Đặc điểm ngôn ngữ giới tính trong hát phường vải nghệ tĩnh - Pdf 19

Bộ Giáo dục và đào tạo
Tr ờng Đại học Vinh
Nguyễn Thị Mai Hoa
Đặc điểm ngôn ngữ giới tính
trong hát phờng vải Nghệ Tĩnh
Luận án tiến sĩ ngữ văn
Vinh 2010
1
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi. Các công trình
nghiên cứu khác có liên quan và đợc trích dẫn trong Luận án có chú thích rõ ràng ở
phần tài liệu tham khảo. Mọi t liệu, kiến giải, kết luận là của bản thân, không sao chép
từ bất kì một tài liệu nào. Nếu có gì sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Vinh, ngày 20 tháng 06 năm 2010
Ngời viết
Nguyễn Thị Mai Hoa
2
Mục lục
trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Mở đầu
Chơng 1: Cơ sở lí thuyết và một số vấn đề về hát phờng vải
Nghệ Tĩnh
1.1. Giao tiếp và hội thoại
1.2. Hành động nói
1.3. Về ngôn ngữ và giới tính
1. 4. Về ngôn ngữ và văn hoá
1.5. Phơng ngữ xã hội

26
29
34
37
40
55
58
58
70
95
97
97
104
141
144
144
153
161
177
193
195
198
199
3
DANH MụC CáC Kí HIệU, CáC CHữ viết tắt
1. CDDC : ca dao dân ca
2. DCNT: Dân ca Nghệ Tĩnh
3. DCQH: Dân ca quan họ
4. HĐN: hành động nói
5. HPV: hát phờng vải

88
98
143
144
146
147
149
150
153
161
169
177
179
188
5
Mở ĐầU
1. Lí DO CHọN Đề TàI
1.1. Hát ví phờng vải (HPV) là một thể loại đặc sắc trong kho tàng thơ ca dân gian
xứ Nghệ vốn vô cùng phong phú, đa dạng. Gắn với môi trờng diễn xớng, có nguồn gốc từ
hát đối đáp của nam nữ thanh niên trong lao động sản xuất, dần trở thành đối đáp giao
duyên nam nữ, HPV là một trong những hình thức sinh hoạt văn hoá tinh thần một thời
của ngời xứ Nghệ, phản ánh sâu sắc văn hoá đặc trng xứ Nghệ. Xuất phát từ hoàn cảnh
giao tiếp này, các vai giao tiếp trong HPV có thể quy về hai giới: vai nam và vai nữ. Theo
đó, đặc trng ngôn ngữ giới tính cũng thờng chi phối trực tiếp tới nội dung và hình thức biểu
hiện lời ca của các vai giao tiếp. Mặt khác, ở một mức độ nhất định, ngôn ngữ giới tính
trong HPV cũng chịu ảnh hởng của đặc trng văn hoá xứ Nghệ.
1.2. Tuy nhiên, khi nghiên cứu về ca dao dân ca (CDDC) nói chung, HPV nói riêng,
các nhà nghiên cứu thờng tập trung quan tâm khai thác ở góc độ văn học. Hớng nghiên cứu
từ góc độ ngôn ngữ học là một hớng nghiên cứu ít đợc chú ý tới.
Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu đã vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học xã hội

kiến về giống, sự thiếu cân đối trong việc sử dụng từng cặp, lối diễn tả nam giới và nữ
giới, tính vô hình của nữ giới trong ngôn ngữ, hoặc tập trung vào kết cấu của những
diễn ngôn mang tính kì thị giới. Ngợc lại, các nhà ngôn ngữ học lại sử dụng các phơng
pháp tiếp cận chuyên ngành (phơng pháp ngôn ngữ học so sánh, phơng pháp ngôn ngữ
học lịch sử, phơng pháp phân tích diễn ngôn ) để khảo sát, nghiên cứu những biểu hiện
giới tính trong ngôn ngữ thể hiện trên một số phơng diện: âm vị, từ vựng, ngữ pháp,
phong cách ngôn ngữ [55, tr. 27, 28]. Để có căn cứ lí luận cho việc triển khai các nội
dung của đề tài, ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới một số kết quả nghiên cứu về vấn đề
quan hệ gữa giới tính và ngôn ngữ trong lĩnh vực ngôn ngữ học.
