Luận văn tốt nghiệp
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
--------------------------------------
NGUYỄN THU HIỀN
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐỐI THOẠI
TRONG KỊCH LƯU QUANG VŨ VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ ĐỐI
VỚI VIỆC TẠO RA TÍNH MẠCH LẠC CỦA VĂN BẢN KỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2011
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
9
Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU:
1. Lý do chọn đề tài………………………………………………………. ...5
2. Mục đích, ý nghĩa…………………………………………………………6
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu…………………………………………6
4. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………….6
5. Bố cục của luận văn…………………………………………….………...7
1.3.2.2. Kiểu 2: Mạch lạc trong hành động ngôn ngữ………………..30
1.3.2.3. Kiểu 3: Mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác………………….32
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ đối thoại trong kịch Lưu Quang Vũ…….34
2.1 Các dạng ngôn ngữ đối thoại trong kịch bản Lưu Quang Vũ……..……..34
2.1.1. Đối thoại đơn tuyến (đơn thoại, độc thoại nội tâm)………………..35
2.1.2. Đối thoại song tuyến…………………………………………..…..41
2.1.3. Đối thoại đa tuyến………………………………………………....42
2.2. Đặc điểm cấu trúc đối thoại trong kịch Lưu Quang Vũ…………………46
2.2.1. Các kiểu cấu trúc cầu khiến gián tiếp bằng lời hỏi - cầu khiến trong
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
11
Luận văn tốt nghiệp
tham thoại dẫn nhập của ngôn ngữ đối thoại kịch Lưu Quang Vũ………….47
2.2.1.1. Lời hỏi cầu khiến đồng hướng……………………………….47
2.2.1.2. Lời cầu khiến ngược hướng……………………………….…..51
2.2.1.3. Mô hình 5: Lời hỏi nhằm khuyên không nên hành động….…...55
2.2.2. Cấu trúc tham thoại hồi đáp trong ngôn ngữ đối thoại kịch
Lưu Quang Vũ……………………………………………………….…57
2.2.2.1. Tham thoại hồi đáp là một hành động ngôn trung, được cấu
tạo bởi 1 câu (1 phát ngôn)……………………………………………………57
2.2.2.2. Tham thoại hồi đáp là hai hành động ngôn trung, được cấu tạo
từ 2 câu trở lên (lớn hơn 2 phát ngôn)………………….……………………..62
2.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của các kiểu đối thoại……………………………….65
2.3.1. Vận động tương tác của các lượt lời tạo nên tính chất của đối thoại…65
2.3.1.1. Vận động tương tác của các lượt lời làm nên ngôn ngữ kịch
3.2.2.1.Thời gian hai chiều - sự đan cài giữa quá khứ và hiện tại………122
3.2.2.2. Thời gian 3 chiều: Mối quan hệ giữa quá khứ, hiện tại và tương
lai - một bút pháp của nghệ thuật đồng hiện……….………………………....128
Phần kết luận…………………………………………………………………………135
Tư liệu khảo sát..………………………………………………………….….139
Tài liệu tham khảo luận văn…………………………………………..……..140
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
13
Luận văn tốt nghiệp
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lý thuyết về phong cách nghệ thuật
Trong chương này, căn cứ vào đối tượng và mục tiêu của luận văn, chúng
tôi sẽ sử dụng những cơ sở lý luận về phong cách nghệ thuật, lý luận về hội
thoại, lý luận về tính mạch lạc của văn bản.
1.1.1. Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách nghệ thuật
Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật với những biến thể sử dụng ngôn ngữ
qua các chuỗi câu hay văn bản có chức năng thông báo - thẩm mỹ, tức là vừa
thông tin một nội dung nào đó vừa thoả mãn nhu cầu thưởng thức cái đẹp của
con người bằng chính ngôn ngữ của mình.
Theo tác giả Hữu Đạt "Phong cách nghệ thuật là một phong cách chức
năng được dùng để sáng tạo hình tượng nghệ thuật và tác phẩm nghệ thuật
nhằm phục vụ cho nhu cầu về đời sống tinh thần của con người" [9]
Theo ông ngôn ngữ nghệ thuật có các đặc điểm sau:
1.1.1.1. Chức năng ngôn ngữ
thuật như: hình ảnh, nhạc điệu, tiết tấu ...)
