VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ HÀ
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI
TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT
(QUA HÀNH VI KHEN VÀ TIẾP NHẬN LỜI KHEN)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Hà Nội, năm 2013
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ HÀ
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ GIỚI
TRONG GIAO TIẾP TIẾNG VIỆT
(QUA HÀNH VI KHEN VÀ TIẾP NHẬN LỜI KHEN)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Lí luận ngôn ngữ
Mã số: 62 22 01 01
Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS Nguyễn Văn Khang
2. PGS.TS Nguyễn Thị Lương
Hà Nội, năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những tư liệu và số liệu trong luận
án là trung thực do tôi thực hiện. Đề tài nghiên cứu và các kết luận chưa được ai
công bố.
Tác giả luận án
Phạm Thị Hà
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Văn Khang và
PGS.TS Nguyễn Thị Lương đã dành thời gian cùng tâm huyết hướng dẫn tôi hoàn
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN 17
1.1. VẤN ĐỀ GIỚI TRONG NGÔN NGỮ 17
1.1.1. Xung quanh thuật ngữ “giới tính” và “giới” 17
1.1.2. Giới với tư cách là biến xã hội trong nghiên cứu ngôn ngữ 19
1.2. HÀNH VI KHEN VÀ TIẾP NHẬN LỜI KHEN 28
1.2.1. Một số vấn đề về hành vi ngôn ngữ 28
1.2.2. Hành vi khen 31
1.2.3. Hành vi tiếp nhận lời khen 37
1.2.4. Nghiên cứu hành vi khen và tiếp nhận lời khen ở Việt Nam 41
1.3. CÁCH TIẾP CẬN CỦA LUẬN ÁN 42
1.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 44
Chương 2. ĐẶC ĐIỂM HÀNH VI KHEN VÀ TIẾP NHẬN LỜI
KHEN TRONG TIẾNG VIỆT TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
45
2.1. ĐẶC ĐIỂM HÀNH VI KHEN TRONG TIẾNG VIỆT TỪ GÓC ĐỘ GIỚI 45
2.1.1. Khái niệm “khen” trong tiếng Việt 45
2.1.2. Mục đích, chức năng của hành vi khen trong tiếng Việt từ góc độ giới 47
2.1.3. Chủ đề khen trong tiếng Việt từ góc độ giới 50
2.1.4. Mức độ khen giữa các giới 53
2.1.5. Cấu trúc lời khen trong tiếng Việt từ góc độ giới 54
2.2. ĐẶC ĐIỂM HÀNH VI TIẾP NHẬN LỜI KHEN TRONG TIẾNG
VIỆT TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
59
2.2.1. Khái niệm “tiếp nhận lời khen” trong tiếng Việt 59
2.2.2. Mức độ tiếp nhận lời khen giữa các giới trong tiếng Việt 59
2.2.3. Cấu trúc tiếp nhận lời khen trong tiếng Việt từ góc độ giới 66
2.3. NHẬN XÉT CHUNG VỀ ĐẶC ĐIỂM HÀNH VI KHEN VÀ TIẾP
NHẬN LỜI KHEN TRONG TIẾNG VIỆT TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
75
2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 79
CỦA CON NGƯỜI TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
116
4.2.1. Đặc điểm chung về nội dung khen hình thức bên ngoài của con
người từ góc độ giới
116
4.2.2. Đặc điểm những nội dung khen cụ thể về hình thức bên ngoài
của con người từ góc độ giới
118
4.2.3. Đặc điểm về cách thức khen hình thức bên ngoài của con người
từ góc độ giới
126
4.3. ĐẶC ĐIỂM HÀNH VI TIẾP NHẬN LỜI KHEN VỀ HÌNH THỨC
BÊN NGOÀI CỦA CON NGƯỜI TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
137
4.3.1. Đặc điểm chung về cách thức tiếp nhận lời khen đối với hình
thức bên ngoài của con người từ góc độ giới
137
