BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phan Duy Khôi
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRẦN DẦN
TRONG TIỂU THUYẾT
“NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN”
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
-------------------------
Phan Duy Khôi
KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRẦN DẦN
TRONG TIỂU THUYẾT
“NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN”
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số
: 60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................ 5
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 6
3. Lịch sử vấn đề ................................................................................................................. 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................. 9
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 10
6. Cấu trúc luận văn ......................................................................................................... 10
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .............................................................. 12
1.1. Tiểu thuyết và ngôn ngữ tiểu thuyết ........................................................................ 12
1.1.1. Khái niệm tiểu thuyết ........................................................................................... 12
1.1.2. Ngôn ngữ tiểu thuyết ............................................................................................ 14
1.2. Tác giả Trần Dần và tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn ........................ 16
1.2.1. Tác giả Trần Dần .................................................................................................. 16
1.2.2. Tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn ........................................................ 18
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ NGỮ CỦA TRẦN DẦN TRONG
NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN ............................................................. 21
2.1. Thay đổi hình thức chữ viết của từ .......................................................................... 21
2.2. Dùng lớp từ ngữ biệt ngữ và khẩu ngữ ................................................................... 26
2.2.1. Lớp từ ngữ biệt ngữ .............................................................................................. 26
2.2.2. Lớp từ ngữ khẩu ngữ ............................................................................................ 30
2.3. Dùng ngữ cố định ...................................................................................................... 31
2.3.1. Quán ngữ .............................................................................................................. 32
văn học nói riêng, phong cách nhà văn nói chung. Qua việc nghiên cứu đặc điểm sử
dụng ngôn ngữ của một tác giả, ta có thể nhận ra phong cách, dấu ấn riêng của tác giả
đó trong tiến trình văn học của thời đại. Đồng thời, kết quả nghiên cứu tác phẩm văn
học từ góc độ ngôn ngữ học có thể góp phần vào việc tìm hiểu, giảng dạy tác phẩm
văn học. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp trong một bài viết đã nhận định:
“Không nghiên cứu ngôn ngữ là bỏ qua mặt quan trọng của tác giả với tư cách là
nghệ sĩ của một loại hình nghệ thuật riêng biệt” 1. Chính vì vậy, việc nghiên cứu tác
F
0
phẩm văn học từ góc nhìn ngôn ngữ học càng ngày càng thu hút sự quan tâm của giới
nghiên cứu Việt ngữ học.
Trong xu hướng đó, chúng tôi chọn thực hiện đề tài nghiên cứu ngôn ngữ của
tác giả Trần Dần thể hiện trong tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn. Đây là
một tác giả đặc biệt của văn học hiện đại Việt Nam. Dấu ấn của ông trước hết nằm ở
chủ nghĩa tượng trưng của nhóm thơ Dạ Đài trong giai đoạn kháng chiến chống
Pháp; về sau, ông có những bước thể nghiệm trong lĩnh vực truyện và tiểu thuyết.
Song ở lĩnh vực nào, Trần Dần cũng có những cuộc bứt phá khỏi những đường biên,
giới hạn quen thuộc, để kiếm tìm những chân trời mới, lạ hơn, độc đáo hơn trong cả
nội dung lẫn nghệ thuật. Khi tác phẩm được xuất bản, người đọc nhận thấy văn phong
Trần Dần hết sức mới lạ, nhưng đồng thời đó cũng là một thách thức vô cùng khó
khăn đòi hỏi phải được giải mã thấu đáo.
Về Những ngã tư và những cột đèn của Trần Dần, ngay khi xuất hiện trước
công chúng năm 2011, tác phẩm đã đón nhận sự tán thưởng không chỉ vì một cốt
truyện tiểu thuyết giả trinh thám mới lạ, kĩ thuật tự sự đa chủ thể 2 độc đáo v.v. ở góc
F
1
độ văn học, mà còn ở việc tác giả đã sử dụng tiếng Việt một cách đặc sắc. Có thể nói,
Nguyễn Đăng Điệp (1992), “Đặc sắc hồi kí Nguyên Hồng”, Nguyên Hồng – cát bụi và ánh sáng,NXB Hội Nhà văn.