Những phát hiện về sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa nam và nữ đã có từ lâu, nhng
phải đến đầu thế kỉ XX, ấn tợng về sự khác biệt này mới thực sự hình thành rõ nét nhờ
môt số công trình nghiên cứu chuyên sâu. Đó là sự khác nhau xét về mặt âm vị, cách
dùng từ, phát âm mới đợc phát hiện qua kết quả quan sát, khảo cứu của E.d.Sapir đối
với hiện tợng sử dụng luân phiên một số âm vị khác nhau giữa nam và nữ trong tiếng
Yana Inndian; của O.Jesperson về sự khác biệt trong từ vựng và phong cách của nam và
7
nữ khi giao tiếp bằng tiếng Anh; của Yuan RenZhao, Chen Songling khi nghiên cứu về
tiếng Trung Quốc Sự khác nhau xét về mặt ngữ pháp phải kể đến các nghiên cứu của
Mary Haas (tiếng Koasati - Mĩ), Ralph Fasold (tiếng Kurux - ấn Độ) Theo từng mức
độ nhất định, các nghiên cứu đều khẳng định những biểu hiện khác biệt rõ rệt trong
ngôn ngữ của giới nam và giới nữ trên các bình diện: từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp. Bên
cạnh đó, các nhà nghiên cứu còn tập trung khảo sát và chỉ ra sự phân biệt đối xử về giới
tính thể hiện trong ngôn ngữ nh: sự định kiến về giống, tính vô hình của nữ giới trong
ngôn ngữ, kết cấu của những diễn ngôn mang tính phân biệt đối xử về giới tính, sự phân
biệt đối xử về giới tính trong xã hội theo quan niệm nam tôn nữ ti. Có thể kể đến
công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học nh: Allen Nilsen, B. Thorne,
C.Kramarac và N. Henley (Dẫn theo [93, tr. 146-155]).
Một khía cạnh khác cũng đợc quan tâm là vấn đề phong cách ngôn ngữ mang yếu
tố giới tính. Ngời có công đóng góp đáng kể trong nghiên cứu phong cách ngôn ngữ nữ
giới là nhà ngôn ngữ học Mĩ Robin Lakoff. Từ những khảo sát về cách sử dụng tiếng

chính vì vậy, "cách diễn đạt của nữ giới lại gây ấn tợng mạnh và trong nhiều trờng hợp
đạt hiệu quả cao hơn nam giới. Đồng thời khẳng định rằng "yếu tố giới tính là sự tồn
tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ từ hai chiều: chiều tác động của giới tính đến sự
lựa chọn ngôn ngữ trong giao tiếp và chiều thông qua giao tiếp yếu tố giới tính đợc bộc
lộ [93, tr. 144-168]. Trớc đó, trong b i "Sự bộc lộ giới tính trong giao tiếp ngôn ngữ
(1996), tác giả đã xem xét yếu tố giới tính thông qua ứng xử giao tiếp trên cơ sở hai góc
độ: ngôn ngữ nói về mỗi giới và ngôn ngữ của mỗi giới. Khi đề cập tới ngôn ngữ nói về
mỗi giới, tác giả chỉ đa ra một nhận xét duy nhất là những từ nhất định chỉ dùng cho
giới này hoặc giới kia mà thôi [92, tr. 176-186].