4.3.2. Đặc điểm cụ thể về cách thức tiếp nhận lời khen đối với hình
thức bên ngoài của con người từ góc độ giới
139
4.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 145
KẾT LUẬN 147
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO 152
PHỤ LỤC i
I. PHỤ LỤC 1: Các bảng thống kê, xử lí cụ thể i
II. PHỤ LỤC 2: Tư liệu ghi âm xii
III. PHỤ LỤC 3: Tư liệu phim xxxiv
IV. PHỤ LỤC 4: Tư liệu giao lưu trực tuyến giữa người của công
chúng và người hâm mộ
Bảng 2.9: 2.9a. Mức độ nhận được lời khen từ vợ, chồng
2.9b. Mức độ nhận được lời khen từ người yêu
Phụ lục 1
Bảng 2.10: 2.10a. Cách tiếp nhận lời khen từ bạn cùng giới
2.10b. Cách tiếp nhận lời khen từ bạn khác giới
Phụ lục 1
Bảng 2.11: 2.11a. Cách tiếp nhận lời khen của học sinh nam, nữ từ Thầy giáo
2.11b. Cách tiếp nhận lời khen của học sinh nam, nữ từ Cô giáo
Phụ lục 1
Bảng 2.12: 2.12a. Cách tiếp nhận lời khen của con trai, con gái từ Bố
2.12b. Cách tiếp nhận lời khen của con trai, con gái từ Mẹ
Phụ lục 1
Bảng 2.13: 2.13a. Cách tiếp nhận lời khen của em từ anh, chị cùng giới
2.13b. Cách tiếp nhận lời khen của em từ anh, chị khác giới
Phụ lục 1
Bảng 2.14: 2.14a. Cách tiếp nhận lời khen từ vợ, chồng
2.14b. Cách tiếp nhận lời khen từ người yêu
Phụ lục 1
Chương 3:
Bảng 3.1. Nội dung khen của người hâm mộ đối với nghệ sĩ từ góc độ giới Phụ lục 1
Bảng 3.2. Mức độ sử dụng biểu thức khen trực tiếp và gián tiếp của người hâm
mộ đối với nghệ sĩ từ góc độ giới
Phụ lục 1
Bảng 3.3. Các biểu thức khen trực tiếp của người hâm mộ đối với nghệ sĩ từ góc độ giới Phụ lục 1
Bảng 3.4. Mức độ sử dụng động từ trong biểu thức khen trực tiếp của người
hâm mộ đối với nghệ sĩ, từ góc độ giới
Tr. 90
Bảng 3.5. Mức độ sử dụng biểu thức khen gián tiếp của người hâm mộ đối với
nghệ sĩ từ góc độ giới
Bảng 3.6. Các kiểu hô (gọi) trong biểu thức khen của người hâm mộ đối với
Bảng 4.7. Biểu thức tiếp nhận lời khen về hình thức bề ngoài của con người từ
góc độ giới
Phụ lục 1DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Chương 2:
Biểu đồ 2.1: Mục đích, chức năng của hành vi khen trong tiếng Việt từ góc độ giới 50
Biểu đồ 2.2: 2.2a. Những chủ đề dùng để khen người cùng giới
2.2b. Những chủ đề dùng để khen người khác giới
52
52
Biểu đồ 2.3. Mức độ sử dụng lời khen giữa hai giới 53
Biểu đồ 2.4. Mức độ sử dụng lời khen trực tiếp và gián tiếp giữa hai giới 55
Biểu đồ 2.5: 2.5a. Mức độ nhận được lời khen từ bạn cùng giới
2.5b. Mức độ nhận được lời khen từ bạn khác giới
60
60
Biểu đồ 2.6: 2.6a. Mức độ nhận được lời khen của học sinh nam, nữ từ Thầy giáo
2.6b. Mức độ nhận được lời khen của học sinh nam, nữ từ Cô giáo
61
61
Biểu đồ 2.7: 2.7a. Mức độ nhận được lời khen của con trai, con gái từ Bố
2.7b. Mức độ nhận được lời khen của con trai, con gái từ Mẹ
64
64
Biểu đồ 2.8: 2.8a. Mức độ nhận được lời khen của em trai, em gái từ Anh
2.8b. Mức độ nhận được lời khen của em trai, em gái từ Chị
65
65
Biểu đồ 3.5. Mức độ sử dụng biểu thức khen gián tiếp của người hâm mộ đối với
nghệ sĩ từ góc độ giới
91
Biểu đồ 3.6. Các kiểu hô (gọi) trong biểu thức khen của người hâm mộ đối với nghệ
sĩ từ góc độ giới
94
Biểu đồ 3.7. Tình thái từ được sử dụng trong biểu thức khen của người hâm mộ đối