1.1.1.2. Đặc điểm về tính hình tƣợng:
Đặc điểm về tính hình tượng là tiêu chuẩn hàng đầu của ngôn ngữ nghệ
thuật. Vì có đặc điểm này mà phong cách nghệ thuật khác biệt với các phong
cách chức năng còn lại. Các đơn vị ngôn ngữ tham gia với tư cách là các tham tố
tạo nên hình tượng nghệ thuật, từ đó đã làm mờ nhạt đi tính bản thể của tín hiệu
ngôn ngữ để tạo nên một loại nghĩa mới ngoài bản thể ("siêu tín hiệu"). Do đó,
việc hiểu nghĩa văn bản phải bằng con đường lý giải quá trình biểu tượng hóa
các tín hiệu qua các thao tác tư duy trừu tượng.
1.1.1.3. Đặc điểm về tính thẩm mỹ
Để khái quát hóa trong quá trình xây dựng hình tượng, nhà văn phải biết
lựa chọn, gọt giũa các phương tiện từ ngữ khi đưa vào tác phẩm. Nhà văn làm
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
15
Luận văn tốt nghiệp
cho ngôn ngữ của đời sống có màu sắc văn hóa thời đại và mang tính thẩm mỹ
nghệ thuật. Thông qua bút pháp miêu tả với những cách nói tượng trưng, so sánh
đã làm nên tính thẩm mỹ của phong cách nghệ thuật.
1.1.1.4. Đặc điểm về tính sinh động và biểu cảm
Tính sinh động và biểu cảm của ngôn ngữ là một trong các thành tố quan
trọng làm nên chất trữ tình ở văn bản nghệ thuật. Việc tạo ra các kiểu kết hợp từ,
các kiểu kết cấu cú pháp mới lạ nhưng không đi chệch khỏi chuẩn mực, các từ
tình thái, các loại câu than gọi, câu hỏi tu từ .... vừa nối liền cảm xúc giữa tác giả
và người đọc, vừa góp phần giúp cho văn bản nghệ thuật đa giọng điệu.
1.1.1.5. Đặc điểm về tính tổng hợp của ngôn ngữ nghệ thuật
các phong cách chức năng trong tiếng việt theo sơ đồ sau: [ 9, tr.77]
Phong cách ngôn ngữ viết
Tiếng
việt
(Các PC
chức
năng
PC HC
công
vụ
PC
khoa
học
PC khẩu ngữ
tự nhiên
PC
chính
luận
PC
báo
chí
Phong cách
cách khẩu ngữ tự nhiên cho đến phong cách sáng tác kịch bản văn học là một
quá trình chuyển hoá chức năng.
Tác giả Nguyễn Lai trong [ 22, tr.131] đã nhấn mạnh: Ở thể loại kịch,
cũng xuất phát từ đặc trưng cơ bản là đối thoại. Cú pháp trong ngôn ngữ kịch là
một thứ cú pháp tỉnh lược cao độ nhưng hoàn toàn rất dễ chấp nhận và dễ hiểu.
Mỗi nhân vật ở đây vốn đã mang một thông tin riêng về ngôn ngữ trong quá
trình diễn biến logíc của vở kịch. Câu nào nhân vật nói ra cũng nằm trong thế
tỉnh lược ở bề mặt. Nhưng người nghe tiếp nhận đầy đủ những cái cần có ở cấu
trúc sâu.
Với loại hình kịch ít khi xuất hiện người kể chuyện mà chỉ có đối thoại
giữa các nhân vật với nhau. Vì được xây dựng trên các lời thoại nên ngôn ngữ
kịch là ngôn ngữ gần với khẩu ngữ nhất.
Kịch nói lấy văn xuôi làm phương tiện chính để chuyển tải các sự kiện,
xây dựng các xung đột. Toàn vở kịch là một chuỗi các hành động và xung đột
liên tiếp từ lúc "mở nút" đến "phát triển cao trào" và cuối cùng là "giải quyết các
mâu thuẫn". Trong đó ngôn ngữ không những có vai trò quan trọng là trực tiếp
tạo ra xung đột mà còn có tác dụng xâu chuỗi các sự kiện, hành động tạo nên
một tác phẩm.
