Tài liệu Tiểu luận: Nghiên cứu vấn đề bản chất, chức năng, hình thức của tín dụng và vai trò của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN - Pdf 96

Tiểu luận
Nghiên cứu vấn đề bản chất,
chức năng, hình thức của tín dụng
và vai trò của nó đối với sự phát
triển của nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I. BẢN CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÌNH THỨC TÍN DỤNG 3
1.1. Tín dụng hình thành, phát triển và một tất yếu khách quan 3
1.2. Bản chất, đặc điểm của tín dụng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội ở nước ta hiện nay 5
II. CÁC HÌNH THỨC CỦA TÍN DỤNG 8
1. Đặc điểm và các hình thức tín dụng 8
2. Quan hệ tín dụng tồn tại dưới các hình thức 9
3. Chức năng của ngân hàng Thương mại 10
III. CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG 13
1. Chức năng của tín dụng 13
2. Vai trò của tín dụng 14
2
LỜI MỞ ĐẦU.
Những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước,
với sự nỗ lực phấn đấu của các tổ chức, đơn vị kinh tế và toàn thể nhân dân, sự
hợp tác, hỗ trợ, giúp đỡ của các quốc gia, tổ chức kinh tế quốc tế, nền kinh tế
nước ta đã có những khởi sắc, tiến bộ mới, từng bước phát triển nhanh hơn, vững
chắc hơn. Chúng ta đã và đang cố gắng nâng cao sức mạnh tốc độ tăng trưởng,
hiệu quả của nền kinh tế để dần dần theo kịp hoà nhập với nền kinh tế khu vực
và trên thế giới. Tuy nhiên, xét từ mục tiêu, đường lối phát triển nền kinh tế nước
ta (theo quan điểm của Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX) từ thực
tiễn sự phát triển mạnh mẽ và rất năng động của nền kinh tế thế giới trong đó

nước theo định hướng XHCN nói riêng. Bởi vậy việc tìm hiểu, nghiên cứu vấn
đề bản chất, chức năng, hình thức của tín dụng và vai trò của nó đối với sự phát
triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là việc làm cần thiết, bổ ích
trước hết là với những người học tập về khoa học kinh tế, những nhà quản lý,
hoạt động trong lĩnh vực kinh tế.
4
I. BẢN CHẤT, ĐẶC ĐIỂM VÀ CÁC HÌNH THỨC TÍN DỤNG.
1.1. Tín dụng hình thành, phát triển là một tất yếu khách quan.
Theo sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội loài người cũng phát triển
theo các hình thái kinh tế khác nhau. Ở mỗi giai đoạn, thời đại kinh tế đó do đặc
điểm về năng lực của nền kinh tế nên ở xã hội cộng sản nguyên thủy do lực lượng
sản xuất kém phát triển, xã hội không có của dư, sản phẩm do con người làm ra
chưa đủ tích lũy, quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở cộng đồng mọi sản phẩm đều là
của chung, con người hoàn toàn dựa vào nhau, chung sống, tư hữu chưa ra đời
Do đó chưa xuất hiện quan hệ mua bán, trao đổi.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất sau đó đã tạo điều kiện tăng năng suất
lao động, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, con người không chỉ đủ tiêu dùng mà
dần dần còn có tích lũy, dự trữ xuất hiện của dư. Cùng với sự phát triển của phân
công lao động xã hội, của công cụ lao động chế độ tư hữu dần dần xuất hiện, sự
phân hoá giữa người giàu người nghèo và các tầng lớp, giai cấp, các giai cấp
cũng theo đó phát triển ngày càng rõ rệt. Quan hệ trao đổi, mua bán, vay mượn
cũng từng bước xuất hiện với nhiều hình thức đa dạng phong phú. Tuy nhiên
quan hệ vay mượn thời kỳ đầu chỉ là hình thức sơ khai, phôi thai của tín dụng sau
này.
Khi sản xuất phát triển đến một mức độ nhất định nhu cầu mua bán, trao
đổi, vay mượn tăng lên, xuất hiện tiền tệ (một loại hàng hoá đặc biệt vật trung
gian trong trao đổi mua bán, một loại của cải để tích trữ ), xã hội dần dần xuất
hiện quan hệ tín dụng. Sự tồn tại và phát triển quan hệ tín dụng do các nguyên
nhân chủ yếu sau đây:
- Một là trong quá trình sản xuất kinh doanh do sự vận động của vốn tiền tệ