với nghệ sĩ từ góc độ giới
98
Biểu đồ 3.8. Cách tiếp nhận lời khen của nghệ sĩ đối với lời khen của người hâm mộ
từ góc độ giới
99
Biểu đồ 3.9. Các kiểu xưng - đáp trong hành vi tiếp nhận khen của nghệ sĩ đối với lời
khen của của người hâm mộ từ góc độ giới
109
Biểu đồ 3.10. Xưng – hô xứng vai và lệch vai trong tiếp nhận lời khen của nghệ sĩ đối
với lời khen của người hâm mộ từ góc độ giới
113
Chương 4:
Biểu đồ 4.1. Tỉ lệ khen trực tiếp và gián tiếp về hình thức bên ngoài của con người từ
góc độ giới
127
Biểu đồ 4.2. Biểu thức khen trực tiếp về hình thức bên ngoài của con người từ góc độ giới 128
Biểu đồ 4.3. Biểu thức khen gián tiếp về hình thức bên ngoài của con người từ góc độ giới 133
Biểu đồ 4.4. Yếu tố tình thái trong biểu thức khen về hình thức bên ngoài của con
người từ góc độ giới
134
Biểu đồ 4.5. Biểu thức tiếp nhận lời khen về hình thức bên ngoài của con người từ
góc độ giới
140
Theo đó, giới tác động vào hành vi khen và tiếp nhận lời khen. Nói cách khác, nếu
như trong ngôn ngữ học xã hội có “phong cách ngôn ngữ của mỗi giới” thì tất sẽ có
phong cách ngôn ngữ của mỗi giới ở hành vi khen và tiếp nhận lời khen. Tuy nhiên,
cho đến nay, mặc dù hành vi khen được nghiên cứu nhiều, nhưng ở Việt Nam lại
chưa có một đề tài, luận án nào nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống về tác động của
nhân tố giới đối với hành vi khen và tiếp nhận lời khen trong tiếng Việt. Đây là lí do
để chúng tôi lựa chọn vấn đề Đặc điểm ngôn ngữ giới trong giao tiếp tiếng Việt qua
hành vi khen và cách tiếp nhận lời khen làm đề tài luận án.
Cũng cần nhấn mạnh là, tách giới ra thành một nhân tố riêng để nghiên cứu,
luận án hoàn toàn không có ý định cô lập nhân tố này mà đây chỉ là một thủ pháp
làm việc, bởi, các nhân tố xã hội luôn tương tác, nhân tố này kéo theo nhân tố kia
làm nên một chùm tác động vào hoạt động giao tiếp của con người.
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU HÀNH VI KHEN VÀ TIẾP NHẬN LỜI
KHEN TỪ GÓC ĐỘ GIỚI
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về hành vi khen và tiếp nhận lời
khen từ góc độ giới
Cho đến nay, một trong những thành công lớn nhất của ngôn ngữ học xã hội ở
phương Tây là nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới (còn được gọi là
phương ngữ giới/giới tính). Theo đó, hành vi khen và tiếp nhận lời khen là một
trong những nội dung rất được quan tâm. Tuy nhiên, theo hiểu biết của chúng tôi, ở
phương Tây chỉ có những công trình nghiên cứu về hành vi khen và hồi đáp khen
nói chung; nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới, trong đó có đề cập đến
hành vi khen và hồi đáp khen/tiếp nhận lời khen mà chưa có công trình riêng nào
chuyên nghiên cứu về hành vi khen, hồi đáp khen từ góc độ giới. Vì thế, dưới đây,
chúng tôi điểm theo cách hệ thống hóa một số nội dung liên quan.
Thứ nhất, về mức độ sử dụng hành vi khen của mỗi giới
Có một câu hỏi đặt ra là đối với hành vi khen, ưu thế thuộc về giới nào, tức là
giới nào sử dụng nhiều hơn giới nào? Cho đến nay chưa thể có được những câu trả
lời toàn diện về vấn đề này, nhưng cũng đã có được một số nhận định như sau:
2
giới là một trong những nhóm đó.
