c¸ch m¹ng gi¶i phãng d©n téc trong
t¸c phÈm “b¶n ¸n chÕ ®é thùc d©n ph¸p”
Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống yêu nước quật cường
chống giặc ngoại xâm, sẵn sàng xả thân vì độc lập tự do của Tổ quốc. Trong lịch
sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã phải đương đầu với
những kẻ thù xâm lược lớn mạnh hơn ta gấp bội. Từ thực tiễn đấu tranh chống
xâm lược cha ông ta đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm và bài học quý báu. Trí
tuệ đánh giặc, giữ nước là một trong những đỉnh cao của trí tuệ Việt Nam.
Ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh mang theo trí tuệ đó của dân
tộc. Trên hành trình cứu nước, Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng
thời cũng tìm hiểu thêm tư tưởng của một số nhà yêu nước lỗi lạc khác của
châu Á, nâng nó lên một tầm cao mới, phù hợp với thực tiễn của cách mạng
Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc vừa là sự kết
hợp tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại, vừa thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ,
sáng tạo của Người trong việc vận dụng những nguyên lý phổ biến của chủ
nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam và các nước phương Đông, chính
vì vậy tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh giải phóng dân tộc được coi là
bước phát triển mới học thuyết của Lênin về cách mạng thuộc địa ở thời đại
các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh cho độc lập, tự do. Trong quá trình
hoạt động đấu tranh cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu chủ nghĩa Mác Lênin, trước hết là học thuyết của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa.
Đường lối của quốc tế cộng sản đặc biệt là những Luận cương của Lênin về
vấn đề dân tộc và thuộc địa được nhất trí thông qua tại Đại hội lần thứ II của
Quốc tế cộng sản năm 1920, đã mở ra một bước ngoặt vĩ đại trong phong trào
giải phóng nhân dân lao động các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, đồng thời
cũng đánh dấu một cái mốc vô cùng quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách
2
mạng của Người, vì qua đây Người đã tìm thấy đường lối và phương hướng
Vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc trong tác phẩm “Bản án chế độ
thực dân Pháp” được Nguyễn Ái Quốc trình bày ở nhiều chương nhưng tập
trung nhất là chương XII: Nô lệ thức tỉnh.
Từ sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, cuộc
đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc giành độc lập dân tộc của các nước
thuộc địa ở phương Đông liên tiếp nổ ra cùng với phong trào cách mạng vô
sản của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển ở
phương Tây, đã đánh dấu bước phát triển quan trọng của cao trào cách
mạng 1918 - 1923. Phong trào bùng lên còn do chính sách áp bức, bóc lột
và thôn tính các nước thuộc địa ngày càng tăng của chủ nghĩa đế quốc.
Tính từ sau năm 1816, hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân tiếp tục
được mở rộng, riêng 6 cường quốc tư bản là Anh, Pháp, Nga, Đức, Mỹ,
Nhật, diện tích thuộc địa đã tăng từ 40 lên 65 triệu Km 2. Tại châu Phi đến
năm 1920 có 9/10 đất đai và dân số là thuộc địa. Thuộc địa của Pháp từ
năm 1815 đến năm 1899 đã có 3.740.764 dặm vuông (mỗi dặm là 4Km)
với 56.401.860 người, rõ ràng “thuộc địa là những cối đá treo vào cổ chúng
ta” như Lênin đã dẫn ra.
Trước sự phát triển của cách mạng giải phóng dân tộc. Tác phẩm “Bản
án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc đã góp thêm tiếng nói cổ
vũ, vạch đường để phong trào tiếp tục phát triển.
Chương XII: Nô lệ thức tỉnh của tác phẩm đã ca ngợi sự vùng lên của
phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Như cuộc đấu tranh của
nhân dân Đahômây chống lại chính sách khắc nghiệt của chủ nghĩa tư bản
Pháp; nhân dân Xyri lớn tiếng đấu tranh chống chế độ ủy trị, một chế độ do
Hiệp ước Véc-Xây quy định, dùng để che đậy chính sách thực dân của các
nước đế quốc chủ nghĩa, đồng thời đấu tranh đòi công nhận nền độc lập thực
sự và thống nhất đất nước; những quả bom nổ vào đầu thực dân ở Ăngti;
những cuộc bãi công, biểu tình chống chủ nghĩa đế quốc ở Angiêri, Tuynidi...
định cho cách mạng thuộc địa một hướng đi đúng đắn, hướng mà Lênin đã
5
vạch ra trong sơ thảo lần thứ nhất những luận cương của Lênin về vấn đề dân
tộc và thuộc địa.
Việc xác định hướng đi đúng đắn là nhân tố quyết định để giành thắng
lợi cuối cùng của một cuộc cách mạng. Luận cương của Lênin chỉ ra cho cách
mạng thuộc địa muốn giành được thắng lợi triệt để, nhất thiết phải đi theo con
đường của cách mạng Nga - con đường cách mạng vô sản.
Trung thành với tư tưởng của Lênin, Nguyễn Ái Quốc viết “Cách mạng
Nga dạy cho họ đấu tranh, cách mạng Nga giúp đỡ họ về tinh thần và vật chất
như Lênin đã viết trong đề cương của người về vấn đề thuộc địa”.