động. Tính toán cân nhắc, xác định đúng về nhu cầu vốn của mình trong sản xuất
kinh doanh đảm bảo lấy thu bù chi và có lãi. Chính việc đi vay và cho vay thông
qua quan hệ tín dụng các đơn vị tổ chức kinh tế giải quyết được vấn đề nhu cầu
về vốn, sử dụng vốn.
Từ những vấn đề trình bày ở trên có thể đi đến khẳng định rằng sự hình
thành và phát triển của quan hệ tín dụng hoạt động tín dụng trong quá trình phát
6
triển của sản xuất của nền kinh tế là một tất yếu khách quan, là vấn đề có tính
quy luật.
1.2. Bản chất, đặc điểm của tín dụng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta hiện nay.
* Bản chất của tín dụng.
Từ sự phân tích quá trình hình thành, phát triển của tín dụng, qua nghiên
cứu chúng ta có thể thấy rằng tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá, là
hình thức vận động của vốn cho vay. Tín dụng phản ánh quan hệ kinh tế giữa
chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế theo
nguyên tắc hoàn trả có kỳ hạn cả vốn gốc lẫn lợi tức.
Bản chất tín dụng biểu hiện ở quá trình vận động của tín dụng trong nền
kinh tế thị trường thể hiện thông qua các giai đoạn sau:
Ở giai đoạn cho vay: vốn tiền tệ được chuyển từ người cho vay sang người
đi vay. Khi đó giá trị vốn tín dụng được chuyển sang người đi vay.
Ở giai đoạn sử dụng vốn tín dụng trong quá trình sản xuất, người đi vay
được quyền sử dụng giá trị của vốn tín dụng vốn vay được sử dụng trực tiếp để
mua hàng hoá (nếu vay bằng tiền) hoặc được sử dụng trực tiếp (nếu vay bằng
hàng hoá) để thoả mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng của người đi
vay. Song người đi vay không có quyền sở hữu giá trị của vốn vay mà chỉ được
sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định theo thoả thuận giữa người cho
vay và người đi vay.
Ở giai đoạn: hoàn trả tín dụng - kết thúc một vòng tuần hoàn của tín dụng.
Vốn tín dụng sau khi đưa vào sản xuất trở về hình thái tiền tệ - vốn, được người

dụng vốn vay, không quan tâm nhiều đến việc người đi vay sử dụng vốn vay vào
mục đích gì, hoặc có chăng cũng chỉ nhằm thu được nhiều lợi tức, hoặc vì mục
đích của số ít vì lợi ích của giai cấp tư sản
Chính vì tín dụng trong thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa ở nước ta có
bản chất tốt đẹp, tiến bộ, tích cực như vậy cho nên nó tạo điều kiện, cơ sở, thuận
lợi và động lực mạnh mẽ đẩy mạnh, mở rộng hoạt động tín dụng, nâng cao vai
trò, hiệu quả của tín dụng trong quá trình phát triển kinh tế đất nước, nâng cao
đời sống nhân dân.
II. Các hình thức của tín dụng.
8
1. Đặc điểm và các hình thức tín dụng.
Sự cần thiết của tín dụng trong nền kinh tế hàng hoá được quyết định bởi
đặc điểm sản xuất hàng hoá, bởi sự phát triển của chức năng tiền tệ làm phương
tiện thanh toán. Quan hệ tín dụng ra đời bắt nguồn từ đặc điểm chu chuyển vốn
trong các doanh nghiệp mà trong từng thời điểm thường xuyên có một bộ phận
vốn nhàn rỗi cần được sử dụng để sinh lời. Chẳng hạn, vốn dùng để trả lương
nhưng chưa đến kỳ trả, vốn mua nguyên liệu nhưng chưa đến kỳ mua Trong khi
đó, một số doanh nghiệp khác muốn có vốn để thanh toán, để mở mang doanh
nghiệp nhưng chưa tích luỹ kịp. Tương tự như vậy, trong dân cư và trong tổ chức
xã hội cũng có số tiền nhãn rỗi. Rõ ràng cùng trong một thời điểm, nơi thì có vốn
nhưng chưa cần sử dụng, nơi thì cần số vốn nhưng lại chưa có. Quan hệ tín dụng
cần và có thể ra đời từ điều kiện kinh tế đó.
Quan hệ tín dụng tồn tại trong nhiều nền kinh tế hàng hoá. Nhưng tồn tại
trong các phương thức sản xuất xã hội khác nhau thì tín dụng cũng mang những
bản chất khác nhau. Trong nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các ngân
hàng nhà nước khi cho vay tiền đều phải thu lợi tức, có vay có trả nhưng không
chỉ vì mục đích thulợi tức mà còn chủ yếu vì để phát triển mạnh mẽ nền sản xuất
xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước thoả mãn nhu cầu ngày càng
tăng của nhân dân.
Quan hệ tín dụng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,ngoài đặc điểm

