NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ KINH TẾ CHÍNH
TRỊ MÁC XÍT TRONG TÁC PHẨM
BẢN ÁN CHẾ ĐỘ THỰC DÂN PHÁP
MỞ ĐẦU
Cách đây gần 100 năm, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã viết tác phẩm
“Bản án chế độ thực dân Pháp”.
Ngay sau khi tác phẩm ra đời đã gây một tiếng vang lớn và gây sự chú ý
của dư luận Pháp và các thuộc địa của pháp, trước hết là trong Đảng Cộng sản
Pháp, trong những người Việt Nam yêu nước ở Pháp và ở Việt Nam.
Từ đó đến nay, tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” được in lại
nhiều lần bằng tiếng Pháp (cả ở Pháp và Việt Nam), dịch ra tiếng Việt và một
số tiếng nước khác, nhằm đáp ứng yêu cầu của đông đảo bạn đọc, không phải
chỉ nhằm cung cấp một tác phẩm có giá trị lịch sử văn học, mà trước hết là vì
ý nghĩa chính trị có tính chất thời sự của nó trong cuộc đấu tranh của các dân
tộc bị áp bức chống chủ nghĩa đế quốc, thực dân trên thế giới.
Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” ra đời ở Pari, sào huyệt của
thực dân Pháp, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nó là một đòn tiến công mãnh
liệt vào chủ nghĩa thực dân Pháp, trực tiếp tuyên chiến với cương lĩnh khai thác
thuộc địa của tập đoàn tư bản lũng đoạn Pháp bắt đầu triển khai. Nó đánh mạnh
vào chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa chủng tộc mà đại biểu là Đảng Xã hội ra sức
bênh vực chủ nghĩa thực dân. Tác phẩm còn góp phần thức tỉnh những người
Pháp dân chủ, tiến bộ có lương tri nhưng chưa hiểu chế độ thực dân Pháp.
Đối với Đảng Cộng sản Pháp, tác phẩm là một đóng góp quý báu vào
quá trình đấu tranh để “Bônsêvích hóa”, tẩy trừ những ảnh hưởng của chủ
nghĩa cơ hội và đặt vấn đề liên minh các dân tộc thuộc địa của Pháp với giai
cấp vô sản Pháp, nhằm tiến hành cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ
2
nghĩa đế quốc. Tác phẩm đã góp phần chỉ ra phương hướng đấu tranh cho các
pháp trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân pháp” có ý nghĩa to lớn cả về lý
luận và thực tiễn.
NỘI DUNG
I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM
1. Hoàn cảnh lịch sử ra đời của tác phẩm
Nhằm mục đích tố cáo, lên án chế độ thực dân, Nguyễn Ái Quốc đã viết
nhiều tác phẩm, như:
Viết trước tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”: Tâm địa thực dân
(1919), Tội ác của chủ nghĩa thực dân (1921), Sự quái đản của công cuộc khai
hóa (1921), Dưới cuộc khai hóa cao cả (1922), Những kẻ đi khai hóa (1922),
Khai hóa giết người (1922), Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp (1922),
Văn minh Pháp và phụ nữ ở các thuộc địa (1925), Chủ nghĩa đế quốc Pháp ở
viễn Đông - Varen và Đông Dương (1925),…
Viết sau tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”: Văn minh Pháp ở
Đông Dương (1927), Sự thống trị của đế quốc Pháp ở Đông Dương (1927),…
Trong các tác phẩm viết về chế độ thực dân, thì “Bản án chế độ thực dân
Pháp” là tác phẩm tương đối hoàn chỉnh của Nguyễn Ái Quốc. Sự hoàn chỉnh
được thể hiện trên những vấn đề sau:
Tác phẩm phân tích sâu sắc và có hệ thống tội ác của thực dân Pháp đối
với các nước thuộc địa
Tác phẩm chỉ ra con đường giải phóng thuộc địa khỏi ách áp bức, bóc
lột của chủ nghĩa thực dân
Tác phẩm đề cập nhiều nội dung về kinh tế - chính trị, được coi như tác
phẩm kế tục và phát triển kinh tế chính trị mác - xít trong chế độ thực dân.