Trong những năm gần đây, khuynh hướng tìm hiểu, nghiên cứu tác phẩm văn
học từ góc độ ngôn ngữ học ngày càng được chú trọng. Đặc điểm ngôn ngữ của nhiều
tác gia cùng tác phẩm đã được nghiên cứu chi tiết trên các bình diện ngữ âm, ngữ
nghĩa, ngữ pháp và văn bản (diễn ngôn) trong nhiều công trình nghiên cứu về ngôn
ngữ học, đặc biệt là luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ. Những công trình ấy, có thể
được triển khai theo hướng nghiên cứu từng hiện tượng ngôn ngữ đơn lẻ, hoặc nghiên
cứu tổng hợp các bình diện của ngôn ngữ trong tác phẩm, cũng đều có đóng góp vào
việc xác định phong cách của một nhà văn.
6
Về việc nghiên cứu một hiện tượng ngôn ngữ đơn lẻ, có thể kể đến công trình
luận văn của Nguyễn Văn Hương: “Vai trò của hư từ trong việc hình thành hàm ý
trong ngôn ngữ Nguyễn Công Hoan”. Bằng việc miêu tả, phân tích cách sử dụng một
hiện tượng ngôn ngữ cụ thể, đó là hư từ trong tập Ngựa người và người ngựa, nêu lên
một số cơ chế sử dụng hư từ để hình thành hàm ý mà Nguyễn Công Hoan đã thể hiện
trong tác phẩm, tác giả Nguyễn Văn Hương đã xác định rõ vai trò, tác dụng của hư từ
trong việc hình thành hàm ý, góp phần nhận định về phong cách ngôn ngữ của nhà
văn Nguyễn Công Hoan. Đồng thời, qua luận văn, tác giả đã kiểm chứng một giả
thuyết: không thể tập hợp và miêu tả các hư từ cụ thể để vạch ra ranh giới ý nghĩa mà
bản thân các hư từ đó thể hiện, mà hướng chủ yếu nên làm là phải tập hợp những câu,
đoản ngữ có sử dụng các hư từ để khảo sát và vạch ra vai trò, tác dụng của các hư từ
đó.
Cũng nghiên cứu một đơn vị ngôn ngữ trong tác phẩm văn học cụ thể, tác giả
Nguyễn Thị Nguyệt Minh chú ý tìm hiểu lớp từ ghép đẳng lập trong Truyện Kiều với
luận văn thạc sĩ “Đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ pháp của lớp từ ghép đẳng lập trong
Truyện Kiều”. Luận văn đã đi sâu vào việc khảo sát, phân tích, lý giải các đặc điểm
về mặt ngữ nghĩa của lớp từ ghép đẳng lập trong hoạt động của chúng như nghĩa đen,
nghĩa bóng, nghĩa khái quát; các đặc điểm về mặt ngữ pháp của chúng như cấu tạo,
khả năng kết hợp, khả năng làm thành phần nòng cốt trong tổ chức câu.
Trước hết có thể kể đến bài viết của tác giả Nguyễn Thành Thi trong bài viết
“Tiếng nói của cái tôi bị chấn thương và tính khả dụng của yếu tố nhật ký, trinh thám
trong tiểu thuyết” in trong kỷ yếu Những lằn ranh văn học năm 2011, Khoa Ngữ Văn
trường Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh. Tác giả đã đứng trên quan điểm mảng
văn học chấn thương để nghiên cứu một bức tranh sinh động về con người trong
trạng thái chấn thương tinh thần, đối diện với những va đập của thời cuộc. Khía cạnh
ngôn ngữ của tác phẩm đã được người viết quan sát từ góc độ diễn ngôn mang đậm
tính chủ thể và sắc thái hiện chứng/ chấn thương đặc trưng của mảng văn học này,
đồng thời, dựa theo yếu tố thể loại, người viết đã phát hiện ra hình thức trần thuật của
tác phẩm, đó là lối trần thuật song chiếu: dịch chuyển, chồng lấn và hòa phối diễn
ngôn. Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng ở lại ở việc đưa ra một hướng đi phân tích
ngôn ngữ trần thuật, chứ chưa đi sâu, trình bày cụ thể về nó.