Từ góc độ nghiên cứu hiện tợng phân biệt giới tính của ngời sử dụng ngôn ngữ
trong tiếng Nhật, tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh (1999) đã đa ra 5 tiêu chí phân biệt
ngôn ngữ của nam giới và nữ giới dựa trên đặc điểm quan trọng là ngôn ngữ nữ giới
Nhật có tính mềm mại và tính chuẩn mực, cụ thể là: (1) Sự khác biệt trong sử dụng từ
để gọi giữa nam giới và nữ giới mà đặc quyền sử dụng thuộc về giới nam, nếu nữ giới
dùng sẽ bị đánh giá là xấc xợc; (2) Sự "mềm mại" trong ngôn ngữ nữ giới đợc thể hiện
9
trong việc sử dụng vốn từ vựng tiếng Nhật, cụ thể là nữ giới hay dùng từ thuần Nhật dễ
hiểu, còn nam giới lại thờng dùng từ Hán - Nhật có tính trang trọng; (3) Việc sử dụng
thán từ ở cuối câu cũng có sự phân biệt về giới tính thể hiện qua hiện tợng nam giới th-
ờng thêm vào cuối câu những từ cảm thán, tình thái từ tạo nên cảm giác mạnh mẽ, dứt
khoát; (4) Nữ giới tuân thủ các quy định về sử dụng kính ngữ chặt chẽ hơn nam giới;
(5) Cách phát âm của nữ giới Nhật đợc ngời Nhật coi là chuẩn hơn nam giới. Hay nói
cách khác, nữ giới phát âm rõ ràng, không nuốt âm, biến âm trong lời nói (Dẫn theo
[149, tr. 57-59]).
Trong một công trình nghiên cứu yếu tố giới tính trong cách xng gọi của trẻ em tr-
ớc tuổi đến trờng ở Hà Nội, Hà Tây, tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình đã đi đến kết luận:
trẻ em nữ dùng nhiều biến thể chuẩn hơn trẻ em nam, trẻ em xng và gọi không "nhầm
giới". Còn các tác giả Vũ Thị Thanh Hơng (1999), Vũ Tiến Dũng (2002) lại quan tâm
nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ giới tính trên cơ sở chỉ ra ngôn ngữ đặc trng của từng giới
cũng nh mối quan hệ giữa giới tính và lịch sự, và cùng chung nhận định: mối quan hệ

giặm Nghệ Tĩnh (1962, 1963); Ninh Viết Giao với các công trình Về văn học dân gian
Nghệ Tĩnh (1982), Hát phờng vải Nghệ Tĩnh (1993), Về văn hoá xứ Nghệ (2003); Vi
Phong với Dân ca Nghệ Tĩnh (2000) Trong lĩnh vực ngôn ngữ học đã có một số nhà
nghiên cứu quan tâm tới việc khai thác giá trị thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh: Nguyễn Nhã
Bản (chủ biên) với Bản sắc văn hoá của ngời Nghệ Tĩnh (2001), Cuộc sống của thành
ngữ, tục ngữ trong kho tàng ca dao ngời Việt (2003); Ngô Văn Cảnh với Đặc trng hình
thức của các thể thơ dân gian Nghệ Tĩnh (Luận án TS, 2004) Ngoài ra, có khá nhiều
bài viết của các nhà nghiên cứu văn học dân gian, các nhà ngôn ngữ học bàn về văn hoá
dân gian xứ Nghệ đăng trên các tạp chí chuyên ngành.
Từ các góc độ nghiên cứu với nhiều phơng pháp nghiên cứu khác nhau, những ng-
ời quan tâm tới văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh đã khai thác nét đặc sắc về nội dung, nghệ
thuật của các loại hình văn học dân gian mang đậm màu sắc văn hoá xứ Nghệ. Một số
công trình đã đề cập sơ lợc tới vấn đề giới tính trong CDDC (vai giao tiếp, hình tợng
nhân vật nữ ). Chẳng hạn nh trong Hát giặm Nghệ Tĩnh (1963), tác giả Nguyễn Đổng
Chi đã phân loại hát giặm vè và hát giặm nam nữ. Tuy nhiên, việc xác định hát giặm
nam nữ chỉ giới thuyết về chủ đề, hình thức của các bài hát giặm, cha đặt ra vấn đề giới
tính vai giao tiếp.