Thời điểm ra đời của tác phẩm:
Do Nguyễn Ái Quốc viết, được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Pháp tại
4
được sự nhất trí cao của Đại hội và ảnh hưởng sâu sắc tới đồng chí Nguyễn Ái
Quốc. Nhiều tổ chức cách mạng quốc tế được thành lập: Quốc tế nông dân, Tổ
chức Công đoàn ở thuộc địa; Hội liên hiệp thuộc địa,…
Tình hình Việt Nam:
Ở Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất, thực dân Pháp tiến hành
cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai. Khác với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ
nhất (từ 1958-1918, nặng về thương mại, chú trọng xuất khẩu hàng hóa hơn là
xuất khẩu tư bản; đầu tư chủ yếu là cho vay nặng lãi; phương thức kinh doanh
phong kiến), cuộc khai thác thuộc địa lần này chú ý xuất khẩu tư bản hơn là xuất
khẩu hàng hóa và tăng cường đầu tư khai thác thuộc địa theo phương thức kinh
doanh tư bản chủ nghĩa (đồn điền, hầm mỏ, nhà máy,…). Tuy nhiên, trong tác
phẩm này chủ yếu đề cập cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất.
Phong trào đấu tranh của nhân dân ta đang dâng lên mạnh mẽ. Kế tiếp
phong trào Cần Vương là khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám
lãnh đạo. Tiếp theo đó là các phong trào Duy Tân do Phan Bội Châu khởi
xướng và phong trào theo con đường tư sản do Phan Chu Trinh, Khởi nghĩa
Yên bái theo con đường tư sản do Lương Văn Can chủ trương, khởi nghĩa của
binh lính ở Thái Nguyên do Nguyễn Thái Học phát động,... Tuy nhiên, các
phong trào và các cuộc khởi nghĩa này đều thất bại và cách mạng Việt Nam
đang đứng trước cuộc khủng hoảng về con đường cứu nước (cách mạng Việt
Nam như đêm tối không tìm thấy đường ra).
Quá trình hoạt động của đồng chí Nguyến Ái Quốc dẫn tới sự ra đời của
tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”:
Khâm phục tinh thần đấu tranh yêu nước của Hoàng Hoa Thám, Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can… nhưng không đồng ý đi theo con đường
của một người nào.
Từ năm 1911 ra đi tìm đường cứu nước, Người đã bôn ba ở nhiều nước
6
7
Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục:
Chương 1- “Thuế máu”, tố cáo thực dân Pháp bắt thanh niên thuộc địa
đi lính làm bia đỡ đạn dưới chiêu bài “bảo vệ công lý” trong chiến tranh thế
giới lần thứ nhất. Tổng cộng có 700.000 người bản xứ đã đặt chân lên đất
Pháp; và trong số ấy, 80.000 người không bao giờ còn trông thấy mặt trời trên
quê hương đất nước mình nữa! Tác giả cho rằng đây là một thứ thuế đối với
thuộc địa - “Thuế máu”.
Chương 2- “Việc đầu độc người bản xứ”, tố cáo thực dân Pháp đã
không từ một thủ đoạn nào, kể cả những thủ đoạn bỉ ổi và tội ác nhất, trong
đặc biệt là đầu độc bằng rượu, cưỡng bức người dân bản xứ phải mua rượu.
Chương 3- “Các quan thống đốc”, giới thiệu “chân dung” một số quan
thống đốc tiêu biểu (người đứng đầu bộ máy cai trị ở các nước thuộc địa) về
tội hối lộ, tham nhũng và tàn bạo đối với người dân thuộc địa.
Chương IV- “Các quan cai trị”, giới thiệu “chân dung” một số quan cai
trị chuyên ăn hối lộ, tham nhũng, đối xử tàn bạo đối với người dân thuộc địa.
