TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TPHCM
KHOA KẾ TOÁN KIỂM TOÁN
----------
BÀI KIỂM TRA GIỮA MÔN
ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG CỦA
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN: Th.S LÊ XUÂN MINH
SVTH
: VƯƠNG HỒNG NHUNG
MSSV
: 030527111137
LỚP
: ĐH27KT03
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 03/2012
Đề bài: Giới thiệu tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”.
1.
Hoàn cảnh lịch sử:
1.1.
Quốc tế:
“Bản án chế độ thực dân Pháp” là một tác phẩm lớn ra đời giữa lúc làn sóng cách mạng
đang dâng lên mạnh mẽ ở khắp các thuộc địa của thực dân Pháp, phong trào yêu nước ở Việt
trên một tờ báo của Quốc tế Cộng sản có tên Imprékor.
Tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” chỉ rõ âm mưu thủ đoạn của bọn đế quốc: Chính
quyền thực dân đã biến người dân nghèo khổ ở các xứ thuộc địa thành vật hi sinh để phục vụ cho
lợi ích của mình trong các cuộc chiến tranh tàn khốc. Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần sự thật ấy
bằng những tư liệu phong phú, xác thực, bằng ngòi bút trào phúng khá sắc sảo.
3.
Kết cấu tác phẩm:
Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục:
•
Chương 1: Thuế máu
•
Chương 2: Việc đầu độc người bản xứ
•
Chương 3: Các quan thống đốc
•
Chương 4: Các quan cai trị
•
Chương 5: Những nhà khai hoá
Phụ lục: Gửi thanh niên Việt Nam
4.
Nội dung tác phẩm:
4.1. Tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân:
Nguyễn Ái Quốc đã nêu ra tình cảnh thống khổ của nhân dân lao động dưới ách thống trị của
chủ nghĩa thực dân nhiều nơi trên thế giới.
4.1.1. Về kinh tế:
Tác giả tố cáo tội ác của thực dân Pháp về mặt kinh tế trên các mặt sau:
- Chính sách thuế khoá: Thực dân Pháp thực hiện chính sách thu thuế với các loại thuế vô lí
và nặng nề, ngày càng tăng lên “Từ năm 1890 đến năm 1896 thuế trực thu tăng gấp đôi; từ năm
1896 đến năm 1898 lại tăng lên gấp rưỡi. Làng nào cũng bị tăng thuế cũng cắn răng mà chịu”.
(trang 75).
- Cho vay nặng lãi
- Vơ vét tài nguyên, chiếm đoạt tài sản. (chương 12)
- Phu dịch
- Tăng giá sinh hoạt, cấm người bản xứ buôn bán “Người ta cấm người bản xứ mua sắm và
sử dụng vũ khí để chống thú dữ thường phá sạch trơn hàng loạt làng xóm. Giáo dục, vệ sinh đều
thiếu”. (trang 123).
- Thu lợi nhuận từ rượu và thuốc phiện. ”Lúc ấy, cứ 1000 làng thì có đến 1.500 đại lí bán
rượu lẻ và thuốc phiện. Nhưng cũng trong số 1.000 làng ấy mới có 10 trường học. Trước khi có
bức thư quý hoá trên, hàng năm người ta cũng đã tọng từ 23 đến 24 triệu lít rượu cho 12 triệu
người bản xứ, kể cả đàn bà và trẻ con”(trang 32). Hay như bọn thực dân còn pha nước lã vào
rượu để bán kiếm lời” Tính trên toàn cõi Đông Dương mỗi ngày cứ bán 500 héc-tô-lít rượu thì có
4.000 lít nước lã pha thêm vào; 4.000 lít mỗi lít giá ba hào, thành 1.200 đồng một ngày, 36.000
đồng một tháng. Như thế chỉ cần mở vòi nước lã không thôi, mỗi năm công ty cũng thu được
mốn lãi nho nhỏ 432.000 đồng hay 4 triệu phơ-răng”. (trang 36).
Thứ tư, bên cạnh lực lượng đông đảo chính quốc, chúng còn dùng hình thức người Việt trị
người Việt: “dùng hệ thống cảnh binh người Việt làm tay sai mà theo các nhà khai hóa “cảnh
binh rất được long người dân bản xứ””. (trang 64).