11
Ngời đầu tiên thực sự quan tâm tới giới tính vai giao tiếp trong HPV là nhà nghiên
cứu văn hoá dân gian Ninh Viết Giao. Trong Tiểu luận về HPV, tác giả đã đề cập tới
yếu tố giới tính khi phân tích nguồn gốc HPV, giới thiệu lề lối cuộc hát và chân dung
các nghệ nhân phờng vải. Về nguồn gốc HPV, theo tác giả, ban đầu là thể hát ví gắn
với nghề kéo vải của phụ nữ, sau phát triển, mở rộng dần thành tục hát đối đáp giữa
nam và nữ, trở thành một hình thức sinh hoạt văn hoá - văn nghệ đặc sắc của nhiều
vùng quê xứ Nghệ. Giới thiệu thể thức, thủ tục cuộc hát, tác giả mô tả hoạt động của
các vai giao tiếp đối đáp là phờng nam, phờng nữ, đồng thời sắp xếp lời hát thành các
chặng, các bớc theo giới tính vai giao tiếp (nam hát, nữ hát; nam hỏi, nữ hỏi). Trong
phần giới thiệu chân dung các nghệ nhân (các nhà nho, các nghệ nhân dân gian), tác giả
đã quan tâm tới yếu tố giới tính khi phân tích, phác hoạ chân dung của các nghệ nhân
phờng vải. Đó là các nhà nho "mẫn tiệp, nhanh trí, uyên bác, nhiệt thành", có hoài bão,

Dân ca Nghệ Tĩnh của tác giả Vi Phong (2000) đợc dùng với mục đích đối chiếu, so
sánh, liên hệ, mở rộng.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận án chỉ tập trung xem xét, so sánh ngôn ngữ lời HPV theo giới tính vai giao
tiếp với hai nhóm t liệu: lời nam và lời nữ; mô tả đặc điểm ngôn ngữ của các vai giao
tiếp nam/nữ trên một số phơng diện nh: từ xng hô, các hành động nói đóng vai trò chủ
đạo trong một số bớc hát, cách sử dụng từ ngữ và các biện pháp, phơng tiện nghệ thuật.
Từ đó rút ra những kết luận bớc đầu về những điểm tơng đồng và khác biệt trong ngôn
ngữ của vai giao tiếp nam/nữ. Vấn đề so sánh, đối chiếu kết quả nghiên cứu HPV Nghệ
Tĩnh với CDDC các vùng miền hoặc các thể hát ví khác trong kho tàng thơ ca dân gian
xứ Nghệ cần đợc thực hiện bằng một công trình nghiên cứu khác có quy mô lớn hơn.
Với khả năng và điều kiện có hạn, ngời viết không đặt ra ở luận án này.
4. mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Kết hợp lí thuyết dụng học về giao tiếp và lí thuyết ngôn ngữ học xã hội về giới
tính, luận án khảo sát và xác định những đặc điểm ngôn ngữ mang đặc trng giới tính
trong HPV Nghệ Tĩnh. Từ đó góp phần làm rõ thêm một số vấn đề về văn hoá giao tiếp
xứ Nghệ và về con ngời xứ Nghệ từ góc nhìn lí thuyết ngôn ngữ giao tiếp và giới tính.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể đợc đặt ra là:
13
- Khảo sát, xác định, phân tích cứ liệu cụ thể (các lời HPV đợc xác định theo giới
tính), trên cơ sở đó xem xét biểuừ hiện đặc điểm ngôn ngữ giới tính các vai giao tiếp
trên một số phơng diện: từ xng hô, các hành động nói trong một số bớc hát, cách thức
sử dụng từ ngữ và một số biện pháp, phơng tiện tu từ.
- Tìm hiểu những điểm tơng đồng và khác biệt trong ngôn ngữ HPV đợc hình
thành dựa trên cơ sở khác biệt về giới tính.
- Bổ sung kết quả khảo sát, đánh giá t liệu cho việc nghiên cứu văn hoá xứ Nghệ,
con ngời xứ Nghệ qua HPV.
5. Phơng pháp nghiên cứu

mẻ, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khác, và dự kiến sẽ có những đóng
góp sau:
6.1. ý nghĩa lí luận
- Góp phần làm rõ một số vấn đề thuộc phơng diện lí luận ngôn ngữ có liên quan
tới ngữ nghĩa, ngữ dụng - văn hoá nh: từ xng hô từ góc độ giới tính, hành động nói gắn
với các ngữ cảnh giao tiếp, các lớp từ gắn với đặc trng giới tính
- Góp thêm cứ liệu trong lĩnh vực nghiên cứu về giới tính trong ngôn ngữ. Cung
cấp căn cứ lí luận để làm rõ thêm một số vấn đề nêu trong các công trình nghiên cứu về
HPV đã đợc công bố nh: cách phân chia các chặng hát, bớc hát và thủ tục của một cuộc
HPV; môi trờng diễn xớng của HPV và vấn đề không gian, thời gian; giới tính vai giao
tiếp và quan hệ chủ/khách trong HPV
- Khẳng định và bổ sung thêm những nhận định về đặc trng văn hoá mang dấu ấn
giới tính của vùng đất Nghệ Tĩnh, của con ngời Nghệ Tĩnh.