Chương V- “Những nhà khai hóa”, tố cáo tội ác, đặc quyền đặc lợi của
những tên thực dân có màu da trắng là quý phái, là thuộc chủng tộc thượng
đẳng. Khi người ta có màu da trắng thì nghiễm nhiên người ta là một nhà khai
hoá. Mà khi người ta đã là một nhà khai hoá thì người ta có thể làm những việc
dã man mà vẫn cứ là người văn minh nhất. Đánh người bản xứ vô cớ, Quịt tiền
công người bản xứ, Bắt người bản xứ lạy chào khi gặp trên đường, Quịt tiền
khi mua hàng của người bản xứ, Coi rẻ mạng người bản xứ, bắn giết vô cớ.
Chương VI- “Tệ tham nhũng trong bộ máy cai trị”, tố cáo tệ tham nhũng
trong bộ máy cai trị thuộc địa của thực dân Pháp: phung phí đồng tiền mà người
dân An Nam khốn khổ đã phải đổ mồ hôi nước mắt mới kiếm được. Các quan
cai trị đều là những ông vua con. Họ muốn xung quanh mình cái gì cũng xa hoa
tráng lệ, và nói rằng, có thế mới nâng cao được uy tín của họ đối với người bản
9
Phụ lục - “Gửi thanh niên An Nam”, kêu gọi thanh niên An Nam đấu
tranh chống chủ nghĩa thực dân, chấn hưng nước nhà.
II. NHỮNG THỦ ĐOẠN BÓC LỘT CỦA CHỦ NGHĨA THỰC
DÂN PHÁP TRONG TÁC PHẨM.
Nội dung này chủ yếu được trình bày ở Chương VII - “Bóc lột người bản
xứ”, (sử dụng phương pháp thống kê, đưa ra số liệu, so sánh (toàn bộ tác phẩm
dài khoảng 100 tr. A4, đưa ra trên 150 số liệu, đó là những con số biết nói).
Khi nghiên cứu những đặc điểm kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản ở
giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I.Lênin đã từng vạch trần sự bóc lột tàn nhẫn
của chủ nghĩa tư bản đói với các dân tộc thuộc địa: “Ai nấy đều biết rằng
người ta đã dùng súng và lưỡi lê để chiếm các thuộc địa. Người ta đối đãi dã
man với dân cư các thuộc địa, người ta đã dùng trăm phương ngàn kế (bằng
cách xuất khẩu tư bản, bằng những tô nhượng,…bằng cách lừa dối khi bán
hàng hóa cho họ, bằng cách bắt họ phải phụ thuộc vào bọn cầm quyền của
dân tộc “thống trị” và v.v…) để bóc lột dân cư thuộc địa”. Nghiên cứu thực
chất cái gọi là “Khai hóa văn minh” của chủ nghĩa thực dân ở các nước thuộc
địa, Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ rõ: “…Tất cả sinh lực của chủ nghĩa tư bản
quốc tế đều lấy ở các xứ thuộc địa. Đó là nơi chủ nghĩa tư bản lấy nguyên liệu
cho các nhà máy của nó, nơi nó đầu tư, tiêu thụ hàng, mộ nhân công rẻ mạt
cho đội quân lao động của nó, và nhất là tuyển những binh lính người bản xứ
cho các đạo quân phản cách mạng của nó”.
Như vậy, rõ ràng chủ nghĩa tư bản đã xây dựng nên sự “phồn vinh” của
nó bằng máu và mô hôi của người dân lao động ở các nước thuộc địa.
