BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THÁI
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ THÁI
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT
TRONG TIỂU THUYẾT CHU LAI
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN NGÔN NGỮ
MÃ SỐ: 62 22 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. PHAN MẬU CẢNH
TS. NGUYỄN HOÀI NGUYÊN
NGHỆ AN - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án
chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Thái
i
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC CÁC BẢNG BIỂU THỐNG KÊ v
MỞ ĐẦU 1
Chu Lai
2.2.1. Từ xưng hô là đại từ
2.2.2. Từ xưng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc và các danh từ khác
2.3. Từ xưng hô và các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai
2.3.1. Mối quan hệ giữa xưng hô và kiểu nhân vật
2.3.2. Từ xưng hô của một số kiểu nhân vật trong tác phẩm của Chu Lai
2.4. Vai trò của từ xưng hô trong việc hình thành đặc trưng ngôn ngữ
nhân vật của tiểu thuyết Chu Lai
2.4.1. Từ xưng hô góp phần bộc lộ đặc điểm, tính cách, hoàn cảnh của nhân
vật trong tác phẩm
2.4.2. Vai trò của từ xưng hô trong việc khắc họa đặc điểm ngôn ngữ nhân vật
trong tiểu thuyết Chu Lai
2.5. Tiểu kết
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ NHÂN VẬT TRONG TIỂU
THUYẾT CHU LAI QUA TỪ THÔNG TỤC, QUÁN NGỮ VÀ THÀNH
NGỮ 97
3.1. Từ thông tục
3.1.1. Khái niệm
3.1.2. Từ thông tục trong lời thoại nhân vật
3.1.3. Vai trò của từ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Chu
Lai
3.1.4. Một vài so sánh bước đầu từ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu
thuyết Chu Lai với từ thông tục trong ngôn ngữ nhân vật của một số
nhà văn khác
3.2. Hệ thống quán ngữ trong ngôn ngữ nhân vật của tiểu thuyết Chu
Lai
3.2.1. Vài nét về quán ngữ
iii
3.2.2. Vai trò của quán ngữ qua các lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết của
Chu Lai
giao tiếp nghệ thuật.
Văn học là tấm gương phản ánh đời sống xã hội. Ngôn ngữ trong tác
phẩm văn học, do vậy, thể hiện một cách sinh động hoạt động giao tiếp của con
người trong xã hội thông qua sự sáng tạo của nhà văn. Ở góc độ nghiên cứu,
ngôn ngữ học hiện đại đang chuyển sang một hướng tiếp cận mới là tìm hiểu sự
hành chức của ngôn ngữ trong cuộc sống và cuộc sống trong ngôn ngữ. Vì vậy,
việc khảo sát tìm hiểu ngôn ngữ trong tác phẩm văn học là một cách tiếp cận
phù hợp với xu hướng nghiên cứu mới cả về phương diện lí luận chung (đặc
điểm, vai trò, cơ chế hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp nói chung, giao
tiếp nghệ thuật nói riêng) và phương diện cụ thể (đặc điểm, vai trò, các quy
tắc hoạt động của ngôn ngữ trong tác phẩm văn học).
1.2. Các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, trong đó có thể
loại tiểu thuyết, đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên bản sắc, diện mạo
riêng cho thời kỳ văn học sau chiến tranh. Sự đổi mới về đề tài, cách miêu tả
hiện thực, quan niệm nghệ thuật về con người, đặc biệt là phong cách ngôn từ
thể hiện rất rõ trong các tác phẩm văn học thời kì này. Trong số các nhà văn có
nhiều tác phẩm thành công, tạo ra phong cách, giọng điệu riêng, người đầu tiên
và tiêu biểu nhất phải kể đến là nhà văn Chu Lai. Các tác phẩm của nhà văn đã
phản ánh được nhiều vấn đề nóng bỏng hiện nay về hiện thực xã hội; các nhân
vật trong tác phẩm của Chu Lai được mô tả là người lính vừa mang cốt cách
1
anh hùng trận mạc (thời chiến) vừa mang đặc điểm của con người sống trong
nhiều áp lực, thử thách của quãng đời phía sau chiến trận (thời bình). Ngôn ngữ
trong tiểu thuyết Chu Lai, đặc biệt là ngôn ngữ nhân vật, có nhiều đặc thù đáng
được quan tâm “có những trang hấp dẫn, người đọc đã cầm đến sách là phải
theo đuổi câu chuyện đến cùng ” [34, tr.9]. “Dấu vết thời đại đã ảnh hưởng
và quy định cách nói năng, đối đáp, nhiều lớp từ mới được hình thành, quan
niệm về lời nói cũng được bổ sung những sắc thái biểu cảm mới. Ngôn ngữ
tiểu thuyết gần với ngôn ngữ đời thường, giàu tính khẩu ngữ. Ngôn ngữ trong
các tiểu thuyết biểu hiện sự cá tính hoá mạnh mẽ, tính cách nào, lời lẽ ấy.