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
18
Luận văn tốt nghiệp
Ngôn ngữ kịch nói ít có tính cách điệu như ngôn ngữ trong ca kịch mà
giàu tính hành động và tính triết lý. Nó là thứ văn xuôi sử dụng nhiều động từ,
nhiều câu mệnh lệnh thức và nhiều câu cảm thán. Mặt khác nó cũng là thứ
ngôn ngữ chứa đựng nhiều yếu tố khẩu ngữ hiện đại, có khả năng tiếp cận
thoại phân chia theo phạm vi sinh hoạt , hoạt động của xã hội như giao dịch
(mua bán), [5]. Nội dung và hình thức của ngôn bản khác nhau nhiều hay ít là
tuỳ theo các kiểu hội thoại nói trên”.(Dẫn theo [4] ).
Hai nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán khi đề
cập đến hội thoại cũng nhấn mạnh về các dạng cơ bản của hội thoại: “dạng cơ
bản của hội thoại là song thoại(dialogue) tức là dạng diễn ra giữa hai nhân vật
đối đáp. Tuy nhiên hội thoại có thể có dạng tam thoại (trilogue) (ba nhân vật)
và nói chung là đa thoại (polylogue) (nhiều nhân vật)”. (Dẫn theo [4] ).
Quan niệm của tác giả Nguyễn Thiện Giáp "hội thoại là hành động giao
tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người. Đó là giao tiếp hai chiều có sự
tương tác qua lại giữa người nói và người nghe với sự luân phiên lượt lời" .
Tác giả Đỗ Thị Kim Liên [26] đã định nghĩa về hội thoại như sau: "Hội
thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều
nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua
lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định".
Như vậy các quan niệm của các tác giả vừa nêu trên đều có mẫu số chung,
đều thống nhất: Hội thoại là hoạt động giao tiếp thường xuyên, phổ biến của con
người. Con người với nhu cầu trao đổi thông tin, ý tưởng, thông điệp của mình
nhằm đạt được những mục đích nhất định khi tham gia hoạt động giao tiếp.
Ngôn ngữ là yếu tố tiên quyết đánh giá hiệu quả giao tiếp hội thoại.
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
20
Luận văn tốt nghiệp
1.2.2. Các khái niệm: cuộc thoại, đoạn thoại, lƣợt lời và cặp thoại
Mỗi cuộc thoại có những chủ đề và đối tượng tham gia giao tiếp khác
+ tính hành động
+ tính đối thoại
Tính hành động của kịch được bộc lộ ngay khi mỗi lời được nói ra
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
22
Luận văn tốt nghiệp
Tính đối thoại của kịch giữ vai trò quan trọng như thể chất và linh hồn
kịch. Đối thoại kịch bao gồm những lời trao đổi giữa hai hay nhiều nhân vật, kể
cả độc thoại. Nhưng thực chất, độc thoại cũng chính là đối thoại với một nhân
vật vắng mặt hoặc với bản thân mình (phân thân để đối thoại) hay với khán giả
xem kịch.
Đối thoại trong kịch có tác dụng kể chuyện, thông báo các sự kiện, xung
đột, giải quyết các mâu thuẫn xung đột đó. Đối thoại trong kịch như một hồ nước
mênh mông ngầm chứa và hiển hiện những nỗi niềm tâm sự, hạnh phúc và đấu
tranh, ý nghĩa nhân sinh của cuộc sống, quan niệm, tin tưởng của tác giả .... diễn
đạt tính trữ tình, tính bi hùng hay anh hùng ca của tác phẩm kịch.
1.2.3. Các hành vi giao tiếp trong đối thoại
1.2.3.1. Hành vi ngôn ngữ
a. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Austin
J.L.Austin là người đầu tiên đặt nền tảng cho lý thuyết hành vi ngôn ngữ
với công trình "How to do thing with word" (Hành động như thế nào bằng lời
nói).
Theo Austin, khi thực hiện một phát ngôn là ta thực hiện đồng thời ba
mừng, chia buồn, phê phán, ngờ vực, nguyền rủa…Đây là lớp rất rộng, bao gồm
những ứng xử xã hội.
b. Lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Searle
Theo Searle để cho việc thực hiện hành vi ở lời đạt hiệu quả đúng với đích
của nó cần phải có bốn điều kiện:
1) Điều kiện nội dung mệnh đề chỉ ra bản chất nội dung của hành vi. Nội
dung của mệnh đề có thể là mệnh đề đơn giản (xác tín, miêu tả) hay một hàm
mệnh đề (đối với các câu hỏi dạng trả lời có/ không), có thể là một hành động
của người nói (hứa, hẹn) hay một hành động của người nghe (yêu cầu, ra lệnh).
2) Điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về
năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa người nói và
người nghe.
3) Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người
phát ngôn.
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
24
Luận văn tốt nghiệp
4) Điều kiện căn bản là điều kiện liên quan tới trách nhiệm mà người nói
hoặc người nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời được thực hiện.
Bốn điều kiện trên tương ứng với bốn tiêu chí quan trọng nhất trong 12
tiêu chí mà Searle dựa vào để phân loại hành vi ở lời, đó là: Đích ở lời, hướng
khớp ghép lời - hiện thực, trạng thái tâm lí, nội dung mệnh đề. Theo phân loại
của Searle, hành vi ngôn ngữ được phân thành 5 nhóm, gồm:
- Tái hiện (representatives): Đích ở lời là miêu tả lại một sự tình đang
được nói đến, hướng khớp ghép là lời - hiện thực - lời, trạng thái tâm lý là niềm
được giới nghiên cứu xem trọng như kim chỉ nam khi ứng dụng vào lĩnh vực ngữ
dụng học.
1.2.3.2. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và gián tiếp
Một hành vi ngôn ngữ trực tiếp là hành vi được thực hiện đúng với đích ở
lời, nó được hiểu như một sự: "nói thẳng, công khai, không dấu diếm một điều gì
đó".[ 5, tr.8 ]
Tuy nhiên trong thực tế giao tiếp, khi thực hiện một hành vi ngôn ngữ,
không phải lúc nào ý định của người nói cũng trùng với những điều được nói ra,
mà nhằm nói tới một điều khác, nhằm thực hiện một ý đồ khác. Khi đó, chúng ta
có hành vi ngôn ngữ gián tiếp.
Searle quan niệm về hành vi ngôn ngữ gián tiếp như sau: "một hành vi tại
lời được thực hiện gián tiếp thông qua một hành vi tại lời khác sẽ được gọi là
một hành vi gián tiếp". [dẫn theo 7, tr.60 ]
Theo Yule, "khi nào có một quan hệ gián tiếp giữa một cấu trúc và một
chức năng thì ta có một hành động nói gián tiếp".
Tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm về hành vi gián tiếp rõ ràng hơn: "một
hành vi được sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một
hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
26
Luận văn tốt nghiệp
ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một
hành vi khác”.[ 4, tr.146 ]
Ví dụ: 9h tối rồi đấy con ạ!
Phát ngôn trên là một hành vi thông báo, nhưng trong một ngữ cảnh cụ
quyết định một chuỗi câu có phải là một văn bản hay không ?
Bản thân khái niệm “mạch lạc” là rất khó xác định đặc biệt là mạch lạc
trong một số loại văn bản (văn bản nghệ thuật).
Mạch lạc là khái niệm mà hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau. “Mạch
lạc” trong tiếng việt có nguồn gốc từ Đông Y với ý nghĩa là mạch máu trong cơ
thể. Tức là mạch lạc trong văn bản có vai trò làm cho các phần của văn bản được
thống nhất lại.
Dưới đây, chúng tôi xin trích dẫn một số định nghĩa tiêu biểu về mạch lạc:
a). M.A.K Halliday và Ruquaiya Hasan
“Mạch lạc được coi như phần còn lại (sau khi trừ liên kết, thuộc về ngữ
cảnh của tình huống (context of situation) với những dấu nghĩa tiềm ẩn (registers). Mạch lạc được coi là phần bổ sung cần thiết cho liên kết, là một trong
những điều kiện tạo thành chất văn bản (texture)” [dẫn theo 37, tr.44-57].
b). D.Togeby
“Mạch lạc (coherence), hiểu một cách chung nhất, là đặc tính của sự tích
hợp văn bản, tức là cái đặc tính bảo đảm cho các yếu tố khác nhau trong một
văn bản kết hợp được với nhau trong một tổng thể gắn kết” [dẫn theo 2].
c). David Nunan
“Mạch lạc là tầm rộng mà ở đó các lời nói được tiếp nhận là có “mắc vào
nhau” chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan
nhau”. Cách hiểu của Nunan được coi là dung dị và đơn giản nhất.
[dẫn theo 1, tr.58]
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
28
Luận văn tốt nghiệp
d). Galperin
- Mạch lạc tu từ: Là việc “tổ chức văn bản” mà ở đấy đặc điểm tu từ được
lặp lại một cách nhất quán những kết cấu của các nhất thể trên câu và các đoạn”.
