Báo cáo nghiên cứu khoa học: "Giới tính và từ xưng hô trong Hát phường vải Nghệ Tĩnh" - Pdf 19

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008 23
Giới tính và từ xng hô trong Hát phờng vải Nghệ Tĩnh

Nguyễn Thị Mai Hoa
(a)Tóm tắt. Ví phờng vải là một trong những thể loại hát dân ca độc đáo trong
kho tàng dân ca ở Nghệ Tĩnh. Trong lời những bài hát này có các đại từ nhân xng
chỉ vai hát là nam và nữ. Lớp từ này đậm màu sắc giới tính và có sự khác biệt khi
hành chức. Bài viết đi sâu phân tích những sự khác biệt này.

rong thời gian gần đây, việc
nghiên cứu ngôn ngữ xét từ góc
độ giới tính (GT) trong phạm vi giao
tiếp gia đình, họ tộc và giao tiếp xã hội,
đặc biệt là quan hệ giữa giới tính (GT)
và ngôi giao tiếp thể hiện ở từ xng hô
(TXH) đã đợc nhiều nhà ngôn ngữ học
quan tâm (xem [5, 7, 10]). Tuy nhiên,
hầu hết các tác giả nói trên chủ yếu tập
trung xem xét GT và TXH trong giao
tiếp nói chung chứ cha đề cập sâu tới
vấn đề ngôn ngữ GT và TXH trong một
thể hát ví dân gian gắn với một phơng

Trong giao tiếp, các nhân vật tham
gia hoạt động này đều đợc phân định
rõ rệt ở 3 ngôi vị (số ít và số nhiều): ngôi
1 chỉ ngời nói, ngôi 2 chỉ ngời nghe và
ngôi 3 chỉ ngời đợc nói đến. Tuy
nhiên, khi một hoạt động giao tiếp diễn
ra, chỉ có hai ngôi vị trực tiếp tham gia
giao tiếp (gồm ngời nói và ngời nghe)
sử dụng TXH. Theo Benvenniste trong
tác phẩm Những vấn đề ngôn ngữ học
đại cơng (1966) thì chỉ có ngôi thứ
nhất và ngôi thứ hai mới thực sự là các
ngôi xng hô (ông gọi là các pro -
personne: đại - nhân vật) bởi vì những
ngời đang giao tiếp với nhau dùng
chúng để chỉ nhau. Ngôi thứ ba (đợc
Benvenniste gọi là pro-nom: các đại -
danh từ) không tham gia vào cuộc giao
tiếp mà chỉ đợc dùng để chiếu vật
ngời hay sự vật đợc nói tới.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa xng
hô là tự xng mình và gọi ngời khác
là gì đó khi nói với nhau để biểu thị
tính chất của mối quan hệ với nhau.

Nhận bài ngày 03/3/2008. Sửa chữa xong 14/3/2008. T


Trong thực tế giao tiếp của ngời Việt,
hệ thống ĐTNX gốc này đợc sử dụng
hết sức hạn chế; có những từ rất ít dùng
hoặc chỉ dùng trong những điều kiện,
tình huống và với đối tợng giao tiếp
nhất định, vì vậy thờng mất đi tính
trung lập khi đợc đặt vào các ngôi vị.
Việc lựa chọn ĐTNX gốc chủ yếu đợc
căn cứ vào các yếu tố xã hội, tâm lý,
thái độ, tình cảm của những ngời
tham gia giao tiếp, chẳng hạn, từ tôi
thờng sử dụng để giao tiếp trong tình
huống có tính quy thức, hoặc trong
những quan hệ giao tiếp mang tính xã
giao. Nếu trong tình huống giao tiếp phi
quy thức, nhất là đối với quan hệ gia
đình, quan hệ bạn bè thân thiết, việc sử
dụng từ tôi để xng hô thờng đợc
đánh giá là sự thay đổi trong thái độ,
tình cảm theo chiều hớng tiêu cực.
Thứ hai là những từ ngữ xng hô
khác không phải là ĐTNX, đợc dùng
với t cách là ĐTNX lâm thời, gồm một
số nhóm nh: Đại từ dùng để trỏ hoặc
để thay thế; DT chỉ tên riêng; DT chỉ
quan hệ thân tộc; DT chỉ chức danh,
nghề nghiệp; danh ngữ xác định
(DNXĐ) Trong thực tế giao tiếp của
ngời Việt, hệ thống ĐTNX lâm thời
này đợc sử dụng khá rộng rãi ở mọi

Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008 25
vải của những ngời phụ nữ xứ Nghệ,
hát ví phờng vải dần dần trở thành
thể hát đối đáp giao duyên giữa nam và
nữ, mang những tình ý thiết tha, lành
mạnh, chất phác của trai gái bình dân.
Khác với NN giao tiếp đời thờng, giao
tiếp trong HPV là hình thức giao tiếp
thông qua hát đối đáp, tức là đã đợc
nâng lên thành một nghệ thuật (nghệ
thuật hát dân gian) đồng thời mang
tính tập thể cao. Cũng nh các thể hát
ví khác, HPV là hình thức sinh hoạt
văn hóa bình dân có sự tham gia của
hai đối tợng giao tiếp chính: một bên
là các chàng trai (bên nam) và một bên
là các cô gái (bên nữ). Ngoài ra còn có cả
những ngời đi nghe hát hoặc tham gia
đặt lời hát (có trẻ, có già; có nam có nữ;
có ngời lao động bình dân và cũng có
các nhà nho tham gia với vai trò thầy
gà, thầy bày). Và do đó, các lời hát sử
dụng trong một cuộc HPV không chỉ là
vốn lời ca có sẵn mà thờng đợc đặt ra

HPV, bên nữ (những cô gái làm nghề
kéo vải) thờng nhóm họp thành
phờng (có tính chất cố định tơng đối ở
một gia đình nào đó); còn bên nam (các
chàng trai có thể là ngời trong vùng,
có thể là ngời ở vùng khác) thờng
xuất hiện với t cách là khách đến
tham gia hát đối đáp với nhiều mục
đích (đến đây hò hát cho quen hoặc để
giao duyên). Từ đó có thể hình thành
một phán đoán logic: Chủ nhà chính là
bên nữ, quan ngang khách tạm là
bên nam. Theo mạch phán đoán ấy, câu
trao là lời nam và câu đáp là lời nữ.
2.3. Mỗi câu hát VPV (dù xuất hiện
ở dạng đơn hay đợc đặt trong cặp trao
đáp thờng ứng với một lợt lời. Và ứng
với một lợt lời thờng là một cặp TXH:
Chàng về ngoảnh mặt lại đây,
Cho em ngong (nhìn) chút, cho
khuây cơn buồn.
Tuy nhiên, trong một lợt lời của
HPV có thể không xuất hiện TXH, bao
gồm khuyết từ xng hoặc khuyết từ hô,
hoặc có thể khuyết cả hai:
Răng mà không nói không phô (nói)
Hay là đã dở đi nơi mô đi rồi.
Cũng có thể dùng hơn một cặp TXH
(có trờng hợp xuất hiện tới ba cặp
TXH):

dụng từ xng hô
Trong giao tiếp, ngời ta có thể
không sử dụng TXH (khuyết từ xng
hoặc khuyết từ hô) mà vẫn thể hiện
đợc vai giao tiếp. Thực tiễn cho thấy,
có nhiều phát ngôn không có từ xng hô
trong lời thoại. Đây là hiện tợng tỉnh
lợc các từ xng hô trong phát ngôn mà
trên bình diện thông báo, những phát
ngôn này vẫn đảm bảo yêu cầu về thông
tin. Trong giao tiếp thông thờng, hiện
tợng khuyết TXH đợc gọi là cách nói
trống không, cách nói trống nên
trong một số trờng hợp, chúng bị coi là
vi phạm phép lịch sự, làm giảm đi phần
thiện cảm về phía ngời đối thoại, và do
đó cũng sẽ giảm sút hiệu quả giao tiếp.
Qua 767 lời hát nam và 978 lời hát
nữ đợc khảo sát, kết quả cho thấy ở
HPV, trờng hợp khuyết TXH chiếm tỉ
lệ khá cao: ở lời nam là 340 lợt khuyết
từ xng, chiếm 44% và 249 lợt khuyết
từ hô, chiếm 32%, ở lời nữ là 492 lợt
khuyết từ xng, chiếm 50% và 184 lợt
khuyết từ hô, chiếm 19%. Trong nhiều
trờng hợp khuyết cả từ xng lẫn từ hô
(nam lẫn nữ):
- Đến đây đàn hát vui xuân,
Khấu đầu bái tạ trớc sân làm gì?
(nữ)