1969); hướng nghiên cứu về Ngôn ngữ học xã hội - Socio- Linguistics
(Nikolski, 1920; E.d Sapir, O.Jesperson, 1922 ); hướng nghiên cứu về Ngôn
ngữ học văn bản - Text Linguistics (L.Bloomfield (1926), E.Benveniste
(1960), A.Reformatxky (1967), v.v…
Ở hướng nghiên cứu dụng học, các nhà ngôn ngữ học xác định có 4 vấn
đề: sự chiếu vật và chỉ xuất, nghĩa tường minh và hàm ẩn, các hành động ngôn
ngữ và lý thuyết hội thoại. Trong các vấn đề đó, lí thuyết hội thoại (bàn về lĩnh
vực giao tiếp đối thoại) được xem là vấn đề trọng tâm. Theo M. Bakhtin,
“Ngôn ngữ chỉ sống trong sự giao tiếp đối thoại giữa những người sử dụng
ngôn ngữ. Sự giao tiếp đối thoại chính là lĩnh vực đích thực của cuộc sống của
ngôn ngữ. Toàn bộ cuộc sống của ngôn ngữ, trong bất kì lĩnh vực nào sử dụng
nó (sinh hoạt, sự vụ, khoa học, nghệ thuật v.v ) đều thấm nhuần những quan
hệ đối thoại ” [2, tr.172). Nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại nói chung, ngôn ngữ
nhân vật nói riêng “không thể tách nó ra khỏi lĩnh vực lời nói, tức khỏi ngôn
ngữ với tư cách là một hiện tượng toàn vẹn cụ thể” [2, tr.172].
Tiếp thu và phát triển quan điểm và kết quả của ngôn ngữ học thế giới,
các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh
vực ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học văn bản đề cập đến sự
3
hành chức của ngôn ngữ trong giao tiếp [thể hiện trong các tài liệu: 6, 20, 23,
47, 54, 70, 93, 105]. Riêng về vấn đề ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ nhân vật,
các hành động ngôn ngữ, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các quy mô
khác nhau (chuyên luận, giáo trình, luận án, luận văn, bài báo) đề cập đến ở
những mức độ khác nhau (từ những vấn đề lí luận, các nguyên lí, khái niệm
đến thống kê, miêu tả, phân tích các đặc trưng, cách thức hoạt động của các
đơn vị trong hoạt động giao tiếp cụ thể từ tiếng Việt).
Trong các công trình trên, các tác giả đã nêu lí thuyết hội thoại, nhận
xét đánh giá về đặc điểm của hội thoại, các phương diện của hội thoại. Bàn
về hội thoại và vai trò của nó trong nghiên cứu, Đỗ Hữu Châu nhấn
mạnh:“Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến
mà tuy không nói ra một cách hiển minh, nhưng ít nhiều bên trong, người ta
có ý phân biệt nó với ngôn ngữ nói, nói chung. Như thế, có thể nhận ra
trong từ vựng ba lớp từ mang đặc điểm của ba phong cách: lớp từ khẩu ngữ,
lớp từ ngữ thuộc phong cách viết, và cuối cùng là lớp từ ngữ trung tính
(hoặc còn gọi: trung hoà về phong cách) có thể dùng trong mọi phong cách
khác nhau” [29, tr.23]. Bàn về phong cách ngôn ngữ trong tác phẩm văn
học, các tác giả cho rằng ngôn ngữ trong tác phẩm văn học cũng có những
yếu tố mang phong cách khẩu ngữ theo lối “mô phỏng ngôn ngữ tự nhiên”.