Vấn đề đặt ra cho những người cộng sản và các Đảng cách mạng chân
chính ở đầu những năm của thế kỷ XX là phải vạch trần bộ mặt thật của chủ
nghĩa thực dân, để công luận thấy rõ chân tướng của chúng, từ đó có thái độ
đất của mình lánh sang những vùng còn tư do. Khi trở về thì ruộng vườn của
11
họ đã “biến thành đồn điền” mất rồi ”. Đó là cách lối cướp đoạt ruộng đất của
nông dân một cách trắng trợn. Ngoài ra, người nông dân còn bị chiếm đoạt
ruộng đất bởi chế độ cho vay với lãi xuất cắt cổ, và bởi nhiều mánh khóe của
“ các nhà khai hóa” hoặc của giáo hội và nhà chung…
Với những kiểu chiếm đoạt như vậy, “ Người ta cấp cho những người
Âu chỉ có cái bụng phệ và màu da trắng những đồn điền có khi rộng trên
20.000 héc ta”. Và ở Marốc, sau 10 năm “ bảo hộ ” Người ta đã cướp không
397.000 hec ta đất trồng trọt, để rồi với cái đà ấy, người nông dân ở đây cũng
như các thuộc địa khác “sẽ không còn lấy một tấc đất tự do nào để trồng trọt
và sinh sống trên tổ quốc mình mà không chịu cái ách bóc lột và nô dịch của
chủ nghĩa thực dân” . Họ trở thành đối tượng bóc lột chủ yếu của chúng.
Bóc lôt giá trị thặng dư là lối bóc lột điển hình của chủ nghĩa tư bản. Ở
các thuộc đia, bọn chủ đồn điền không chỉ “ được cấp không ruộng đất”
chúng còn được “ nhà nước bảo hộ” cung cấp “một số tù khổ sai làm không
công hoặc dùng uy quyền để mộ nhân công cho chúng với một đồng lương
chết đói”. Trong các đồn điền tư bản cũng như trong các hầm mỏ và các xí
nghiệp, người công nhân thuộc địa phải làm việc trong điều kiện kỹ thuật thấp
kém, với chế độ quản lý kiểu nông nô. Vì vậy, sức lực và nhân phẩm của họ bị
bị bòn rút và bị đối xử rất thậm tệ. Họ bị “xua cả từng làng đến công trường
để làm phu phen tạp dịch, bất chấp cả công việc mùa màng bận rộn; họ phải
sống trong điều kiện không có mảy may vệ sinh; không có tổ chức y tế …
Bệnh hoạn cực nhọc hành hạ đẫ gây nên chết chóc khủng khiếp”.
Những hành động trên không phải là gì khác hình thức phát lưu và gia
nô trá hình được che đậy dưới những câu châm ngôn lý tưởng về “bình đẳng”,
“bác ái”, và “khai hóa văn minh”.
đáng”
Các loại thuế lưu thông hàng hóa, thuế chợ, thuế sông nước, thuế đăng
13
ký trâu bò v.v… đến thuế đánh vào cả những em bé đánh giày hoặc vô nhân
đạo như thuế thân thực dân pháp cũng tìm đủ mọi cách để làm cho nó không
ngừng tăng lên.
Thuế gián thu: Là thứ thuế chủ yếu đánh vào người tiêu dùng đông đảo
tức là người dân thuộc địa. Thuế này bao gồm:
Thuế tiêu dùng (thuế lưu thông hàng hóa). Trong tác phẩm này, đã tố cáo
chế độ thực dân dùng nhiều thủ đoạn đánh thuế lưu thông hàng hóa nhiều lần:
“người ta cấp giấy phép lưu thông cho 150 kilôgam thuốc lá, sau đó lại bố trí
để đánh thuế được nhiều lần cũng món hàng đó mỗi khi nó chuyển sang tay
chủ khác, mỗi khi số 150 kilôgam ấy được phân phối cho ba, bốn khách mua?
Chẳng còn luật lệ nào khác ngoài sự tuỳ tiện của bọn nhà đoan. Bởi vậy,
người An Nam rất sợ bọn nhà đoan, cứ thoáng thấy chúng là họ vứt ngay giữa
đường những thúng muối, thúng cau, hoặc thuốc lá của họ: thà vứt của đi còn
hơn là phải đóng thuế hết khoản này đến khoản khác mãi mãi không thôi. Ở
một số vùng, nhân dân buộc lòng phải nhổ thuốc, chặt cau, để tránh những
phiền nhiễu vì thuế mới”.