- Hình thức mạch lạc tiết điệu: là “sự thống nhất cách gieo vần, liên cú,
vận luật … và chủ yếu là tài sản của thơ ca”
e) Tác giả Nguyễn Thiện Giáp
“Văn bản mạch lạc là văn bản ở đó người giải mã có thể cấu trúc lại sơ
đồ của người nói một cách hợp lý bằng cách suy luận những mối liên hệ riêng
biệt của chúng với những mục đích thứ cấp khác nhau trong sơ đồ giải thích,
khiến cho sự khó hiểu trở nên dễ hiểu. Theo quan điểm này, mạch lạc không phụ
thuộc vào những đặc trưng liên kết lẫn nhau mà phụ thuộc vào quy mô mà người
tạo lập văn bản cố gắng đạt được để cấu trúc một sơ đồ hợp lý trong việc tạo ra
văn bản. Cấu trúc một sơ đồ hợp lý trong việc tạo ra văn bản lại tuỳ thuộc vào
sự xem xét mỗi câu có phải là sự thể hiện của một chân lý, một đóng góp cần
thiết và thích hợp đối với sơ đồ đó hay không” [15, tr.173].
f. Tác giả Diệp Quang Ban
“ Cách nhìn chung nhất hiện nay là những từ ngữ trực tiếp diễn đạt các
quan hệ kết nối giữa các câu- phát ngôn làm thành các tiểu hệ thống (các
phương tiện liên kết thì được xếp vào liên kết, còn những mối quan hệ kết nối
nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu thì thuộc về mạch lạc”
[2, tr.70]
g) Theo Bùi Minh Toán
“ Trước đây, thuật ngữ liên kết được dùng chỉ chung cả phương diện liên
kết nội dung lẫn liên kết hình thức của văn bản. Gần đây, hai phương diện này
được gọi bằng thuật ngữ khác để phản ánh đúng đắn hơn bản chất của các vấn
đề nghiên cứu. Vì thế, phương diện liên kết nội dung nhận được tên gọi mới
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
30
31
Luận văn tốt nghiệp
+ Mạch lạc thể hiện trong tính thống nhất đề tài chủ đề
+ Mạch lạc thể hiện trong tính hợp lí logíc của sự triển khai mệnh đề.
+ Mạch lạc trong trình tự hợp lí logíc giữa các câu (mệnh đề).
b) Mạch lạc trong hành động ngôn ngữ hay còn gọi là mạch lạc diễn ngôn
hoặc mạch lạc trong chức năng (khả năng dung hợp nhau giữa các hành động
ngôn ngữ).
c) Mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác
1.3.2.1. Kiểu 1: Mạch lạc trong triển khai mệnh đề
a. Mạch lạc thể hiện trong tính thống nhất đề tài – chủ đề
Để hình dung được tính thống nhất đề tài - chủ đề, thông thường người ta
dẫn ra những phản chứng loại như chuỗi câu nối tiếp “(a) Cắm bơi một mính
trong đêm. (b) Đêm tối bưng không nhìn rõ mặt đường…”. Cần nhắc lại rằng
tính thống nhất đề tài không phải là điều kiện, không phải là nguyên nhân của
mạch lạc, vì tồn tại những văn bản không có đề tài – chủ đề thống nhất (như bài
đồng dao Đòn gánh có mấu củ ấu có sừng).
Sự vi phạm tính thống nhất đề tài –chủ đề được cụ thể hoá thành sự vi
phạm tính hợp lý của sự triển khai mệnh đề. [1, tr.52].
b. Mạch lạc thể hiện trong tính hợp lý lôgíc của sự triển khai mệnh đề
Ngày Việt Nam đang còn chiến tranh đã một thời lưu hành câu chuyện
cười về cách dùng chữ nghĩa đại ý như sau:
Anh ấy đã từng đi đánh trận nhiều nơi. Anh đã bị hai phát đạn. Một phát ở
đùi. Một phát ở Đèo Khế.
Cốt chuyện không đáng cười, thậm chí còn rất nghiêm túc, nhưng cách
trình bày khiến người ta bật cười. Người kể chuyện đã vi phạm tính lôgíc trong
mối quan hệ nguyên nhân của hai câu là khác nhau: sự kiện nào đứng trước là
nguyên nhân của sự kiện đứng sau.
Một ví dụ khác chứa nhiều sự kiện hơn cũng đã được dẫn ra:
Tôi đã nổ súng
Nguyễn Thu Hiền – K52 Ngôn ngữ
33