Điều đó được thể hiện trong lời thoại nhân vật: “Lời đối thoại giữa các nhân
vật là một thành phần chủ yếu trong kết cấu lời nói của tác phẩm tự sự.
Chức năng chủ yếu của đối thoại không chỉ mang tính chất miêu tả hay
chuyển dẫn, trình bày sự kiện mà còn là bộc lộ tính cách, tâm lí của nhân
vật và quan điểm tư tưởng” [68, tr.194].
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến và liên tục của
cuộc sống hàng ngày. Gần đây, dựa vào lí thuyết hội thoại mà nhiều tác giả đề
5
cập đến nghệ thuật giao tiếp, như: Giao tiếp bất kì ai của Jo Condrill - Bennie
Bough (2001), Ngữ cảnh và giao tiếp, Phân tích hội thoại của Nguyễn Thiện
Giáp (1999) Sự phát triển này cho thấy mảnh đất hội thoại ngày càng màu
mỡ được nhiều nhà nghiên cứu khám phá. Trong các văn bản văn học nhất là
thể loại tự sự, hội thoại góp phần thể hiện phẩm chất nhân vật, tình cảm và tư
tưởng của nhà văn tác động đến bạn đọc sâu sắc.
Nhiều bài viết, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ cũng đã tìm hiểu các
phương diện khác nhau liên quan đến ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm văn
học. Chẳng hạn, Ngôn ngữ tác giả trong truyện Nguyễn Tuân (Đặng Lưu,
2006), Khảo sát ngôn ngữ hội thoại của nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn
Huy Thiệp (Lê Thị Trang, 2002); Hội thoại trong truyện ngắn Nam Cao (Mai
Thị Hảo Yến, 2006); Lời độc thoại nội tâm nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Thu Huệ (Lê Thị Sao
Chi, 2010), v.v
vào từng chi tiết nhỏ của truyện, trong từng phán đoán nhạy bén, quả quyết,
để dẫn tới chiến thắng cuối cùng ở nhân vật” [65, tr.33]. Viết về người lính
sau hoà bình trong tiểu thuyết chiến tranh thời kỳ đổi mới, Nguyễn Hương
Giang cho rằng: “Sự thật về chiến tranh hôm nay được nhìn lại là một sự thật
đã trải qua những năm tháng day dứt, trăn trở trong tâm hồn nhà văn Chu
Lai, hơn thế, nó thực sự là những nếm trải của người “chịu trận”, “người
trong cuộc” [45, tr.20]. Lý Hoài Thu cũng khẳng định: “Dù trực tiếp viết về
dĩ vãng mịt mù bom đạn hay chuyển dịch sang tiếp cận những “kênh” thông
tin mới xô bồ của thời hiện tại, bao giờ Chu Lai cũng nghiền ngẫm suy tư về
hiện thực với sự nhiệt tâm và lòng trung thực của người lính Nếu như trước
kia, các nhân vật của anh được mô tả chủ yếu ở cốt cách anh hùng trận mạc
thì hiện nay ( ) Chu Lai tập trung khai thác quãng đời thứ hai: quãng đời
phía sau chiến trận của người lính” [125, tr.63].
7
2.3.2. Nghiên cứu tác phẩm của nhà văn Chu Lai từ góc độ thi pháp
học và ngôn ngữ học
Đánh giá về phương diện nghệ thuật của tiểu thuyết Chu Lai, Phan Cự
Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới cho rằng, tiểu
thuyết Chu Lai “không chỉ đa dạng trong các phương thức tiếp cận mà cả
trong các biện pháp nghệ thuật, kết hợp độc thoại nội tâm, “dòng ý thức”,
nghệ thuật đồng hiện và có những thành công nhất định” [41, tr.18]. Về tiểu
thuyết Vòng tròn bội bạc, Hồng Diệu đánh giá cao nghệ thuật xây dựng nhân
vật, cách tạo tình huống, những xung đột, đặc biệt là cách nhìn khá mạnh dạn
của Chu Lai, “có những trang hấp dẫn, người đọc đã cầm đến sách là phải
theo đuổi câu chuyện đến cùng” [33, tr.9].