6.2. ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp t liệu cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu văn hoá
dân gian, các nghiên cứu sinh có đề tài nghiên cứu liên quan tới yếu tố giới tính trong
ngôn ngữ thơ ca dân gian cũng nh nghiên cứu chung về thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh.
- Bổ sung thêm t liệu cho việc giảng dạy, học tập các thể thơ dân gian, các nội
dung liên quan tới nghệ thuật sử dụng từ ngữ (các lớp từ đặc trng, hệ thống biểu tợng
nghệ thuật, các phơng tiện biện pháp nghệ thuật ).
15
- Khẳng định đóng góp của các nghệ nhân nam / nữ phờng vải trong việc tạo nên
giá trị của văn hoá xứ Nghệ.
7. Bố CụC CủA luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm có 4 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lí thuyết và một số vấn đề về hát phờng vải Nghệ Tĩnh
Nội dung chơng đề cập tới một số vấn đề lí luận ngôn ngữ bao gồm: giao tiếp và
hội thoại, hành động nói, mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới tính, ngôn ngữ và văn hoá.
Phần cuối chơng giới thiệu khái quát về HPV Nghệ Tĩnh và việc xác định, phân
loại t liệu lời HPV căn cứ vào đặc điểm ngôn ngữ giới tính.

và ngôn ngữ viết) là phơng tiện quan trọng nhất.
Giao tiếp bằng ngôn ngữ là đối tợng thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu với
những mối quan tâm khác nhau; và do đó, cũng đợc hiểu theo nhiều cách khác nhau.
Theo Berge 1994 (Dẫn theo [6, tr. 18-21], giao tiếp đợc hiểu theo một số cách sau:
Hiểu theo cách đơn giản và chung nhất, giao tiếp là quá trình thông tin diễn ra
giữa ít nhất là hai ngời giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình
huống nhất định. Cách định nghĩa này phù hợp với các cuộc trao đổi bằng lời trong
cuộc sống thờng nhật của con ngời, do đó nó liên quan tới xã hội học.
Hiểu theo cách hiểu có tính chất chuyên môn, giao tiếp đợc định nghĩa nh một
thuật ngữ chỉ loại, bao trùm tất cả các thông điệp đợc phát ra trong những ngữ cảnh và
tình huống khác nhau. Theo cách hiểu này, giao tiếp là cách gọi chung cho tất cả các
hành động ngôn ngữ trong xã hội.
Theo một cách định nghĩa khác, khái niệm giao tiếp đợc giải thích thông qua tính
từ "thuộc về giao tiếp" hay "có tính giao tiếp": Một tín hiệu là có tính giao tiếp nếu nó
nhằm báo cho ngời nhận về một cái gì đó mà cho đến lúc bấy giờ ngời ấy cha biết.
Theo đó, giao tiếp đợc xem xét có sự phân biệt trong quan hệ một bên là ngời phát (ng-
ời nói, ngời viết) với những chủ định nhất định, một bên là ngời nhận (ngời nghe, ngời
đọc) với những giá trị nhất định.
17
Trong ngôn ngữ học, khi đặt giao tiếp trong quan hệ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa
với lời nói, cách dùng , giao tiếp đợc nhìn nhận nh là những cái vốn có trong thông
điệp ngôn ngữ: qua bình diện nội dung và bình diện biểu hiện (hình thức) của thông
điệp bằng ngôn ngữ, ngời ta có thể hiểu tình huống, ngữ cảnh, và bản thân những ngời
trao đổi lời với nhau tự thể hiện mình. Đây là cách định nghĩa có tính trung hoà.
HVP không phải là "ngôn ngữ trao đổi bằng lời trong cuộc sống thờng nhật", cũng
không có tính chất "đại diện chung" cho tất cả các hành động ngôn ngữ trong xã hội.