Cũng trong kỷ yếu của hội thảo Những lằn ranh văn học năm 2011, tác giả
Phạm Thị Phương có bài viết “Cuộc vượt biên hệ hình nghệ thuật hiện thực xã hội
8
chủ nhĩa của Trần Dần trong những tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn”. Tác
giả đã dành một dung lượng đáng kể của bài nghiên cứu để phân tích nét đặc sắc
trong lĩnh vực ngôn ngữ của Trần Dần, trong sự so sánh với chuẩn mực ngôn ngữ
thuộc hệ hình văn nghệ đương thời, để khẳng định Trần Dần đã thực sự đưa ngôn ngữ
văn xuôi hư cấu vào một cuộc thử nghiệm lạ lùng. Trong đó, tác giả đã phân tích cái
mới lạ trong hình thức trình bày văn bản nhằm đạt được ấn tượng về hình và âm của
ngôn ngữ; phân tích phép tu từ của dấu câu để chuyển tải những khoảng lặng và nhạc
điệu của một tâm trạng ngổn ngang, hoang mang; phân tích một số phép tu từ như
phép lặp cấu trúc câu để tạo những vọng âm xuyên suốt tác phẩm.
Ngoài ra, còn có đề tài luận văn thạc sĩ “Một số cách tân trong thi pháp tiểu
thuyết Những ngã tư và những cột đèn” của thạc sĩ Nguyễn Lê Hoa thực hiện năm
2012 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội. Nội dung chủ yếu là
đưa ra cách nhìn toàn diện hơn về vai trò, vị trí và những đóng góp của Trần Dần
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần nội dụng chính của luận văn “Khảo sát
đặc điểm ngôn ngữ Trần Dần trong tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn” có
cấu trúc như sau:
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trong chương này, chúng tôi kế thừa những quan niệm chung nhất về thể loại
tiểu thuyết và đặc điểm của ngôn ngữ tiểu thuyết đứng từ góc độ ngôn ngữ học. Đồng
thời, chương 1 cũng trình bày một số nét sơ lược về phong cách nhà văn Trần Dần để
tạo nền cho việc nghiên cứu về ngôn ngữ của ông và những kiến thức chung về ngôn
ngữ học làm cơ sở để khảo sát đặc điểm ngôn ngữ của tác giả Trần Dần.
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ NGỮ CỦA TRẦN DẦN TRONG
NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN
Trong chương này, chúng tôi khảo sát ngôn ngữ tiểu thuyết Trần Dần trên bình
diện từ vựng. Luận văn tiến hành thống kê, miêu tả và rút ra nhận xét về những lớp từ
ngữ có hình thức chữ viết và ngữ nghĩa đặc biệt như lớp từ bị thay đổi hình thức chữ
viết, các lớp từ ngữ biệt ngữ và các ngữ cố định trong tác phẩm.
Chương 3. ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CÂU VÀ LIÊN KẾT VĂN BẢN CỦA
TRẦN DẦN TRONG NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN
10
Trong chương này chúng tôi sẽ tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của tác giả trên
bình diện ngữ pháp, ở cấp độ ngữ và cấp độ câu, về hình thức cũng như cấu tạo bên
trong của câu. Sau đó, chúng tôi tiến hành khảo sát và chỉ ra một số đặc điểm trong
việc tổ chức văn bản tiểu thuyết, thể hiện trong các mối liên kết chủ đề và liên kết
logic.
11
12
hóa nó, mà cuộc sống đi vào tiểu thuyết với đầy đủ những yếu tố bề bộn của cuộc
đời, bao gồm cả cái cao cả lẫn tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài, cái
lớn và cái nhỏ.