Xuân Trường nhận xét về nghệ thuật và ngôn ngữ trong tiểu thuyết
Ăn mày dĩ vãng qua Một vài cảm nhận sau khi đọc “Ăn mày dĩ vãng”, báo
Văn nghệ số 26/1993: “Có thể gọi tác phẩm này đầy chất lính, giọng văn
băm bổ, sôi động, các thứ tình cảm, suy tư đều đẩy đến tận cùng. Cốt truyện
có pha chút ly kỳ bí hiểm kiểu kiếm hiệp, đọc rất cuốn hút. Có những
“Chu Lai đã “nhử” được người đọc bởi một cốt truyện li kì” (Cao Tiến
Lê), “Trên từng trang viết lộ rõ tâm huyết của tác giả tuy có khi tư tưởng
mới chỉ dừng lại ở những câu triết lý” (Thiếu Mai). Trong bài viết Cuộc
tìm tòi về tiểu thuyết, tác giả Đỗ Văn Khang đã đề cập đến nghệ thuật xây
dựng nhân vật: “Lối chạm khắc nhân vật trong Ăn mày dĩ vãng cũng có
nhiều đóng góp mới. Ngày trước nhân vật thường mang một ý nghĩa phổ
quát, tức là có cái gì đó chung cho cả lớp người , còn Hai Hùng của Chu
Lai có số phận được miêu tả như một yếu tố cá biệt độc nhất nhưng vẫn
mang tính điển hình. Nhân vật Hai Hùng của Chu Lai tàn tạ về thân xác,
9
nhưng vạm vỡ về tâm hồn. Hai Hùng có bộ khung “xuống cấp” vì thương
tật, vì sự hủy hoại của mọi thứ vớ vẩn thời hậu chiến, nhưng vẫn nhất quán
một bản lĩnh, một kiểu xông pha gần như bạt mạng vì không chịu chấp
nhận một cái gì lập lờ tráo trở” [tr.5].
Tác giả Hồng Diệu trong Vấn đề của tiểu thuyết Vòng tròn bội bạc viết:
“Với nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách tạo tình huống, những xung đột, đặc
biệt là cách nhìn khá mạnh dạn, Chu Lai có những trang hấp dẫn, người đọc
đã cầm đến sách là phải theo đuổi câu chuyện đến cùng” [33, tr.41].
Từ góc độ nghiên cứu ngôn ngữ học, gần đây, một số luận án tiến sĩ,
luận văn thạc sĩ cũng đã đề cập một số đặc điểm ngôn ngữ tác phẩm, ngôn
ngữ nhân vật trong các truyện ngắn và tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai.
Chẳng hạn như: Hành động trần thuật qua lời thoại nhân vật trong truyện
ngắn Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Lê Lựu (Cao Xuân Hải, Luận án Tiến sĩ,
2010), Sự thể hiện người lính thời hậu chiến trong tiểu thuyết của Chu Lai
(Lê Thị Luyến, Luận văn Thạc sĩ, 2006), Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn
Chu Lai (Nguyễn Thúy Huệ, Luận văn Thạc sĩ, 2007),v.v
Như vậy, có thể nói các công trình nghiên cứu về tác phẩm của Chu Lai
đã được nhiều tác giả quan tâm và thu được một số kết quả bước đầu nhưng
còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục tìm hiểu, nhất là từ góc độ ngôn ngữ học.
Các kết quả của người đi trước là những gợi ý, nguồn ngữ liệu quan trọng
góc độ (cấu trúc, ngữ nghĩa, phong cách, ngữ dụng). Trong khuôn khổ của
luận án, chúng tôi giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ở việc
tìm hiểu hệ thống từ ngữ thể hiện qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết của
nhà văn Chu Lai từ góc độ ngữ dụng.