Luận cương của Lênin còn chỉ rõ rằng chủ nghĩa đế quốc chỉ có thể sụp
đổ khi nào giai cấp vô sản ở từng nước hòa cùng với hàng trăm triệu người bị
áp bức ở thuộc địa và các nước lạc hậu mở trận tuyến tiến công vào dinh lũy
của chúng. Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã quán
triệt tinh thần của Lênin, đồng thời Người cũng chỉ ra rằng với một sức mạnh
của 1.200 triệu dân thuộc địa, với 15 triệu Km 2 đất đai “đáng lẽ phải làm cho
họ có sức mạnh”, song “các dân tộc bị áp bức đó vẫn chưa bao giờ ra sức tìm
tòi thật đến nơi, đến chốn con đường tự giải phóng, cho nên họ chưa hiểu
được giá trị của sự đoàn kết dân tộc và đoàn két quốc tế. Họ chưa có những
mối liên hệ giữa các lục dịa như các dân tộc châu Âu và châu Mỹ. Họ có sẵn
trong bảo thân một sức mạnh vô cùng to lớn mà họ chưa biết”.
Ở đây, Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ nguyên nhân thất bại của cuộc chiến
đấu, đồng thời cũng chỉ ra yếu tố để giành thắng lợi, đó là sự đoàn kết dân tộc
và đoàn kết quốc tế.
Một vấn đề có tính chiến lược mà phong trào cách mạng giải phóng dân
tộc cần phải giải quyết là việc xác định kẻ thù cần phải tiêu diệt. Trong Bản
kách mệnh” như trong Đường kách mệnh của Người. Tuy vậy, trong Bản án
chế độ thực dân Pháp, Người đã viết: “... khắp nơi, giai cấp công nhân cũng
bắt đầu giác ngộ về lực lượng và giá trị của mình”. Rồi Nguyễn Ái Quốc
trích đưa các văn kiện vào tác phẩm của mình như Tuyên ngôn của Quốc tế
cộng sản kêu gọi anh em vô sản và nông dân các nước thuộc địa hãy vùng
lên chống chủ nghĩa đế quốc thực dân, bản kết luận của Quốc tế nông dân
giỏi nông dân lao động các thuộc địa, biên bản của Quốc tế công hội đỏ kỳ
7
họp thứ 3 và cuối cùng là Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa, xét cho
cùng đều là những vấn đề tư tưởng và tổ chức lực lượng cách mạng ở các
nước thuộc địa. Việc xác định lực lượng cách mạng và lực lượng lãnh đạo
cách mạng là quá sáng tỏ và vươn lên trên các nhà cách mạng đương thời
của Việt Nam cũng như một số các nhà cách mạng nổi tiếng đương thời ở
một số nước khác.
Muốn giành được thắng lợi, cách mạng giải phóng dân tộc phải có sự
chủ động - sáng tạo - linh hoạt trong khi tiếng hành, không thể ỷ lại, trông chờ
thắng lợi của cách mạng ở “chính quốc”. Vấn đề này đã được Nguyễn Ái
Quốc phản ánh rõ trong Bản án chế độ thực dân Pháp. Người viết: “Vận
dụng công thức của Các Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc
giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh
em”. Ở đây, giữa sự “giải phóng” và sự “nỗ lực của bản thân” phải gắn bó
thành một thể thống nhất, tác động vào nhau và thúc đẩy nhau phát triển. Đây
là một trong những luận điểm mà Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng một cách
sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh các nước thuộc địa. Nó khích
lệ lòng tự tin dân tộc và khắc phục được những tư tưởng bi quan luận điểm
này rất quan trọng và được Người phát triển một bước mới sau này trong tác
phẩm Đường kách mệnh rằng: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải
công quyết liệt vào chủ nghĩa đế quốc mà trước hết là đế quốc Pháp. Bước
đầu vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng đúng đắn và những chiến lược,
sách lược cho nhân dân Việt Nam và các dân tộc thuộc địa khác. Tác phẩm
là cống hiến quan trọng của Người đối với phong trào giải phóng dân tộc
trên thế giới. Nó đã góp phần tích cực vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam và các nước thuộc địa khác. Nó có giá trị to lớn về
nhiều mặt: chính trị và lý luận, mỹ học và kinh tế - chính trị học, văn học
và xã hội...
Thời gian qua đi, nhưng sức sống bất diệt của những tư tưởng cách
mạng và tính chất thời sự của tác phẩm vẫn như nguyên vẹn, tỏa sáng. Thắng
lợi của cách mạng Việt Nam hơn 70 năm qua cùng với thắng lợi của nhiều
dân tộc vốn là thuộc địa đã giành được độc lập và sự tan rã của chủ nghĩa thực
dân cũ cũng như chủ nghĩa thực dân mới càng tôn thêm giá trị bất hủ của tác
9
phẩm, của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc tiêu biểu cho các dân tộc chống
chủ nghĩa thực dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên tìm ra con đường
cứu nước đúng đắn: con đường cách mạng vô sản, con đường dộc lập dân
chủ gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường duy nhất nhằm đạt tới
mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người một
cách triệt để. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đấu tranh giành
được dộc lập dân tộc, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Hiện nay, chúng ta đang tiến hành đổi mới toàn diện đất nước vì mục
tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, là
tiếp tục con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ đã lựa chọn. Trước những
biến đổi phức tạp của tình hình thế giới, những chống phá quyết liệt của
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch hòng phủ nhận và làm chệch
hướng chủ nghĩa xã hội, cùng với những tác động tiêu cực bởi mặt trái của
phục vụ nhân dân, nâng cao đạo đức cách mạng, làm cho chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam
cho mỗi hành động của chúng ta.