Thứ năm, để bảo vệ cho quyền lợi của mình, bọn thực dân dựa vào luật pháp, chúng còn dựa
vào tôn giáo để phục vụ mục đích chính trị. Tác giả viết: “Các nhà truyền giáo đã tiết lộ những bí
mật mà con chiên đã nói ra khi xưng tội và nộp những người Việt Nam yêu nước cho bọn chiến
thắng đem lên máy chém”. ( trang 106)
Hay như “những người giáo hội, thực dân Pháp lợi dụng làng hiếu khách của người Việt
Nam để đánh cắp những bí mật quân sự, vẽ những bản đồ nộp cho quân viễn chinh”. (trang109)
và “những nhà giáo hội còn ở địa phương làm thuông ngôn và chỉ điểm cho chúng”.
Thứ sáu, khi ở chính quốc giai cấp công nhân phát triển, bọn thực dân đã di chuyển nền
thống trị sang các nước thuộc địa. Điều này nói lên bản chất “con dỉa hai vòi” của chủ nghĩa đế
quốc là vừa bốc lột nhân dân lao động chính quốc vừa bốc lột nhân dân lao động thuộc địa.
Thứ bảy, để dễ dàng hơn hơn trong việc thống trị, bốc lột chúng dùng chính sách chia đệ trị,
gây mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân An Nam. Tác giả phân tích: “chính vì thế mà nước Việt
nam, một nước có chung một dân tộc, chung một dòng máu, chung một phong tục, chung một
lịch sử, chung một truyền thống, chung một tiếng nói, đã bị chia năm, xẻ bảy. Lợi dụng một cách
xảo trá sự chia cắt ấy người ta hy vọng làm ngược được tình đoàn kết, nghĩa đồng bào trong tim
anh em ruột thịt với nhau, người ta lại ghép một cách giả tạo các thành phần ấy lại lập nên một
liên bang gọi là liên bang Đông Dương”. (trang 124)
Đây là một thủ đoạn thâm độc trong phương pháp cai trị của pháp. Chúng cũng áp dụng
chính sách chia đệ trị ở các thuộc địa khác. Ngoài ra, chúng không cho tự do báo chí, không cho
báo chí nói về cuộc bầu cử, không cho thanh niện đi du học vì sợ nhiễm chủ nghĩa cộng sản.
Như vậy trong lĩnh vực chính trị chúng cũng không kém phần thâm độc, tàn ác, phục vụ đắc
lực cho mục đích kinh tế.
4.1.3. Về văn hóa:
Để thống trị, chiếm đoạt hoàn toàn một đất nước ngoài việc nô dịch về kinh tế, về chính trị
thì vấn đề nô dịch về văn hóa xã hội cũng rất được quan tâm và coi trọng. Để thực hiện điều này,
- Lời nói:
“Mà An-nam-mit và An-gie-rieng đâu phải là người! Đó là bọn “nhà quê” hèn hạ, bầy “bicốt” bẩn thiểu. Cần quái gì phải có công lý đối với những giống ấy” (trang 93)
“Pháp luật, công lý đối với người bản xứ ư? Thôi đi! Chỉ có ba-toong, súng ngắn, súng dài,
đấy mới là thứ xứng đáng với lũ dòi bọ ấy” (trang 93)
“Một người Âu mắng một phụ nữ An Nam là con đĩ, con bú dù là một việc thông thường.”
(trang 112)
- Hành động: hành hạ, đánh đập, cưỡng bức, thóa mạ, dâm bạo
Víchto Mêrích đã kể lại … cho đến chết.” (trang 113)
Một người ở thuộc địa kể lại rằng: …vàng óng như da lợn quay.” (trang 117)
Thói dâm bạo vô độ của bọn xâm lược thật không có giới hạn nào cả. Cái tinh vi của một nền
văn minh khát máu cho phép chúng tưởng tượng được đến đâu thì chúng cứ thực hiện tính tàn ác
lạnh lùng của chúng đến đó.
+ Chính sách ngu dân gồm những vấn đề sau:
- Về báo chí:
- Theo sắc lệnh năm 1898, báo chí bản xứ phải chịu kiểm duyệt trước khi in.
“Sắc lệnh đó viết: … bị trừng trị". (trang 102)
Như vậy báo chí chỉ được phép xuất bản với những nội dung đúng với ý định của người kiểm
duyệt là phải ca ngợi chính quyền “bảo hộ”, không bao giờ được đền cập tới các vụ “nhơ nhớp”,
“lạm quyền” hoặc nếu đề cập tới thì cũng phải biến đổi với tinh thần ca ngợi chứ nó không được
thực hiện đúng vai trò của mình là nói lên hiện thực cuộc sống thống khổ của nhân dân lức bấy
giờ.