11
4.2. Nguồn tư liệu khảo sát của luận án
Luận án khảo sát từ ngữ qua lời thoại nhân vật trong tiểu thuyết của
Chu Lai, gồm các tác phẩm:
1. Chu Lai (1979), Nắng đồng bằng, Nxb Quân đội nhân dân, Số trang: 351.
2. Chu Lai (1985), Gió không thổi từ biển, Nxb Phụ nữ, Số trang: 186.
3. Chu Lai (1990), Vòng tròn bội bạc, Nxb Thanh niên, Số trang: 351.
4. Chu Lai (1990), Bãi bờ hoang lạnh, Nxb Phụ nữ, Số trang: 210.
5. Chu Lai (1994), Ăn mày dĩ vãng, Nxb Hội Nhà văn, Số trang: 339.
6. Chu Lai (1999), Phố, Nxb Văn học, Số trang: 339.
7. Chu Lai (2000), Ba lần và một lần, Nxb Quân đội nhân dân, Số
trang: 343.
8. Chu Lai (2002), Cuộc đời dài lắm, Nxb Quân đội nhân dân, Số trang:
510.
9. Chu Lai (2002), Sông xa, Nxb Quân đội nhân dân, Số trang: 510.
10. Chu Lai (2002), Chỉ còn một lần, Nxb Quân đội nhân dân, Số
trang: 510.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp thống kê - phân loại
Phương pháp này được dùng để thống kê các lời thoại nhân vật; các từ
ngữ tiêu biểu trong ngôn ngữ nhân vật; phân loại các lớp từ ngữ, tính tần số,
lượt dùng của từ ngữ Phương pháp thống kê – phân loại vừa là cơ sở để xác
định đối tượng nghiên cứu (từ ngữ của ngôn ngữ nhân vật), vừa là cung cấp
các số liệu làm minh chứng cho các luận điểm trong từng chương của luận án.
5.2. Phương pháp phân tích diễn ngôn
Phân tích các ngữ liệu trên các bình diện của diễn ngôn hội thoại; tổng
1.1.1. Khái niệm hội thoại
Theo quan điểm chung của các nhà nghiên cứu [thể hiện trong các tài
liệu:11, 15, 17, 20], thành tựu nổi bật nhất của ngôn ngữ học hiện đại là đã
dành sự quan tâm đặc biệt đến ngôn ngữ trong giao tiếp, sự hành chức của
ngôn ngữ trong thực tiễn. Dụng học (Pragmatics) ra đời theo hướng đó và phát
triển mạnh mẽ từ những năm 70 của thế kỷ XX. Giai đoạn đầu, dụng học chú ý
đến ngôn ngữ đơn thoại (lời nói một chiều, các diễn ngôn), sau đó dụng học
chuyển sang hướng quan tâm đến quan hệ hồi đáp (đặt các diễn ngôn vào chuỗi
các chuỗi lời nói trao qua đổi lại). Theo các nhà nghiên cứu, các diễn ngôn có
tính đơn thoại, tức là không có sự tương tác qua lại giữa các lời nói trong đó
(như một bài văn tả cảnh, một bài nghị luận) cũng đều hàm ẩn một cuộc trao
đổi, bởi vậy, dụng học thực sự phải là dụng học hội thoại (Pragmatique
dialogique). “Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến
của sự hành chức ngôn ngữ. Các hình thức hành chức khác nhau của ngôn
ngữ đều được giải thích dựa vào hoạt động căn bản này” [20; tr.276].