3
– Phải chăng có mối quan hệ giữa quyền lực với lời khen? Nói cách khác, liệu
lời khen có hoạt động như một trò chơi quyền lực? Một lời khen có thể được coi
như mang tính chất bề trên nếu như người tiếp nhận lời khen cảm thấy rằng nó được
thực hiện như một phép khuyến khích chứ không phải dấu hiệu mong muốn một
mối liên kết hoặc xuất phát từ sự ngưỡng mộ chân thành? Khi giải thích lí do tại sao
mọi người thực hiện lời khen không thường xuyên hơn với nam giới, không ít ý
kiến cho rằng, nam giới thường nhìn nhận lời khen như là các hành vi đe dọa thể
diện như gây ngượng ngùng, bối rối, hoặc coi lời khen như là chiến lược mang tính
chất bề trên, đặt người nói ở vị trí có quyền thế.
Kết quả nghiên cứu của Woflson (1983) cho thấy, phần lớn lời khen được
thực hiện giữa những người phát ngôn cùng độ tuổi và cùng địa vị. Nếu các lời
khen xẩy ra trong các cuộc giao tiếp giữa những người không cùng địa vị thì
phần lớn lại xuất phát từ những người có địa vị cao hơn [157]. Điều này có vẻ
như trái ngược với các quan niệm phổ biến là những người ở địa vị thấp sẽ phải
sử dụng nhiều lời khen hơn đối với những người có địa vị cao. Tương tự như
vậy, ở New Zealand, các lời khen được thực hiện bởi những người bề trên xẩy ra
với tần suất cao hơn so với những người bề dưới. Trong đó, những lời khen liên
quan đến công việc, năng lực hoặc sự thành công thì có số lượng nhiều gấp hai
lần so với các chủ đề khác như vẻ bề ngoài hoặc vật sở hữu. Các lời khen của
những người có địa vị thấp thường chỉ xẩy ra khi những người tham gia giao tiếp
có mối quan hệ khá gần gũi và người đưa ra lời khen lớn tuổi hơn. Có lẽ, những
lời khen dành cho đối tượng có địa vị cao hơn dường như cũng đòi hỏi sự tự tin
từ phía người thực hiện hành vi này.
Tuy nhiên, cho đến nay, cũng chưa có nghiên cứu nào khảo sát mối tương tác
giữa giới và địa vị. Mặc dù mô hình tổng quát là, phụ nữ thực hiện nhiều lời khen hơn
với nam giới, nhưng nam giới thậm chí còn có khả năng thực hiện nhiều lời khen với
phụ nữ ở địa vị cao hơn. Dường như những người phụ nữ có địa vị cao hơn dễ lĩnh hội
các hành vi khen hơn so với nam giới cùng ở địa vị này. Bởi vì, trong xã hội nói chung,
nhạy cảm. Có thể nói, trong khi đàn ông không để ý thậm chí không thích nhận
được lời khen về ngoại hình thì nữ giới lại đặc biệt coi trọng các lời khen về vẻ bề
ngoài của mình. Kết quả khảo sát của Wolfson cho thấy, trong thói quen giao tiếp
5
của người Mĩ, nam giới hiếm khi đưa ra hoặc nhận được những lời khen về ngoại
hình từ những nam giới khác và cũng hiếm khi nhận được những lời khen này từ
phụ nữ, nên nhìn chung, đây không phải là một chủ đề thú vị đối với cả nam và nữ.
Tác giả cũng lưu ý thêm rằng, những lời khen như vậy thường có ở các nam giới
còn trẻ tuổi (hơn là nữ giới cùng độ tuổi này) và đối với nam giới có địa vị cao hơn
hoặc đang thực hiện một số công việc mang tính đặc thù thì dường như có phần
khắt khe hơn. Như vậy, giới trong quan hệ với tuổi, địa vị là biến xã hội quan trọng
trong việc lựa chọn chủ đề khen.
Thứ ba, về cách khen của mỗi giới
Nam và nữ khen như thế nào cũng là một nội dung của mối quan hệ giữa
hành vi khen và giới. Kết quả nghiên cứu đối với hành vi khen cho thấy có sự lặp đi
lặp lại đáng ngạc nhiên của cả chủ đề khen cũng như các từ ngữ chuyên dùng để
miêu tả các chủ đề này, đến mức chúng trở thành các mô thức. Dưới đây là một số
mô hình khen mà Manes và Wolfson đã tổng kết được qua tư liệu khảo sát ở Mĩ và
New Zealand [137]:
1/ NP + be/look + (Intensifier) + adj. Ví dụ: You look really lovely. (Trông
em thật đáng yêu!).