- Vờn hồng có khách cung trăng
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008 27
Em con nhà thi lễ nói năng dịu
dàng.
b) Từ ngữ dùng để hô
+ TXH là danh từ thân tộc và
ĐTXH: ả, chị em, cô, mự, nàng (nờng),
o (cô).
- Một niềm chỉ quyết lấy o,
Khéo bông khéo vải, khéo lo việc
nhà.
+ TXH là danh từ: chủ nhà, phờng,
Nguyệt Nga, Kiều, đào liễu
Cảm ơn đào liễu có lòng
Sẵn sàng yên kỉ anh hùng ngồi
chơi.
+ TXH là đại từ nhân xng (kể cả
các danh từ có ý nghĩa ẩn dụ): bạn Trần
Châu, cô ấy, cô bay, cô gái, bên sông, cô
gái bên bờ, chim khôn, dì mình, dì xã,
đôi ả, đào tơ, gái hát tài, gái hữu tình,
gái thuyền quyên, gái má đào, khách
hồng lâu, mự xã, ngời bạn, ngời con
gái, ngời thắt lng xanh, ngời ngồi

Mấy khi khách tới vờn đào
Trăm hoa mủm mỉm ra chào đông
quân.
TXH là DTXD: anh kia, anh đi ở,
bạn học, bạn học trò, bạn loan, chàng
niên thiếu, khách đờng xa, khách
Chơng Đài, khách hảo cầu, khách nhà
nông, khách tri âm, khách văn chơng,
ngời thân thuộc, trai xinh.
Lâu ngày xáp khách hảo cầu
Hai tay bng hộp trà lu ra chào.
3.2.3. Hệ thống TXH lỡng tính
3.2.3.1. TXH lỡng tính là ĐTNX:
Thờng chỉ xuất hiện ở phần xng (ngôi
1): tôi, ta (đôi ta).
- Ơ o (cô) dệt vải trong cung,
Cho ta (nam) dệt với cùng chung
một đèn.
- Hai ta khác xã khác làng,
Hỏi ai mách bảo cho chàng biết ta
(nữ)?
3.2.3.2. TXH lỡng tính là những từ
ngữ xng hô khác không phải là ĐTNX,
đợc dùng với t cách là ĐTNX lâm thời
(chúng tôi gọi là hệ thống TXH lâm
thời). Sau đây là một số trờng hợp cụ
thể:
Trờng hợp 1: Xuất hiện ở cả phần
xng (chỉ ngời nói) và phần hô gọi (chỉ
ngời nghe): mình, ai. Đây là hiện

khách hồng lâu, nữ nhi, thục nữ, gái
bốn mùa. Ngợc lại, có những TXH
dùng để xng khi xuất hiện ở lời nam
(ngôi 1), nhng lại là từ dùng để hô gọi
khi xuất hiện ở lời nữ (ngôi 2): anh,
quân tử, trai nam nhi, trợng phu, anh
hào, anh hùng, trai thanh tân, khách.
Cố nhân (ngôi 1, nam) tha khách
hồng lâu (ngôi 2, nữ),
Chữ thiên nay đã trồi đầu hay
cha?
- Hồng lâu (ngôi 1, nữ) tha
khách Chơng Đài (ngôi 2, nam),
Chữ thiên sổ dọc đã dài phân minh.
(Chữ thiên sổ dọc là chữ phu, ý nói
đã có chồng)
3.2.3.4. Có trờng hợp vị trí giữa
các vai giao tiếp chuyển đổi: chàng (ngôi
2, nam), thiếp (ngôi 1, nữ). Nam tự
xng chàng (ngôi 1, nam), gọi nữ là
thiếp (ngôi 2, nữ)
- Con kiến đất leo cây thục địa,
Con ngựa trời ăn cỏ chỉ thiên,
Chàng (ngôi 2, nam) mà đối đặng
gái thuyền quyên (ngôi 1, nữ) xin theo
về?
- Con rắn mà lặn qua xà,
Con gà mà mổ bông kê,
Chàng (ngôi 1, nam) đà đối đợc,
thiếp (ngôi 2, nữ) phải về hôm nay.

