật NHNN Việt Nam (luật
46/2010/QH12) và Luật Các TCTD (Luật 47/2010/QH12),
Nhiều vấn đề cần phải bổ sung sửa đổi để đồng bộ với các văn bản pháp luật
mới (đặc biệt là các quy định mới về phát hành giấy tờ có giá, tiêu chuẩn giấy tờ có
giá, định giá giấy tờ có giá, ) nếu không sớm điều chỉnh sẽ phát sinh các rủi ro về
pháp lý, rủi ro về kinh tế cho các TCTD và làm giảm hiệu quả của công cụ Thị
trường mở.
Cơ chế mua bán giấy tờ có giá trên thị trường mở hiện hành chủ yếu là đấu
thầu khối lượng, các mức lãi suất giao dịch thực tế phản ánh chưa chính xác quan hệ
cung cầu vốn, không khuyến khích cạnh tranh thực sự giữa các TCTD với mục tiêu
hạ lãi suất thị trường.
Phương thức mua bán trong thời gian qua chủ yếu là đấu thầu khối lượng: là
việc xét thầu trên cơ sở khối lượng dự thầu của các tổ chức tín dụng, khối lượng giấy
tờ có giá Ngân hàng Nhà nước cần mua hoặc bán và lãi suất do Ngân hàng Nhà nước
thông báo.
Trong giai đoạn lạm phát rất thấp (từ tháng 3/2012-8/2012), lãi suất cho vay
đối với nền kinh tế còn quá cao so với CPI, các thành viên đủ điều kiện tham gia thị
trường mở là các NHTM lớn, thanh khoản đảm bảo, dư vốn khả dụng không cho
vay được, phương thức xét thầu khối lượng chưa phù hợp, không tạo ra được sự
cạnh tranh về lãi suất của các TCTD, để hạ lãi suất thị trường.
Phương thức xét thầu khối lượng nhằm mục đích hỗ trợ thanh khoản, tạo điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status