- Báo chí không được đăng các bài có liên quan đến vấn đề bầu cử.
“Trong một cuộc bầu cử … ở Nam Kỳ.” (trang 102)
“Cũng trong lúc ấy … bài ấy đã bị cắt.” (trang 103)
- Bàn tay kiểm duyệt của chúng không trừ bất kỳ tờ báo nào. Không chỉ báo chí tiếng Việt
mới bị kiểm soát ngặt nghèo như vậy mà kể cả các tờ báo ở nơi khác thậm chí báo tiếng Pháp
nếu không chịu ca tụng đức độ các “Cụ lớn” thì cũng bị chúng kiểm duyệt gắt gao.
“Sở bưu điện … gửi về.” (trang 103)
“Chính phủ Đông Dương … ra khỏi Marốc. (Người ta chỉ cho nhà báo một giờ để thu xếp
“Bàn tay bỉ ổi … thuộc địa. (trang 103)
“Một người Mangát … ở xứ sở anh.(trang 103)
“Mặt khác, nhà cầm quyền … ở các thuộc địa. (trang 105)
Quyền thông tin cá nhân bị vi phạm trầm trọng.
Việc quan tâm đến vấn đề học hành, đến quyền bầu cử, đến tự do ngôn luận, tự do báo chí,
liên lạc thư tín của nhân dân bản xứ làm cho chúng thấy lo sợ. Chúng tìm mọi cách để dân ta
không tiếp cận được nền văn minh, không được quan tâm đến vấn đề chính trị, không được nói
lên suy nghĩ của mình, không được liên lạc trao đổi thông tin với nhau cũng như với báo chí…
nhằm che mắt dư luận Pháp; áp đặt vào đầu óc, vào nhận thức của chúng ta rằng dưới sự bảo hộ
của “nước mẹ” chúng ta không cần quan tâm đến những vấn đề đó. Tóm lại là làm cho nhân dân
ta cũng như nhân dân các thuộc địa khác không hiểu biết, “làm cho dân ngu dễ trị”, dễ bóc lột.
Khi nói lên nỗi căm phẫn của mình trước những bất công , sự dã man, tàn bạo hiện diện trong
cuộc sống đè nặng lên vai những người bản xứ thông qua đó Nguyễn Ái Quốc bày tỏ sự xót
thương, đau đớn trước tình cảnh khốn khổ của những con người vô tội, yếu thế, nghèo khổ
không đủ khả năng chống chọi lại cường quyền, bạo lực. Bằng giọng điệu hết sức chua cay, thâm
thúy. Nguyễn Ái Quốc đã hết sức khéo léo lồng ghép việc tố cáo tội ác thực dân Pháp với nhân
dân quốc tế và kêu gọi sự đoàn kết, liên minh của các dân tộc bị áp bức cũng như kêu gọi sự
quan tâm, lên tiếng vì quyền con người, vì sự giải phóng con người của các dân tộc trên thế giới.
4.2. Nguyễn Ái Quốc khẳng định:
Chính những chính sách cai trị thâm độc đó đã thức tỉnh tinh thần đấu tranh của nhân dân nô
lệ. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc kêu gọi sự đoàn kết của nhân dân các thuộc địa, đặc biệt là nhân dân
Đông Dương.
Chính những chính sách bóc lột hết sức tàn bạo của thực dân Pháp trên tất cả các lĩnh vực
kinh tế chính trị, văn hóa. Đã làm cho nhân dân ta phải chịu kiếp sống nô lệ, kinh tế kiệt quệ, đất
nước bị chia năm xẻ bảy, nền văn hóa bị nô dịch. Những điều đó đã đẩy mâu thuẫn giữa dân tộc
Việt Nam với thực dân Pháp trở nên gay gắt. Trước tình hình đó, tác phẩm Bản án chế độ thực
dân Pháp đã vạch trần tội ác của thực dân Pháp, cũng thông qua đó mà Người muốn thức tỉnh
tinh thần đấu tranh của nhân dân thuộc địa, đặc biệt là nhân dân Đông Dương.
tạo(124-125). Đông Dương còn đáng tự hào là có những điều kiện vật chất mà một dân tộc mong
muốn như hải cảng, hầm mỏ, đồng ruộng mênh mông, rừng núi bao la, người lao động cần cù và
khéo léo... nhưng vẫn như bị “những con diều hâu rỉa rói mãi không thấy no”. Vì lý do cơ bản là
chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức. Ở đây tác giả muốn nói cần biết phát huy sức
mạnh dân tộc để giải phóng khỏi ách thực dân và Việt Nam đủ điều kiện để xây dựng đất nước
phồn vinh(144-145).