gặp cách xng hô luôn đậm chất dân
gian chung cho mọi vùng miền (đây -
đó, chàng - thiếp, mình - ta, loan -
phợng).
Thiếp thơng chàng đừng cho ai biết
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008 29
Chàng thơng thiếp đừng để ai hay
Thế gian nhiều kẻ lắt lay,
Cực chàng chín rỡi cực thiếp đây
mời phần.
(2) Thể hiện đậm sắc thái địa
phơng Nghệ Tĩnh.
Sắc thái địa phơng Nghệ tĩnh thể
hiện ở tính mộc mạc, dân giã, thậm chí
hơi thô nhng lại gợi cảm cảm giác gần
gũi, thân thiết giữa những ngời tham
gia cuộc hát (ta - mự, anh - dì mình,
anh - mự xã, zê rô-cô bay).
Thuyền kia dời bến dời dằm,
Tình ta với mự trăm năm nhớ đời.
(3) Có tính uyên bác với những cách
xng hô nghiêng về chữ nghĩa, kinh
điển. Trong các lời hát, bên cạnh các từ
xng hô đậm chất dân gian truyền

gái này.
Phần hô gọi sử dụng 35 từ ngữ,
trong đó: 7 ĐTNX (bao gồm cả DT thân
tộc và các từ khác đợc sử dụng nh đại
từ): ai, anh, bạn, chàng, đó, mình,
ngời; 16 DT: anh hào, anh hùng, đông
quân, lang quân, nam nhi, nho sỹ,
khách, quân tử, tài tử, thầy đồ, (các)
thầy, trợng phu, văn nhân, văn nho,
chàng Kim, loan; 12 cụm DNXĐ: anh
kia, anh đi ở, bạn học trò, chàng niên
thiếu, chàng thanh tân, khách đờng xa,
khách tri âm, khách nhà nông, khách
Chơng Đài, khách văn chơng, ngời
thân thuộc, trai xinh.
Trong khi đó, ngoài cách nói khuyết
từ xng và/hoặc khuyết từ hô gọi, trong
767 lời hát, giới nam sử dụng 23 từ ngữ
dùng để xng và 49 từ ngữ dùng để hô
gọi. Cụ thể là:
Phần xng sử dụng 23 từ ngữ, trong
đó: 7 ĐTNX (bao gồm cả DT thân tộc và
các từ khác đợc dùng nh đại từ): anh,
ai, chàng, đây, mình, ta, tôi; 10 DT
(ngoài các DT thân tộc đợc dùng nh
đại từ đã nêu trên): anh hùng, anh hào,
cố nhân, khách, quân tử, sãi, trợng phu,
Kim Trọng, Vân Tiên, hạc; 6 DNXĐ:
khách cung trăng, ngời viễn khách,
khách giang hồ, rể nghèo, trai nam nhi,

đợc dùng để xng hô của giới nam (sự
chênh lệch này thể hiện rõ nhất ở phần hô
gọi với sự xuất hiện của các DNXĐ). Trong
quá trình giao duyên, ngoài những cách
xng hô quen thuộc thờng bắt gặp trong
ca dao, dân ca (anh - em, ta - mình, tôi -
nàng), các chàng trai Xứ Nghệ đã mạnh
dạn đa vào hệ thống TXH một loạt từ
ngữ mới thể hiện cách xng hô đa dạng,
phong phú và rất linh hoạt. Điều này cũng
dễ lí giải bởi lẽ dù là khách (đến tham gia
HPV) nhng do đặc thù giới, giới nam bao
giờ cũng tỏ ra bạo dạn, mạnh mẽ, chủ
động, tự tin. Mặt khác, giới nam cũng có
điều kiện đi nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều
phờng vải, nhiều bạn hát, do đó, hệ
thống TXH cũng thờng xuyên đợc bổ
sung. Còn giới nữ lại chủ yếu chỉ ở một
phờng vải cố định (trừ trờng hợp thay
đổi địa bàn sinh sống do đi lấy chồng) nên
hạn chế về điều kiện giao tiếp. Và do đó,
hệ thống TXH cũng khiêm tốn hơn nhiều
so với giới nam.
4.2.2. Từ xng hô của giới nữ hớng
tới sự chuẩn mực nhiều hơn giới nam
ở phần xng, ngoài cách dùng TXH
zero (50%), giới nữ sử dụng các đại từ
em (30%), thiếp (12%), tôi, ta, mình, ai
(6 %), hoặc một số DT Hán Việt thục
nữ, nữ nhi, thuyền quyên(1%), các từ