Thuế độc quyền (quy định giá cả cao ở một số hàng hóa đặc biệt để thu
được số tiền thuế lớn).
Thuế quan (thuế đánh vào các hàng hóa xuất nhập khẩu).
Đây là những thứ thuế tiền – thuế gián thu của chủ nghĩa tư bản được
tiến hành đồng thời với việc duy trì các thứ thuế thời phong kiến trung cổ.
Không chỉ bắt người dân thuộc địa phải chịu thuế nặng nề, hà khắc, còn phải
chịu nhiều hình phạt khác như:
Hình phạt những người không đóng đủ thuế. Nhiều phụ nữ nghèo khổ
Sau đó, lại dùng những người vô sản ở một thuộc địa này đi đánh những
người vô sản ở một thuộc địa khác. Sau hết, nó dựa vào những người vô sản ở
các thuộc địa để thống trị những người vô sản da trắng”.
15
Như vậy, một hành động đạt hai mục đích: thống trị, bóc lột và phá hoại
sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản. Nguy hiểm cho giai cấp vô sản là ở
chỗ đó và sự thâm độc, tinh vi của chủ nghĩa thực dân cũng là ở chỗ đó.
4. Đầu độc để bóc lột và bóc lột bằng đầu độc
Đây là một thủ đoạn xảo quyệt và thâm độc mà chủ nghĩa thực dân ưa
dùng và được coi là có hiệu quả cao ở các nước thuộc địa.
“ Làm cho dân ngu để dễ trị” – “ trị ” là đàn áp, “ trị ” là bóc lột, đó là
chính sách vô cùng tàn ác của chủ nghĩa thực dân. “ 1500 đại lý” bán lẻ rượu
và thuốc phiện cho 1.000 làng trong khi cũng số làng ấy chỉ có vẻn vẹn 10
trường học. Với hệ thống đại lý dầy đặc ấy, thực dân Pháp đã độc quyền bán
cho 12 triệu người dân thuộc địa, kể cả người già và con trẻ 15 vạn kg thuốc
phiện và 23 đến 24 vạn lít rượu trong một năm. Với số trường học ít ỏi đó thử
hỏi có bao nhiêu trẻ em được đến trường. Người ta rất dễ hình dung ra cái gọi
là “khai hóa văn minh” mà chủ nghĩa thực dân đã thực hiện ở các thuộc địa
như thế nào.
Nếu như dộc quyền kinh doanh những thứ “thuốc độc” này để thu lãi đã
là một tội ác thì việc “mở vòi nước lã pha thêm vào rượu để hàng năm lãi
thêm một món nho nhỏ 432.000 đồng hay 4 triệu phơrăng” thì thật là ti tiện và
bỉ ổi hết chỗ nói.
Một việc làm mà thực dân pháp một lần nữa - phạm thêm hai tội ác.
Chúng đã làm cho tinh thần và nòi giống của người dân thuộc địa suy nhược
và bòn rút, bóp nặn bằng chính việc kinh doanh ngay thứ hàng đã làm họ suy
nhược đó. Tác giả kết luận: “Văn minh tư bản là thế đó”.
Qua tác phẩm cho thấy, đối với các thuộc địa của thực dân Pháp, kinh tế
nông nghiệp là chủ yếu, công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ còn rất què quặt
(do chính sách kìm hãm của thực dân), thì phương thức bóc lột thuộc địa của
chế độ thực dân là duy trì lối bóc lột phong kiến kết hợp với lối cướp bóc của
17
đế quốc là chủ yếu (phi kinh tế).
Với những thủ đoạn bóc lột ấy và với chính sách thống trị hà khắc, chủ
nghĩa thực dân đã “cắm” vào các thuộc địa “một chế độ đáng nguyền rủa”.
Người dân thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng không những bị đè
nặng “ bởi các hình thức bóc lột thời trung cổ” mà còn bằng “ lưỡi lê của nền
văn minh tư bản”, bằng “cây thánh giá của giáo hội sa đọa làm ô danh chúa”.