Đặc điểm thứ ba của tiểu thuyết nằm ở nhân vật, đó là con người nếm trải, tư
duy, chịu khổ đau, dằn vặt, chứ không chỉ đơn giản là con người hành động như trong
các thể loại tự sự khác (nhân vật sử thi, kịch). Tiểu thuyết miêu tả con người trong
hoàn cảnh, không tách nó khỏi hoàn cảnh, nhân vật như một con người đang trưởng
thành, chịu tác động và biến đổi do cuộc đời.
Tiểu thuyết không chỉ đưa ra một hệ thống cốt truyện hay tính cách nhân vật
chung chung, mà nó quan tâm đặc biệt đến sự suy tư của nhân vật về thế giới, về đời
người, về diễn biến tâm lí, tình cảm…, hay nói chung, là về sự tồn tại của con người
trong thế giới.
Cuối cùng, tiểu thuyết xóa bỏ khoảng cách giữa người trần thuật và nội dung
trần thuật, hướng đến miêu tả hiện thực như cái hiện tại đương thời của người trần
thuật. Tiểu thuyết cho phép người trần thuật tiếp xúc, nhìn nhận các nhân vật một
cách gần gũi như những người bình thường, hiểu nhân vật bằng kinh nghiệm của
mình. Nó cho phép người trần thuật có thể có thái độ thân mật, suồng sã với nhân vật.
Tiểu thuyết hấp thu mọi loại lời nói khác nhau của đời sống, san bằng ngăn cách lời
trong văn học và ngoài văn học.
Căn cứ vào nội dung và hình thức nổi bật của tác phẩm, thì tiểu thuyết có thể
phân loại thành tiểu thuyết chương hồi, tiểu thuyết đa thanh, tiểu thuyết hiệp sĩ, tiểu
thuyết sử thi, tiểu thuyết tâm lí, v.v.. Ở đây, chúng tôi muốn nhắc đến đặc trưng của
một thể loại tiểu thuyết đặc biệt, do có liên quan trực tiếp đến tác phẩm Những ngã tư
và những cột đèn, đó là tiểu thuyết trinh thám.
Tiểu thuyết trinh thám ngoài việc có các đặc điểm tiểu thuyết như đã nêu ở
trên, còn có những đặc điểm riêng về nhân vật, cốt truyện. Nhân vật chính luôn là
người đi tìm kiếm sự thật, khám phá cái bí mật còn nằm trong bóng tối. Tiểu thuyết
nói của tác phẩm.
Theo tác giả Cù Đình Tú, đặc điểm nổi bật về mặt chức năng của ngôn ngữ văn
chương là chức năng thẩm mĩ, “thể hiện trước hết ở mối quan hệ gắn bó xương thịt
của nó đối với hình tượng văn học.” [56, tr. 176]. Tác giả Nguyễn Thái Hòa cũng xác
định: “Theo quan điểm của trường phái ngôn ngữ – xã hội học – Xô viết thì ngôn ngữ
nghệ thuật dùng trong các văn bản nghệ thuật có chức năng thẩm mĩ, tức là đáp ứng
nhu cầu thẩm mĩ của con người bằng chính ngôn ngữ.” [31, tr. 152], và “cũng do yêu
14
cầu thẩm mĩ mà ngôn ngữ nghệ thuật mang tính nghệ thuật và trở thành tinh hoa của
ngôn ngữ, tức là ngôn ngữ mang giá trị thẩm mĩ so với các loại ngôn ngữ phi nghệ
thuật khác.” [31, tr. 153]. Ngôn ngữ nghệ thuật phải đảm bảo tính chính xác, hàm súc,
tính đa nghĩa, tính tạo hình, tính biểu cảm, để từ đó, hình thành chức năng trung tâm
của ngôn từ nghệ thuật là xây dựng hình tượng văn học. Do vậy, “về cơ bản ngôn ngữ
văn chương phải là ngôn ngữ tạo hình, ngôn ngữ biểu cảm, một thứ ngôn ngữ có giá
trị biểu trưng vô cùng lớn lao.” [56, tr. 177].