2/ (Intensifier) + like/love + NP. Ví dụ: I simply love that skirt (Đơn giản vì
mình thích chiếc áo sơmi ấy).
3/ Pro + be + (Intensifier) + (a) + Adj + NP/ Pro + be + a + (Intensifier) + Adj +
NP. Ví dụ: That's a really nice coat. (Đó là một chiếc áo khoác thật tuyệt).
Vì hành vi khen thể hiện những đánh giá mang tính chất tích cực, cho nên
mỗi hành vi khen phải bao gồm ít nhất một yếu tố ngôn từ mang tính chất tích cực
về nghĩa. Điều này thể hiện ở tần số xuất hiện cao (lặp đi lặp lại) của một số tính từ
và động từ. Chẳng hạn, kết quả nghiên cứu của Wolfson cho thấy 80% các lời khen
phụ thuộc chủ yếu vào các tính từ mang nghĩa tích cực. Ví dụ: Ở Mĩ, trong tổng số
của nam giới có cấu trúc ngôn từ theo kiểu “bâng quơ, phi cá nhân”. Trong khi đó, chỉ
1/5 số lời khen của nữ giới ở dạng thức này. Lí do là vì, nữ giới thường tập trung vào tiêu
điểm cá nhân và sử dụng nhiều chiến lược giao tiếp liên quan đến cá nhân hơn, đặc biệt
7
là đối với những phụ nữ khác. Vì vậy, nữ giới cũng thích mô hình “I (really) like/ love
NP” hơn so với PRO is (really) (a) adj NP. Trong khi đó, nam giới thì ít sử dụng hai mô
hình này. Herbert đã đưa ra những nhận xét như sau về hành vi khen xét từ góc độ giới:
1/Trong lời khen của nữ giới thường đi kèm hành vi rào đón; 2/ Nam giới thường khen
ngôi thứ ba nhiều hơn (người không trực tiếp trong cuộc thoại); 3/ Nữ đưa ra lời khen
nhiều hơn nam và không quan tâm đến giới tính của người nghe; 4/ Nam ít đưa ra lời
khen hơn nữ nhất là khen đối tượng cùng giới (nam giới) [110].
R. Lakoff là người có công đưa ra nhận xét về việc sử dụng ngôn ngữ của mỗi
giới, trong đó có lời khen. Theo Lakoff, trong lời khen của nữ giới thường có các
tính từ như: adorable, charming, lovely, divine,… (thật đáng ngưỡng mộ, quyến rũ,
đáng yêu, siêu phàm), còn trong lời khen của nam giới lại thường là các tính từ
trung tính như: good, great…(tuyệt, tuyệt vời, tốt) [129].
Tại Trung Quốc, khảo sát thực tế về lời khen trong tiếng Hán hiện đại tại Côn
Minh, các tác giả cho thấy nam giới thường sử dụng lời khen “có ẩn ý”, còn lời khen
của nữ giới thường kèm theo phần giải thích cho những lời khen của họ. Một nghiên
cứu khác ở Trung Quốc cũng cho thấy kết quả tương tự: 80.5% các hành vi khen tường
minh được nữ giới chọn lựa để thực hiện với những người cùng giới khác, trong khi đó
số liệu thu được ở nam giới là 57.2%; 9% hành vi khen “có ẩn ý” được nam giới đưa ra
với đối tượng cùng giới và chỉ có 2.3% các hành vi khen “có ẩn ý” được đưa ra giữa nữ
giới. Nam giới cũng chọn cách không phản ứng lại thay vì chấp nhận hoặc từ chối lời
khen (28%), trong khi đó số nữ giới chọn cách này là 12.8% [163].
Năm 2007, Nhà xuất bản Khoa học Trung Quốc ấn hành cuốn sách của tác giả
Lại Canh Sơn (Lai Gengshan) bằng tiếng Anh: "Aprroaching Gender in Chinese
Compliments" (Hán ngữ xưng tán ngữ trung đích tính biệt nghiên cứu"; Nghiên cứu
giới tính trong lời khen ở tiếng Hán). Cuốn sách này được xuất bản trên cơ sở của luận
án tiến sĩ cùng tên của tác giả. Sử dụng phương pháp dân tộc học để nghiên cứu giới
Kết quả điều tra cho thấy:
– Nam thường khen hơn là nhận; nam hay khen bạn thân nữ, đồng nghiệp nữ,
người yêu/vợ để tỏ sự quan tâm thân thiện; nam thích được sếp, đồng nghiệp, thầy
cô, bạn bè và người yêu/vợ khen họ về trí tuệ, kĩ năng và vật sỡ hữu.