Mặt khác, nội dung thông tin trong giao tiếp phờng vải không hoàn toàn là "một cái gì
đó" mà ngời nhận cha biết. Do vậy, để thực hiện mục đích nghiên cứu, việc xem xét đặc
điểm ngôn ngữ giới tính sẽ căn cứ vào lời nói, cách dùng bao gồm cả bình diện nội
dung và hình thức biểu hiện của những thông điệp ngôn ngữ, qua đó "những ngời trao

trong giao tiếp là cơ sở để chỉ ra quan hệ giữa các vai giao tiếp nam/nữ.
1.1.1.3. Vai giao tiếp
Các nhân tố giao tiếp gồm: ngữ cảnh, ngôn ngữ, diễn ngôn, trong đó ngữ cảnh là
một hợp phần gồm: nhân vật giao tiếp và hiện thực ngoài diễn ngôn [29, tr. 15 - 40].
Nhân vật giao tiếp là những ngời tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ
để tạo ra lời nói. Giữa các nhân vật giao tiếp có hai quan hệ: vai giao tiếp và quan hệ
liên nhân. Nhờ đó mà các diễn ngôn trong hoạt động giao tiếp tác động đến nhau, tạo
thành chuỗi trao - đáp cho một cuộc thoại. Trong hoạt động giao tiếp, các nhân vật giao
tiếp luôn đảm nhận các vai giao tiếp khác nhau. Vai giao tiếp có thể là ngôi thứ nhất
(vai trao lời) tác động đến vai nhận là ngôi thứ hai (vai đáp lời). Khi vai nhận đáp lời,
đến lợt mình, vai nhận lại trở thành vai trao còn vai trao lại trở thành vai nhận. Cứ thế,
trong suốt cuộc thoại, các cá nhân trong giao tiếp là các cặp chủ thể - đối tợng luôn đổi
chỗ cho nhau, làm thành các cặp trao - đáp luân phiên nhau (còn gọi là luân phiên lợt
lời). Mức độ ảnh hởng lẫn nhau giữa các chủ thể giao tiếp và hiệu quả giao tiếp phụ
thuộc rất nhiều vào các đặc điểm cá nhân của chủ thể nh vị trí xã hội, vai trò xã hội, uy
tín, giới tính, tuổi tác cũng nh các mối quan hệ và tơng quan giữa họ.
Tuy nhiên, không phải hai ngời thay nhau nói là thành một cuộc thoại. Trong quá
trình giao tiếp, cả hai bên cùng phải có ý thức, trách nhiệm khởi động và duy trì cuộc
thoại, tức là duy trì sự tơng tác qua lại lẫn nhau thông qua hành động ngôn ngữ tơng
19
tác, có sự thống nhất và mâu thuẫn, có sự vận động để điều hành cuộc thoại diễn tiến
theo một chiều hớng nhất định. Giữa các bên tham gia giao tiếp ban đầu thờng có một
khoảng cách nhất định về mối quan hệ thân sơ. Nếu cả hai nhân vật giao tiếp cùng có
sự thống nhất trong các hành động ngôn ngữ thì cuộc thoại diễn ra theo chiều hớng
thuận. Ngợc lại, nếu hai nhân vật giao tiếp có sự bất đồng về nhận thức cũng nh hành
động ngôn ngữ thì cuộc thoại diễn tiến theo chiều hớng không thuận. Hoặc nếu một ng-
ời nói ra một phát ngôn để gợi chuyện (hoạt động trao lời) mà ngời nghe không hởng
ứng (không thực hiện hoạt động đáp lời, đáp lời một cách miễn cỡng, rời rạc ) thì
cuộc thoại cũng không thể tiến triển [108, tr. 200-204]. Nh vậy, để cuộc thoại phát triển
theo hớng mong muốn, các vai giao tiếp phải có sự phối hợp chặt chẽ về từ ngữ, cấu

b) Cặp thoại
Cặp thoại đợc cấu thành từ các tham thoại. Đây là đơn vị lỡng thoại nhỏ nhất của
cuộc thoại. Có thể căn cứ vào số lợng các tham thoại để phân loại các cặp thoại: cặp
thoại 1 tham thoại, cặp thoại 2 tham thoại, cặp thoại 3 tham thoại. Nội dung cơ bản của
một cặp thoại thờng gồm 2 tham thoại chính: dẫn nhập, hồi đáp. Tuy nhiên có những
cặp thoại mà tham thoại thứ 3 có tính chất đóng lại cặp thoại đó.