Đặc điểm thứ hai của ngôn ngữ tiểu thuyết, theo tác giả Nguyễn Thái Hòa, là
“Phối hợp giữa đối thoại và độc thoại, tức là phối hợp giữa Mimesis và Diegesis là
đặc trưng của ngôn ngữ tiểu thuyết.” [31, tr. 120]. Đối thoại là một trong các dạng
thức của lời nói trong đó có sự hiện diện của người nói và người nghe và mỗi phát
ngôn đều trực tiếp hướng đến người tiếp chuyện và xoay quanh một chủ đề hạn chế
của cuộc đối thoại. Ngôn ngữ đối thoại thường ngắn gọn, sử dụng những kết cấu cú
pháp đơn giản. Trong khi đó, độc thoại là sự thể hiện lời nói trước hết hướng tới bản
thân mình mà không tính đến phản ứng của người đối thoại. Độc thoại thường được
tổ chức bằng một cấu tạo cú pháp phức tạp hơn và thể hiện nội dung theo chủ đề rộng
hơn so với đối thoại. Với dung lượng lớn của thể loại tiểu thuyết, ngôn ngữ trong tiểu
thuyết có sự phối hợp giữa ngôn ngữ kể và tả, tường thuật và hư cấu, độc thoại và đối
thoại, nó trở thành một phạm trù nghệ thuật khám phá xã hội và thế giới nội tâm con
người.
nhận hình tượng văn học mới lạ cho người đọc.
Một điểm đáng lưu ý, do tiểu thuyết phản ánh cuộc sống, nên ngôn ngữ tiểu
thuyết cũng vận động không ngừng cùng với sự thay đổi của cuộc sống. Tùy thuộc
vào thời đại mà tác phẩm ra đời, ngôn ngữ tiểu thuyết cũng có sự thay đổi đáng kể.
Chẳng hạn ở thời kì văn học trung đại Việt Nam, ngôn ngữ của một số tác phẩm tự sự
mang dấu hiệu tiểu thuyết có đặc điểm chung là tính trang nhã. Điều này, có thể thấy
trong một số tác phẩm tiêu biểu như tiểu thuyết chương hồi Hoàng Lê nhất thống chí
của Ngô gia văn phái, hay Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác. Đến những năm đầu
thế kỉ XX, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam hình thành với những đặc trưng ngôn ngữ
mang tính hiện thực cao độ, gần gũi và gắn liền với đời sống hơn.
1.2. Tác giả Trần Dần và tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn
1.2.1. Tác giả Trần Dần
16
Trần Dần tên thật là Trần Văn Dần (23/08/1926 - 17/01/1997) là một nhà thơ,
nhà văn. Ông bắt đầu sáng tác từ trước 1945, với những bài thơ mang tinh thần thơ
Mới như Hồn xanh dị kì (1944). Sau đó, ông đến với những cách tân, mong muốn
sáng tạo ra một thứ thơ mang tính thời đại, phải mới hơn những thành tựu đã có, vì
theo ông, thơ Mới đã làm xong cuộc cách mạng của nó. Trần Dần đã cùng một số nhà
thơ theo phái tượng trưng như Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Vũ Hoàng Chương cho ra
đời tạp chí Dạ Đài nhằm khai mở một lối thơ khác biệt, với ý thức vượt lên trên quan
niệm sẵn có, đề cao trực giác, vô thức và tiềm thức con người trong sáng tạo và trong
cảm thụ thi ca.
Bên cạnh thơ, Trần Dần còn viết văn xuôi. Các tiểu thuyết của ông cũng đòi hỏi
sự cách tân, vượt ra khỏi khung tiểu thuyết truyền thống của thời đại, đồng thời thể
nghiệm những bút pháp mới.
Khi kháng chiến chống Pháp nổ ra, Trần Dần bước vào con đường cách mạng.