Về khái niệm hội thoại, tác giả Nguyễn Như Ý xác định: “Hội thoại là
hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm
trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra” (152;
tr.122). Theo Đỗ Thị Kim Liên: “Hội thoại là một trong những hoạt động
ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ
cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay
hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [86, tr.18]. Trong tác
phẩm văn học, cùng với ngôn ngữ tác giả là sự xuất hiện luân phiên, xen kẽ
ngôn ngữ hội thoại của các nhân vật. Ví dụ:
14
Một cái hôn nhẹ vào trán. Tiếng nói ai dịu nhẹ, mơn man:
- Ngủ đi! Ngủ một chút đi anh! Đã hai ngày hai đêm nay, anh chưa
chợp mắt chút nào rồi. Em sang hầm chị Hai đây. Em sợ vết thương chị
nhiễm trùng. Tức cười ghê cơ! Vết thương của mình không lo, cái sống của
mình không lo, lại cứ lo cho tiểu đoàn anh Tám bên kia sông. Chờ nghen! Em
thích hợp, làm sao có thể “áp đặt” điều mình muốn nói vào B” [24, tr.41].
Khi trao lời, có các vận động cơ thể (điệu bộ, nét mặt, cử chỉ, ) hướng
tới người nhận hoặc hướng về mình (gãi đầu, gãi tai, đấm ngực ) bổ sung
cho lời trao.
Một tiếng khóc tấm tức bật lên:
- Đừng giận Đừng bỏ em nghe anh! Em chỉ có mình anh. Em
thương anh! [XIII, tr.82].
Ở ví dụ trên, hình ảnh của nhân vật Ba Sương, mỏng manh, yếu đuối
trước Hai Hùng, ngưòi hùng trận mạc trong tác phẩm Ăn mày dĩ vãng của
Chu Lai. Đặt trong vận động hội thoại, câu trao của Sương hướng tới Hùng
bằng các từ “em, anh”. Trong câu trao đã có sự hiện hữu của người nhận. Sự
dịu dàng, yếu đuối của nhân vật Sương được tác giả thể hiện bằng câu dẫn:
“Một tiếng khóc tấm tức bật lên”.
1.1.2.2. Sự trao đáp
Hội thoại chính thức hình thành khi người B đáp lại lượt lời của người
nói A. “Phát ngôn là sản phẩm của các hoạt động ở lời. Tất cả các hoạt động
ngôn ngữ đều đòi hỏi một sự hồi đáp” [93, tr.75]. Khi được thoả mãn bằng
một sự hồi đáp thì phát ngôn sẽ trở thành hội thoại, nghĩa là, hình thành một
cặp trao - đáp.
Tiếp theo ví dụ trên, sau những lời tấm tức yêu thương của Ba Sương,
Hai Hùng đáp lại lời của cô để hình thành một cặp trao - đáp.
16
Hùng quay mặt đi, tiếng nói ngàn ngạt:
- Thế là bao nhiêu công sức đổ vào đó mà phải dừng lại! Người ta sẽ
nghĩ gì?
- Không không sao đâu. Em thay mặt lực lượng địa phương sẽ cùng
chịu trách nhiệm với anh.
- Sương [XIII, tr.82].
Khi xuất hiện lời đáp của nhân vật B thì vận động trao - đáp - cái lõi
của hội thoại diễn ra theo nhịp điệu của nội dung hội thoại. Có lúc, sự vận
trường một thời này.
- Làm cho hội thoại thêm căng thẳng và đi đến xung đột do không hoà
phối được những khác biệt:
- Không! Không đi đâu cả! - Ông Hùng xô cửa bước vào, giọng nói
tắc lại.
- Trời Anh Hai! - Ba Sương lùi người trở lại, hai tay bất giác đưa lên
che đỡ lấy ngực như hôm nào.
- Sương! Em cứ ở đây. Ngày mai tôi sẽ đưa em về - Ông Hùng đứng
chắn ngang cửa, cặp mắt trũng sâu sáng lên - Nếu cái đoàn thanh tra ấy
muốn, chính tôi sẽ trả lời, nhân danh những người chết và những người sống,
tôi sẽ trả lời thay em.
Sương càng lùi lại, miệng lắp bắp:
- Không Không được đâu anh. Đừng anh [XIII, tr.331].
- Hé gợi sự tình của nhân vật với những cảm giác, những day dứt
trong tâm trạng:
Như nhân vật Ba Sương, sau chiến tranh trở về, sự trớ trêu của số phận
hay là một hệ quả đau lòng của chiến tranh đã khiến cô buộc phải phản bội lại
18