Đề cập đến đất nước và con người Đông Dương, Người chú ý đến các cuộc đấu tranh của
nhân dân. Các cuộc biểu tình đổ máu ở Căm-pu-chia, bạo động ở Sài Gòn; các nhân vật tiêu
biểu: Đội Văn, Tống Duy Tân, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Trần Quý Cáp(59-60); các
vụ nổi dậy ở Hải Dương, chống thuế ở Trung Kỳ,(29) bãi công của thủy thủ Hải Phòng phản đối
việc đưa lính sang đàn áp nhân dân Xy-ri đều được tác giả nhắc đến với ý thức trân trọng và lên
án kẻ thù gay gắt. Đặc biệt cuộc bãi công của 600 thợ nhuộm ở chợ Lớn được đánh giá cao và
coi là “dấu hiệu của thời đại” cần ghi nhận.
Cuộc Cách Mạng tháng Mười Nga- năm 1917 đã cho ra đời một kiểu nhà nước mới, một hệ
tư tưởng mới, hệ tư tưởng của giai cấp vô sản đối lập hoàn toàn với hệ tư tưởng của giai cấp tư
sản đã thống trị lúc bấy giờ. Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc cũng đã đề
cập đến cuộc cách mạng tháng Mười và Người đã chỉ ra rằng cuộc cách mạng đó đã chứng minh
tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác. Cách Mạng tháng Mười Nga đã hiểu được bản chất của CNTB
là: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một
cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở thuộc địa. Nếu muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng
thời cắt cả hai vòi. Nếu người ta chỉ cắt một vòi thôi, thì cái vòi còn lại kia vẫn tiếp tục hút máu
của giai cấp vô sản, con vật vẫn tiếp tục sống và cái vòi bị cắt đứt lại sẽ mọc ra”(129). Cuộc cách
mạng đó đã dùng phương pháp bạo lực cách mạng để dành chính quyền và phương pháp đó là
hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với các dân tộc, nhất là các dân tộc thuộc địa, trong đó có Đông
Dương.
Như vậy, Cách mạng Tháng Mười Nga được giới thiệu như một hình mẫu sáng ngời để các
dân tộc noi theo. Tác giả cho rằng cách mạng Nga “không dừng lại ở việc đọc những bài diễn
văn lý tưởng đẹp đẽ và thông qua những kiến nghị nhân đạo để ủng hộ các dân tộc bị áp bức, mà
- Giữa những năm màn đêm còn bao phủ khắp các thuộc địa, bọn thực dân Pháp cùng bè lũ
cơ hội-mà đại biểu của nó là Quốc tế thứ 2-đang ra sức tuyên truyền những luận điệu thực dân
phản động, bênh vực chủ nghĩa đế quốc, thì “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã giáng vào đầu
bọn chúng một đòn tấn công ác liệt, luận tội bọn chúng, và đứng hẳn vào hàng ngũ những người
vô sản tiên tiến bênh vực cho quần chúng lao khổ và các dân tộc bị áp bức. Đó là một phương
thức cơ bản trong sách lược tấn công cảu cách mạng lúc ấy và tác phẩm trở thành tiếng nói tiêu
biểu cho cái thế tấn công của thời đại.
- Đi xa hơn, ở tầm nhìn cao hơn nữa, “Bản án chế độ thực dân Pháp” còn vạch rõ kẻ thù của
nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức. Đó là chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc. Hình thù
của nó là con đỉa hai vòi, một vòi hút máu của giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở chính
quốc, một vòi hút máu của giai cấp và sản và nhân dân lao động ở các nước thuộc địa.Chính nó
là cội nguồn của mọi thảm họa, mọi khổ đau của nhân dân thuộc địa. Tác phẩm cũng đã vạch ra
mâu thuẫn không thể điều hòa được giữa bọn thực dân, kẻ bóc lột với giai cấp vô sản và nhân
dân bị áp bức. Và với tầm nhìn xa trông rộng ấy, tác phẩm cũng chỉ rõ rằng chính quần chúng
nhân dân là lực lượng cách mạng tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, và những người
vô sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng.