Ông vẫn theo đuổi sự cách tân và tự do trong sáng tác văn học và nhiều tác phẩm đã
chỉ thực sự xuất hiện với đầy đủ tư cách tiểu thuyết hiện đại vào đầu thế kỉ XX, khi
xã hội đứng trước một cuộc biến thiên lớn về văn hóa nghệ thuật trong việc giao lưu,
cọ xát với phương Tây. Trong giai đoạn đầu ấy, tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam bắt
đầu với Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách, Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng
Quản, rồi đến tiểu thuyết lãng mạn của Tự lực văn đoàn; sau đó là tiểu thuyết phê
phán hiện thực mà đại diện tiêu biểu là Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, v.v..
Tiểu thuyết thời kì này chủ yếu miêu tả những xung đột điển hình, mang tính phổ
quát, như mâu thuẫn giai cấp, vấn đề lí tưởng văn nghệ.
Sau đó, tiểu thuyết bước vào guồng chung của văn học kháng chiến giai đoạn
1954-1975, một nền văn học giàu tính sử thi lãng mạn. Bên cạnh những thành tựu của
dòng văn học kháng chiến nói chung, tiểu thuyết kháng chiến nói riêng, giai đoạn văn
học này cũng hình thành những định kiến về dòng văn học chính thống và dòng văn
học ngoài luồng, tức là những gì khác biệt với quy định của văn học thời đại. Tác
phẩm Những ngã tư và những cột đèn ra đời trong giai đoạn như thế.
Đến sau 1975, đúng hơn là từ sau cải cách 1986, cái nhìn mới về văn học được
từng bước thừa nhận rộng rãi. Khi những giá trị điển hình của thời chiến qua đi, con
người tìm về bản chất đời tư rất riêng của mình, đa dạng và phong phú với những trăn
trở, mất mát, dằn vặt... điều mà trước đây họ không nói đến nhiều. Người đọc tìm
thấy hiện thực mới – hiện thực được nhận thức lại dưới những hình thức cách tân
nghệ thuật – trong sáng tác Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Bảo Ninh...; đồng thời, cũng
18
chứng kiến những thể nghiệm nghệ thuật mới của thể loại tiểu thuyết, vượt ra khỏi hệ
hình nghệ thuật truyền thống.
Bản thảo tác phẩm Những ngã tư và những cột đèn được hoàn thành năm 1966.
Nội dung cốt truyện xoay quanh một lát cắt cuộc đời của anh lính ngụy binh từng lái
tàu bò sau ngày bộ đội tiếp quản thủ đô. Anh vô tình bị kéo vào một vụ án gay cấn,
một cuộc đấu trí giữa bọn gián điệp và lực lượng an ninh, và cuối cùng, lực lượng an
ninh sau hết đã giành chiến thắng với những đòn chiến thuật khôn ngoan, tài tình.
trong kỹ thuật viết tiểu thuyết, cụ thể là trên địa hạt sử dụng ngôn ngữ tiểu thuyết.
Phần nghiên cứu ở các chương sau, chúng tôi sẽ khảo sát và cố gắng chứng minh rõ
ràng một số đặc điểm nổi bật về của ngôn ngữ trên bình diện từ vựng ngữ nghĩa, ngữ
pháp và liên kết văn bản trong tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn.
20
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ NGỮ CỦA TRẦN DẦN
TRONG NHỮNG NGÃ TƯ VÀ NHỮNG CỘT ĐÈN
2.1. Thay đổi hình thức chữ viết của từ
Đọc tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn, người đọc nhận thấy tác giả
Trần Dần có một dụng ý rõ ràng trong việc sử dụng hình thức ngôn từ để tạo hiệu quả
nội dung nghệ thuật cho văn bản. Điều đó thể hiện ở việc tác giả sáng tạo ra những
hình thức chữ viết mới cho từ, khiến chúng trở nên lệch chuẩn chính tả tiếng Việt.