c) Đoạn thoại
Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một số cặp thoại trao đáp liên kết chặt chẽ
với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng. Về ngữ nghĩa, đó là sự liên kết chủ đề. Về
ngữ dụng, đó là tính duy nhất về đích. Một đoạn thoại thờng có một nội dung đích nhất
định. Một cuộc thoại có thể gồm nhiều đoạn thoại, vì có thể nói về nhiều chủ đề.
Ngời ta phân đoạn thoại thành các đoạn cơ bản: đoạn mở thoại, đoạn thân thoại
(có thể gồm nhiều đoạn), đoạn thoại kết thúc. Đoạn mở thoại và đoạn kết thúc trong
một cuộc thoại thờng chỉ là những đoạn có tính chất nghi thức.
d) Cuộc thoại
Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất. Một cuộc thoại có thể dài, ngắn
tuỳ tính chất của cuộc thoại. Để xác định một cuộc thoại, có thể dựa vào các tiêu chí
sau đây :
- Nhân vật hội thoại: Nói chung một cuộc thoại đợc xác định bởi sự góp mặt, trao
đổi giữa ít nhất 2 ngời hội thoại.
21
- Tính thống nhất về thời gian và địa điểm: Một cuộc thoại thờng xảy ra trong một
thời gian và một không gian nhất định.
- Tính thống nhất về đề tài và diễn ngôn: Một cuộc thoại thờng phải có hớng nhất
định từ đầu đến khi kết thúc.
Thuật ngữ hội thoại đợc sử dụng trong luận án chủ yếu đợc hiểu là song thoại, có
sự tham gia của các vai giao tiếp trong một cuộc hát (phờng nam, phờng nữ) và đợc
thực hiện theo quy trình luân phiên đổi vai. Tuy nhiên, ngữ liệu đợc xem xét ở đây là
lời HPV đợc su tầm, tập hợp theo từng nhóm lời ứng với các bớc, các chặng nên sự luân
phiên đổi vai chỉ phần nào thể hiện đợc trong từng cặp thoại trao - đáp, khó xác định ở

mình về phía Sp2. Sự trao lời có thể đợc thực hiện bằng các yếu tố bằng lời hoặc kèm
theo các yếu tố phi lời (bao gồm cử chỉ, điệu bộ ). Trong một cuộc song thoại, khi chỉ
gồm một ngời nói và một ngời nghe, vấn đề xác định Sp2 không đặt ra. Còn trong một
cuộc đa thoại thì vận động trao lời có thể hớng tới toàn thể ngời nghe, cũng có thể chỉ
nhằm vào một (hoặc một số) ngời nghe trong số đó, tức là Sp1 phải sử dụng những dấu
hiệu để định hớng rõ ai là ngời nghe đích thực của lợt lời đó.
b) Sự trao đáp (exchange)
Sự trao đáp (hay còn gọi là sự đáp lời) là lợt lời đợc Sp2 thực hiện để đáp lại lợt lời
của Sp1. Có sự trao đáp này thì cuộc thoại mới chính thức đợc hình thành. Cũng nh sự
trao lời, sự đáp lời có thể thực hiện bằng các yếu tố bằng lời hoặc các yếu tố phi lời
hoặc kết hợp cả hai.