- Từ trong đêm tối cảu cuộc đời lầm than đau khổ, tác phẩm đã mở ra cho quần chúng thấy
cảnh tương lai tươi sáng. Tương lai đó là cảnh hiện thực trên đất nước Nga xô viết sau cách
mạng tháng Mười. Tác phẩm khẳng định cho quần chúng một lòng tin son sắt vào cái tương lai
ấy, và chỉ rõ rằng, tương lai ấy đang được chuẩn bị ở trường đại học Phương Đông, ngay trên
nước Nga xô viết. Trừơng này đang ấp ủ dưới mái của mình tất cả tương lai của các dân tộc
thuộc địa.
- Tác phẩm cũng đã vạch ra đường lối chiến lược và sách lược cho quần chúng đấu tranh
quật ngã kẻ thù. Tác phẩm khẳng định, đã là người mất nước thì ai ai cũng bị sống kiếp
nô lệ, dù là người Việt Nam , An-giê-ri, Đô-ha-mây, Xy-ri, Tây Phi,… hay Xê-nê-gan. Tất cả
những người vô sản và nhân dân lao động kể cả ở nước Pháp, đều có chung một mối thù không
đội trời chung với chủ nghĩa đế quốc quốc tế. Vì vậy, tất cả hãy thực hiện theo lời hiệu triệu của
Các-mác: “Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”. Hãy đi theo con đường của Cách mạng tháng
mạng cho nhân dân ta và các dân tộc bị áp bức. Đồng thời tác phẩm cũng đã gợi ra phương
hướng vận dụng những chân lý phổ biến vào điều kiện cụ thể của mỗi nước.
- Như vậy trên bình diện chính trị, “Bản án chế độ thực dân Pháp” là sự chuẩn bị về tư tưởng
nhân thức cho các dân tộc bị áp bức đi vào cuộc đấu tranh dành độc lập tự do, dành quyền thống
trị xã hội về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đó là một vấn đề có ý nghĩa chiến
lược quan trọng của cách mạng.
- Ra đời trong bối cảnh lịch sử cụ thể của thế giới và của đất nước vào những năm hai mươi
của thế kỷ XX, “Bản án chế độ thực dân Pháp” cso một giá trị lịch sử to lớn. Nó lý giải một cách
khoa học theo quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin những vẫn đề cơ bản mà lịch sử loài người đang
đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết. Nó đề cập những vấn đề có quan hệ đến vận mệnh lịch sử của
thé giới, đến con đường phát triển tất yếu của lịch sử loài người trong thời đại ngày nay.
- Riêng ở Việt Nam, cùng với việc chuẩn bị một đội ngũ tiên phong lãnh đạo cách mạng để
giải đáp những đòi hỏi của lịch sử, “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã góp phần quan trọng thúc
đẩy lịch sử Việt Nam tiến tới, thức tỉnh và thôi thúc dân tộc ta cùng hòa nhịp với các dân tộc bị
áp bức trên thế giới bước nhanh vào kỷ nguyên mới cảu loài người: kỷ nguyên của độc lập, tự do
và chủ nghiã xã hội.
6. Giá trị tác phẩm:
“Bản án chế dộ thực đân Pháp” là một tác phẩm lý luận về chủ nghĩa thực dân và khởi thảo
đường lối giải phóng dân tộc. Có thể nói đây là tác phẩm trình bày những bộ phận chi tiết, phanh
phui cặn kẽ bộ mặt thật của chủ nghĩa thực dân. Đồng thời phác hoạ con đường, những nhân tố
thiết yếu tạo sức mạnh của các dân tộc thuộc địa để thoát khỏi nanh vuốt kẻ thù. Phương pháp
đặc biệt của tác phẩm là bằng những sự kiện, những câu chuyện có thật đảm bảo tính khách quan
để minh hoạ từng quan điểm lý luận của mình. Nói cách khác, đó là lý luận thể hiện bằng những
hình ảnh, đường nét sinh động hấp dẫn, giúp người đọc vững niềm tin để đi vào chiều sâu tư
tưởng của tác giả.
Quan trọng hơn nữa là có những quan điểm tư tưởng phát triển sáng tạo lý luận Mác-Lênin
về cách mạng giải phóng dân tộc. Điều đó diễn ra vào thời điểm lý luận Mác-Lênin mới bắt đầu
đi vào các thuộc địa và cũng là thời điểm tác giả mới ở mấy năm đầu vừa tiếp thu, vừa nghiên