Khi dùng khái niệm “chuẩn chính tả tiếng Việt”, chúng tôi muốn đề cập đến
các quy tắc ghép chữ cái để tạo thành từ tiếng Việt, đến hệ thống chữ viết tiếng Việt
đã ổn định và được quy định trong từ điển tiếng Việt, chẳng hạn như từ điển tiếng
Việt của Hoàng Phê (chủ biên). Về đặc điểm của chuẩn chính tả, trước hết, chuẩn
chính tả có tính chất bắt buộc gần như tuyệt đối, người viết tiếng Việt phải tuân theo,
không được tự ý viết khác đi. Thứ nữa, nó có tính chất ổn định, cố hữu, mọi sự thay
đổi dù nhỏ nhất làm thay đổi sự ổn định đó đều tạo nên những phản ứng trong tâm lí
người đọc. Mỗi một sự biến đổi hình thức chữ viết của từ sẽ đem lại những tác động
về mặt ngữ âm và sắc thái ngữ nghĩa của từ.
Sở dĩ sự thay đổi chữ viết có tác động về mặt ngữ âm là vì bản chất của chữ
viết là “một hệ thống kí hiệu đồ họa được sử dụng để cố định hóa ngôn ngữ âm
thanh.” [12, tr. 120]. Theo nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ – Vũ Đức Nghiệu – Hoàng
Trọng Phiến, chữ viết tiếng Việt là kí hiệu ghi âm vị, mỗi kí hiệu biểu thị một âm vị.
Tuy nhiên, trong hệ thống chữ viết tiếng Việt có nhiều trường hợp một âm vị được
thể hiện bằng hai con chữ khác nhau. Ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh đến âm vị /i/,
tr. 109].
“Thái độ anh Thái thẳng thắn, làm tôi iên trí.” [67, tr. 175].
Với hơn 278 lần xuất hiện trong 330 trang của tác phẩm Những ngã tư và
những cột đèn, trung bình một trang viết có 0,84 từ bị biến đổi hình thức chữ viết từ
con chữ y sang con chữ i. Theo chúng tôi, sự thay đổi hình thức chữ viêt y – i này
được sử dụng với mật độ dày đặc như thế nhằm tác động một cách có chủ đích vào sự
tiếp nhận ngôn ngữ của người đọc, đồng thời chuyển tải những nội dung nghĩa mà tự
thân từ không có được khi nằm ở nguyên dạng hợp chuẩn chính tả của nó.
Trường hợp thứ nhất con chữ y bị biến đổi thành i khi nó đóng vai trò là âm
chính của âm tiết, không có phụ âm đầu hay phụ âm cuối. Trường hợp biến đổi này
22
chiếm số lượng lớn nhất, xuất hiện 195 lần trong tác phẩm. Chẳng hạn như: ý nghĩa –
í nghĩa, y như – i như, chú ý – chú í, thoát y vũ – thoát i vũ, y tá – i tá, y hệt – i hệt,
v.v.
“Thế là tôi kiên quyết làm lại một lần nữa, mặc Cốm không đồng í.” [67, tr.
58].
“Sợ họ chê ít, tôi khai thêm tôi thường xuyên đi nhà đèn đỏ, và đi xem thoát i
vũ.” [67, tr. 64]
Trường hợp thứ hai, là trong các từ không có phụ âm đầu, con chữ y thể hiện
âm vị của nguyên âm đôi /i�e/ cũng bị thay đổi hình thức thành con chữ i. Ví dụ: yên
thân – iên thân, người yêu – người iêu, yếu ớt – iếu ớt, yếu đuối – iếu đuối, v.v.
“Mới chưa đầy một ngày, trong bữa tiệc con lợn sữa, tôi nói về những con ruồi
khiêm tốn, là năm thằng tôi, phải tìm chỗ iên ổn, để đớp hít iên ổn, hóa ra sai bét cả.”
[67, tr. 61].
“Tôi biết, ngất cũng là một trò iêu thích khác của Lily, trong nhiều trò iêu thích
khác.” [67, tr. 86].
Có thể thấy hiệu quả thị giác mà con chữ i này mang lại trong các từ bị chuyển
đổi từ y sang i. Con chữ i thực hiện chức năng của một một kí hiệu đặc biệt chứ