c) Sự tơng tác (interaction)
Sự tơng tác hội thoại là quá trình các nhân vật hội thoại ảnh hởng lẫn nhau, tác
động qua lại với nhau, làm cho nhau biến đổi. Một chuỗi các tơng tác nối tiếp nhau gọi
là liên tơng tác. Liên tơng tác trong hội thoại trớc hết là liên tơng tác giữa các lợt lời
của Sp1 và Sp2, còn gọi là sự liên hoà phối các lợt lời. Sự hoà phối này hoàn hảo thì
cuộc hội thoại ở cực điều hoà, nhịp nhàng; các lợt lời của Sp1 và Sp2 đợc sắp xếp theo
một trình tự trao/đáp luân phiên giữa những ngời dự thoại. Ngợc lại, nếu thiếu sự hoà
phối nhịp nhàng thì cuộc thoại trở nên hỗn độn với sự xuất hiện của các hiện tợng trùng
lời, dẫm đạp lên lợt lời của nhau, cớp lời nhau. Do vậy, trong giao tiếp, mỗi nhân vật rất
cần thực hiện sự tự hoà phối, tức là tự điều chỉnh hành động, thái độ, lợt lời của mình để
có đợc sự tơng tác tích cực cho cuộc thoại.
23
1.1.2.3. Hàm ý hội thoại và nguyên tắc cộng tác
Trong giao tiếp, ngời nói và ngời nghe cùng tham dự vào cuộc thoại thờng có cộng
tác với nhau. Sự cộng tác ấy giúp cho ngời nghe tiếp nhận những tiền giả định của ngời
nói, từ đó luận giải đợc những điều mà ngời nói cố ý thông báo nhiều hơn cái đợc nói
ra. Đó là "thứ ý nghĩa phụ thêm" đợc chuyển tải ngoài những gì mà nghĩa của các từ
cung cấp, đợc gọi là hàm ý (implicature).
Theo đó, hàm ý hội thoại (conversational implicatures) đợc hiểu là phần ý nghĩa

phạm ấy. Khi ngời nói cố ý vi phạm một phơng châm hội thoại nào đó, thì cũng tức là
ngời nói thông báo một ý nghĩa nào đó bằng hàm ý, và bằng suy luận thông qua tiền giả
định, ngời nghe có thể hiểu đợc hàm ý này.
Để sử dụng hàm ý, đòi hỏi phải có sự cộng tác giữa các bên giao tiếp. Cụ thể là
ngời nói dùng hàm ý phải tính đến năng lực giải đoán hàm ý ở ngời nghe, còn ngời
nghe thì ý thức đợc rằng ngời nói đang cùng cộng tác và có chủ định thông báo một
điều gì đó. Nếu ngời nói không quan tâm đến năng lực giải đoán hàm ý của ngời nghe
thì hàm ý sẽ không đợc nhận biết; ngợc lại, nếu ngời nghe không ý thức về việc ngời
nói đang cộng tác với mình thì sẽ không cố gắng giải đoán hàm ý, và hệ quả của cả hai
giả thiết trên là việc dùng hàm ý thất bại.
Do vậy, trong Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản (2009), khi nói về hàm
ý hội thoại, tác giả Diệp Quang Ban cho rằng: "Muốn dùng hàm ý thành công, trớc hết
ngời dự thoại phải cộng tác với nhau, trong đó ngời nói phải tính đến khả năng giải
đoán hàm ý của ngời nghe và ngời nghe phải nắm đợc rằng ngời nói muốn thông báo
một điều gì đó (nằm trong hàm ý) và cố gắng hiểu điều đó (cố gắng giải đoán đúng)"
[7, tr. 137].
Giao tiếp trong HPV là giao tiếp mang tính nghệ thuật, do vậy hầu hết các lời
HPV đều chứa hàm ý hội thoại. Trong quá trình tham gia hoạt động trao đáp, ngời hát
thờng mợn lời hát để gửi gắm tâm t, tình cảm của mình, và ngời nghe có thể luận giải
đợc hàm ý ấy trên cơ sở vận dụng/hoặc không cần vận dụng đến ngữ cảnh riêng biệt.
Theo đó, những vấn đề liên quan tới ngôn ngữ các vai giao tiếp trong HPV đợc luận án
xem xét trên cơ sở hàm ý hội thoại.
25

Trích đoạn Hành động chào, mừng trong bớc hát chào hát mừng 1 Tiểu dẫn Nội dung lời hát chào hát mừng Hành động hỏi trong bớc hát hỏi 1 Tiểu dẫn Nội dung lời hát hỏi trong bớc hát hỏ Hành động đố/đối hỏi trong bớc hát đố, hát đối 1 Tiểu dẫn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status