9
– Nữ cũng thường khen nhiều hơn nhận để thể hiện sự thán phục, cổ vũ, động
viên hay quan tâm thân thiện và thuận lợi hơn trong giao tiếp; nữ thường khen bạn,
đồng nghiệp cùng giới cùng lứa về ngoại hình, phục trang, vật sở hữu, cá tính,
người thân, sức khỏe; đối với nam, tùy theo tuổi, tình trạng hôn nhân, thời gian
quen biết, mức độ thân sơ, nữ thường chọn những chủ đề về trí tuệ, kĩ năng, phục
trang, vật sở hữu, sức khỏe, người thân để khen.
– Trong quan hệ giữa nam – nam, nội dung khen thường là vật sở hữu, sức khỏe,
kĩ năng, người thân. Đối với bạn thân nam, đồng nghiệp nam cùng lứa, người quen
nam lớn hoặc nhỏ hơn, chủ đề khen được mở rộng hơn về trí tuệ, cá tính, phục trang.
– Trong quan hệ giữa nữ – nữ, những chủ đề: vật sở hữu, phục trang, ngoại
hình, sức khỏe, người thân, kỹ năng, cá tính được chọn nhiều để khen. Cũng như
nam, nữ tỏ ra rất thận trọng khi khen sếp dù lớn hoặc nhỏ tuổi hơn.
– Trong quan hệ nam– nữ, nam thường khen nữ về kĩ năng, cá tính, ngoại hình,
phục trang, vật sở hữu, người thân, sức khỏe và nam cũng hạn chế khen sếp nữ dù
người đó lớn hoặc nhỏ tuổi hơn. Nam cũng ít khi khen người lạ dù đó là cùng giới.
– Trong quan hệ nữ – nam, nữ thường chọn nội dung: sức khỏe, trí tuệ, kĩ
năng, vật sở hữu để khen nam. Đối với nam cùng lứa tuổi, hầu như nữ rất ít trực tiếp
khen về ngoại hình và phục trang như nữ vẫn thường thực hiện đối với quan hệ nữ -
nữ. Nữ cũng hết sức hạn chế khen sếp nam và không thích khen nam lạ mặt.
– Cấu trúc phổ biến nhất mà cả nam lẫn nữ thường dùng khen là cấu trúc có
chủ ngữ, so sánh. Tùy theo mức độ thân sơ, tuổi tác, địa vị của đối tượng, người nói
dùng thêm câu không chủ ngữ và khen tường minh.
– Các vị từ mô tả phổ biến trong lời khen là: coi, nhìn, coi bộ, bảnh, ngộ, đã,
đặng và vị từ toàn dân dùng kèm với từ mức độ: ghê, ác, dữ, hết sức, thiệt và từ
mức độ toàn dân.
năng trí tuệ; 2/ Ở những đề tài riêng tư cá nhân, nữ giới có xu hướng sử dụng lời
khen thường xuyên hơn; 3/ Trong giao tiếp, nữ giới thường biểu hiện tính mềm
mỏng, nhẹ nhàng, khiêm nhường với mong muốn giữ hòa khí, duy trì và phát triển
mối quan hệ phát triển liên nhân. Nam giới lại trọng tính thông tin, nhấn mạnh đến
việc giải quyết vấn đề, thích tạo ra không khí cạnh tranh trong giao tiếp và hướng
11
tới sự tôn trọng người đối thoại hơn là ý muốn giao kết theo kiểu thân hữu; 4/ Cách
tiếp nhận lời khen cho thấy nữ giới thường lịch sự trong giao tiếp xã hội [1]. Những
nhận xét này thực sự là những đóng góp đáng kể của luận văn. Tuy nhiên, như trên
vừa nêu, do luận văn vẫn chỉ coi giới cũng chỉ là một trong những nhân tố xã hội và
hướng chủ yếu vào lịch sự, mà bản chất của hành động khen là lịch sự, nên những
nhận xét cũng mới chỉ dừng lại ở đặc tính chung.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN
Mục đích của luận án này là: Thông qua việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ
giới ở hành vi khen và tiếp nhận lời khen trong tiếng Việt, luận án góp phần vào
minh chứng cho lí thuyết của ngữ dụng học về hành vi ngôn ngữ, lí thuyết của ngôn
ngữ học xã hội về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới, đồng thời góp phần vào
nghiên cứu đặc điểm của giao tiếp tiếng Việt nói chung, từ góc độ giới nói riêng.