nàng(11%), bạn, ai, đó, mình, ta,
cô(5%); rất ít dùng từ Hán Việt ngời
thục nữ, nữ tài, tri âm, thuyền quyên
(2%) mà dùng cách gọi tên nôm na, gắn
với công việc, đặc điểm, hoặc mợn tên
các nhân vật văn học: cô gái bên sông,
cô gái bên bờ, chủ nhà, gái bốn mùa, gái
má đào, gái hát tài, ngời con gái,
ngời thắt vải lng xanh, ngời ngồi
tựa cạnh thềm, ngời mặc áo thay vai,
Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVII, số 1B-2008 31
ngời chân đạp tay đa, ngời kéo vải,
ngời giặt vải, ngời dệt vải, khách lầu
hồng, phờng, Nguyệt Nga, thậm chí
dùng từ địa phơng ả, o, cô ấy, cô bay,
mự, mự xã, dì mình, dì xã, đôi dì (6%
%); ngay cả từ Hán Việt cũng đợc gắn
với cánh gọi nôm na gái hữu tình, gái
thuyền quyên.
- Trăng lên có chiếc sao chầu,
Hỏi thăm mự xã đã ăn trầu ai cha?
Có thể thấy rằng thói quen của
ngời Việt là xng hô theo tôn ti, thứ
bậc. Đặc điểm này bắt đầu từ các cặp

V. Kết luận
HPV là một hoạt động giao tiếp đặc
thù vừa mang tính nghệ thuật cao
(thuộc về sinh hoạt văn hoá dân gian)
lại vừa chịu ảnh hởng bởi những nét
riêng của phơng ngữ Nghệ Tĩnh. Dù
xuất hiện ở dạng đơn (một lời) hay ở
dạng cặp trao đáp (thờng gồm một lời
trao và một lời đáp), các vai giao tiếp có
thể không phân biệt về tuổi tác, nghề
nghiệp, địa vị xã hội, nhng lại đợc
xác định trên cơ sở giới tính rất rõ: giới
nam và giới nữ. Mặt khác, đây là một
hình thức hát đối đáp giao duyên, do đó,
đặc điểm giới tính càng đợc bộc lộ qua
nhiều phơng diện: cách sử dụng từ
ngữ, cách chọn đề tài, hình ảnh, cách
cấu trúc câu hát
Nhận xét bao trùm nhất là yếu tố
GT không chỉ thể hiện trong bản thân
các TXH (ví dụ: chàng - thiếp; anh -
em) mà còn ở trong trong cách lựa
chọn TXH theo nguyên tắc ứng xử có
tính chất văn hoá truyền thống của
cộng đồng. Ngời nữ thờng xng em và
gọi ngời nam là anh nh một biểu hiện
của sự khiêm nhờng ở giới nữ trong sự
giao tiếp với vai nam. Việc tìm hiểu đặc
điểm GT qua hệ thống TXH trên đây
chỉ là một phần rất nhỏ để minh họa

[10] Nguyễn Đức Thắng, Về giới và ngôi ở những từ xng hô trong giao tiếp tiếng
Việt, Ngôn ngữ, số 2 (149)/2002, tr. 59-65. Summary

GENDER AND Personal pronouns IN folk-songs Vi Phuong vai
in Nghe Tinh

Vi phuong vai is one of the unconventional folk-songs type of the treasure folk-
songs in Nghe Tinh. In these words of songs there are personal pronouns referring
to singing roles: male and female. This class of words has its own gender
chracteristics and differences when functioning. This paper analysed profoundly
these differences.

(a)
Nghiên cứu sinh ngành ngôn ngữ, Trờng Đại học Vinh.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status