hội. Với chức năng này, nó có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế
phát triển, phát triển thêm việc làm, cải thiện mức sống dân cư, ổn định chỉ tiêu
của Chính phủ và góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển hàng hoá và vòng quay
của đồng tiền thúc đẩy qúa trình phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá, gián
tiếp điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua đối nội, kìm chế lạm phát, mặt
khác, nhờ chức năng này, lưu thông tài chính huy động và cho vay mà ngân hàng
có được nguồn thu để bù đắp chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí kinh doanh và có lãi.
Điều này quyết định đến sự phát triển và lớn mạnh không ngừng của chính bản
thân các ngân hàng thương mại.
- Chức năng trung gian thanh toán.
10
Hàng ngày nền kinh tế xuất hiện hàng loạt các quan hệ giao dịch với khối
lượng thanh toán rất lớn. Nếu tài khoản thanh toán đều dùng tiền mặt trực tiếp sẽ
dẫn đến các chi phí thanh toán rất tốn kém như in ấn, vận chuyển, đếm, người
bảo quản tiền
Nhưng với sự ra đời của ngân hàng thương mại với chức năng thanh toán,
thì các khoản giao dịch trên được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng với
hình thức thanh toán thích hợp, thủ tục đơn giản và kinh tế ngày càng hiện đại
như uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, séc, thư tín dụng từ đó làm cho nhu cầu chi trả
tiền mặt ngày càng nhanh, tiết kiệm được nhiều thời gian, chi phí cho xã hội. Với
chức năng này, ngân hàng đã góp phần thực hiện nhanh chóng các khoản thanh
toán, làm nhanh tốc độ luân chuyển vốn, giảm số lượng tiền mặt in lưu thông, tiết
kiệm chi phí lưu thông tiền mặt. Đồng thời chức năng này huy động tối đa nguồn
vốn của cá nhân, doanh nghiệp để dành cho đầu tư và phát triển. Qua đó, các
ngân hàng thương mại giám sát lưu thông luật tài chính, kiểm soát được luồng
lưu thông tiền tệ.
- Ngân hàng thương mại là cỗ máy tạo tiền của nền kinh tế: quá trình tạo
tiền của hệ thống ngân hàng thương mại dựa trên cơ sở tiền gửi xã hội. Ngân
hàng cho vay thông qua cơ chế thanh toán chuyển khoản giữa các ngân hàng. Sức
tạo tiền của ngân hàng thương mại phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tỷ lệ dự trữ

thư Trung ương về khoán sản phẩm trong hợp tác xã nông nghiệp, trong nông
thôn đã xuất hiện mạnh mẽ nhu cầu về tín dụng. Năm 1982, các hợp tác xã tín
dụng được khôi phục lại. Các quỹ tín dụng nhân dân và các hình thức tín dụng hệ
thống ngân hàng, mà đỉnh cao là năm 1988 và đầu 1989. Chẳng bao lâu, hàng loạt
những tổ chức tín dụng đó bị đổ vỡ, mất khả năng thanh toán và chi trả, đã gây
rối loạn về kinh tế - xã hội, nhất là trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng. Hậu quả trên
do nhiều nguyên nhân, song trước hết phải kể đến sự thiếu thế chấp pháp lý hoàn
chỉnh, thiếu hệ thống kiểm tra, thanh toán và hiệu lực để hoạt động tín dụng được
an toàn và nằm trong khuôn khổ của luật pháp thống nhất.
12
Tín dụng tập thể là hình thức tồn tại tất yếu trong nền kinh tế thị trường, có
vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp,
nông thôn khi hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ và khi ngân hàng chưa vươn
tới từng hộ nông thôn. Tuy nhiên, điều đó chỉ trở thành hiện thực khi các tổ chức
tín dụng tập thể có cơ chế kinh doanh phù hợp, tồn tại và phát triênr trên cơ sở
tôn trọng pháp luật trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, có sự giúp đỡ của nhà nước.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ngoài các hình thức tín dụng chủ
yếu trên còn có một số hình thức tín dụng khác như tín dụng tiêu dùng, tín dụng
học đường
III. CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG
1. Chức năng của tín dụng
Là một bộ phận của hệ thống tài chính, quan hệ tín dụng cũng có chức năng
phân phối và giám đốc.
- Chức năng phân phối của tín dụng được thực hiện thông qua phân phối lại
vốn. Phân phối của tín dụng dựa trên cơ sở tự nguyện theo nguyên tắc hoàn trả và
có hiệu quả. Nội dung của chức năng này biểu hiện ở cơ chế "hút" (hay huy
động) các nguồn vốn tiền tệ nhàn rỗi, phân tán trong xã hội để (đẩy) (hay cho
vay) nó vào hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng "thu hồi" vốn cho vay
theo kỳ hạn và "tham dự phân phối" ở các cơ sở đi vay theo số lượng cho vay
với tỷ suất lợi tức đã ghi trong hợp đồng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình kinh tế Mác - Lênin phần 2.
2. Tạp chí nghiên cứu kinh tế
3. Nghị quyết Đại hội Đảng 9 ( phần nói về tài chính - tín dụng - ngân hàng)
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status