Đây chính là nguyên nhân thổi bùng ngọn lửa đấu tranh giải phóng ở các
thuộc địa.
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu những thủ đoạn bóc lột của thực dân
Pháp trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân pháp”
Sẽ là không đầy đủ nếu như chỉ dừng lại ở việc điểm xem tác phẩm đã
vạch trần những thủ đoạn bóc lột của chủ nghĩa thực dân đối với các dân tộc
thuộc địa như thế nào. Điều quan trọng hơn là hiểu được ý nghĩa lịch sử và
tác dụng thực tiễn của việc tố cáo đó.
Lê nin đã từng nhấn mạnh: “Những lời tố cáo về chính trị là lời tuyên
chiến với chính phủ, cũng như những lời tố cáo về kinh tế là lời tuyên chiến
với chủ xưởng”. Như vậy, có thể khẳng định nội dung của “Bản án chế độ
thực dân Pháp” trước hết là đòn tiến công trực diện vào kẻ thù ngay tại sào
huyệt của nó. Thông qua việc lột bộ mặt thật của chúng ở các nước thuộc địa,
thông qua việc vạch trần những tội ác của chúng trên mọi phương diện, tác
giả đã thực sự tuyên chiến một cách toàn diện và triệt để.
Dưới ảnh hưởng sâu rộng của tác phẩm, ta có thể khẳng định “Bản án
Kết luận
Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp ra đời đã giáng đòn tiến công
quyết liệt vào chủ nghĩa thực dân, trước hết là đế quốc Pháp, vạch ra con
đường cách mạng và tương lai tươi sáng cho các dân tộc bị áp bức.
Tác phẩm này là một cống hiến quan trọng của Nguyễn ái Quốc đối với
phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới. Nó đã góp phần tích cực vào việc
truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam và các nước thuộc địa khác.
Góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, kinh tế chính trị
mác - xít nói riêng (lột tả tội ác của chủ nghĩa thực dân, bản chất bóc lột, bóc
lột biện pháp phi kinh tế, bóc lột thời trung cổ, nô lệ hiện đại). Tác phẩm có
giá trị như một cuốn lịch sử chính trị những tội ác của chủ nghĩa thực dân
pháp ở thế kỷ thứ XIX, chủ yếu là ở đầu thế kỷ XX.
Những tội ác của chủ nghĩa thực dân pháp được ghi lại theo thời gian
ngày càng tăng thêm chồng chất. Nhưng phương thức hoạt động của chủ
nghĩa thực dân, âm mưu và thủ đoạn của nó là nhất quán không hề thay đổi,
đã được tác giả trình bày trong cuốn sách này. Điều đó có giá trị thời sự sâu
sắc. Bởi vì chỉ cần thay đổi số liệu, địa điểm, tên nhân vật… là hình như tác
giả đang nói về chiến tranh thế giới thứ II, hay đang tố cáo những tội ác của
chủ nghĩa thực dân mới ở các thuộc địa kiểu mới.
20
Chủ nghĩa thực dân cũ tuy đã bị đánh bại, chủ nghĩa thực dân mới đã
xuất hiện, song ở từng lúc, từng nơi chúng vẫn tồn tại xen kẽ nhau. Chủ nghĩa
thực dân mới chẳng qua là sự trá hình của chủ nghĩa thực dân cũ trong điều
kiện lịch sử mới mà thôi. Thậm chí, nó còn tinh vi và xảo quyệt hơn chủ nghĩa
thực dân cũ bội phần. Nếu có những thay đổi (điều chỉnh thích nghi) thì chẳng
Lịch sử kinh tế quốc dân, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1996, chương XI:
7
Kinh tế Việt Nam trong thời kỳ thực dân Pháp thống trị (1858-1945).
Nghiên cứu tác phẩm bản án chế độ thực dân pháp, Viện xuất bản kinh
điển và văn kiện Đảng, NXB thông tin lý luận - 1987
22