Từ mục đích này, luận án đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu như sau:
1) Giới thiệu, hệ thống hóa một số nội dung cơ bản về lí thuyết giao tiếp ngôn
ngữ liên quan đến ngữ dụng học (như lí thuyết hành vi ngôn ngữ) và liên quan đến
ngôn ngữ học xã hội (như mối quan hệ giữa ngôn ngữ và giới)
2) Đưa ra một cái nhìn tổng thể về hành vi khen trong giao tiếp ngôn ngữ nói
chung và tiếng Việt nói riêng bằng cách phân tích, khảo sát và chỉ ra các đặc điểm
ngôn ngữ giới của hành vi khen và tiếp nhận lời khen trong giao tiếp tiếng Việt.
3) Khảo sát, nghiên cứu hai trường hợp cụ thể về đặc điểm ngôn ngữ giới ở
hành vi khen và tiếp nhận lời khen trong giao tiếp tiếng Việt:
– Khảo sát hành vi khen và tiếp nhận lời khen của một nhóm xã hội mới xuất
hiện ở Việt Nam khoảng mươi năm trở lại đây, đó là, tương tác giao tiếp giữa người
hâm mộ với người của công chúng (chủ yếu là các nghệ sĩ): Đặc điểm ngôn ngữ
tôi sử dụng chủ yếu là mẫu ngẫu nhiên. Lí do là vì phạm vi tư liệu rộng và nhiều,
nếu chọn mẫu chú ý sẽ có thể làm hạn chế tư liệu nên chúng tôi sử dụng mẫu ngẫu
nhiên để có cho nguồn tư liệu được phong phú hơn.
Các phương pháp và thủ pháp trên giúp cho việc điều tra, khảo sát và phân
tích sự phân tầng xã hội trong sử dụng ngôn ngữ. Sự phân tầng này được thể hiện ở
13
các tầng lớp xã hội khác nhau như các nhóm tuổi, giới, nghề nghiệp, địa vị, thu
nhập, giáo dục, Mặc dù luận án tập trung vào nhóm giới, nhưng thực tế không cô
lập nhân tố giới với các nhân tố khác. Nói cách khác, tách nhân tố giới chỉ là cách
làm việc, còn thực tế, coi giới là nhân tố trung tâm trong mối quan hệ với các nhân
tố khác để xem xét hành vi khen và tiếp nhận lời khen.
2) Nghiên cứu trường hợp: Luận án này sử dụng cách khảo sát trường hợp:
(i) Trường hợp khảo sát nhóm (phân tầng) là hành vi khen và tiếp nhận lời
khen ở những người của công chúng;
(ii) Trường hợp khảo sát nội dung là hành vi khen và tiếp nhận lời khen về
hình thức bên ngoài của con người.
3) Các phương pháp và thủ pháp khác được sử dụng trong luận án này: phân
tích diễn ngôn, quy nạp, diễn dịch, thống kê, miêu tả, phân tích hệ thống.
5. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU
1) Đối tượng nghiên cứu, khảo sát của luận án này là hành vi khen, tiếp nhận
lời khen được biểu hiện bằng ngôn từ (bằng lời). Các biểu hiện bằng cử chỉ (phi lời)
như bắt tay, mỉm cười, ra dấu hiệu, nháy mắt, tạm gác lại, không được xem xét
đến trong luận án này.
2) Tư liệu mà chúng tôi thu thập chủ yếu theo bằng hai nguồn là giao tiếp nói
và giao tiếp viết.
- Đối với tư liệu từ giao tiếp nói, luận án tiến hành thu thập tư liệu bằng cách
ghi âm, quan sát ghi chép và tiến hành phỏng vấn.
- Luận án có sử dụng tư liệu đã được cho phép thuộc chương trình điều tra
vào những năm 90 của thế kỉ XX về ngôn ngữ học xã hội (hiện đang lưu tại Phòng
Ngôn ngữ học xã hội, Viện Ngôn ngữ học). Toàn bộ các ghi âm đã được chuyển từ