i
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VĂN ĐÔN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐIỆN TÍN
HÀNG HẢI TIẾNG ANH TRONG
NGÀNH HÀNG HẢI VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ
HÀ NỘI - 2016
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ...................................................................................................... i
CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU .............................................................................. iv
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU ....................................................................... vi
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐIỆN TÍN HÀNG
HẢI VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN ...........................................................5
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu điện tín hàng hải ..............................................5
1.2. Cơ sở lý luận ........................................................................................................8
1.3. Tiểu kết...............................................................................................................46
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ ĐIỆN TÍN HÀNG HẢI VỀ CẤU
TRÚC VĨ MÔ ..........................................................................................................48
2.1. Nhận diện văn bản điện tín hàng hải ..................................................................48
ĐTATHH
ĐTDVTT
ĐTDS
ĐTHH
ĐTTTHH
LATS
NNĐ
NSĐ
PTNV
TNT
THT
Tr.
Tiếng Anh
A
O
V
S
Od
Oi
VISHIPEL
GMDSS
IMO
ITU
UT
GMT
Ví dụ
[1]
I am a student
Số thứ tự trong tài liệu tham khảo
Giờ quốc tế
vi
DANH MỤC BẢNG
Danh mục Bảng:
Bảng 2.1. Cấu trúc vĩ mô của văn bản điện hàng hải âm ..........................................54
Bảng 2.2. Cấu trúc vĩ mô thư tín thương mại và điện tín hàng hải ...........................73
Bảng 2.3. Tỉ lệ các loại tỉnh lược theo quan điểm của Quirk ...................................75
Bảng 2.4. Tần suất phương tiện thế trong điện tín hàng hải .....................................77
Bảng 2.5. Tần suất liên tố trong điện tín hàng hải ...................................................78
Bảng 2.6. Tần suất sử dụng các chiếu tố ...................................................................79
Bảng 2.7. Thống kê tần suất xuất hiện chiếu tố ........................................................92
Bảng 3.1. Tần suất thực từ và hư từ trong văn bản điện tín hàng hải .......................98
Bảng 3.2. Tần suất xuất hiện các loại danh từ .......................................................100
Bảng 3.3. Tần suất danh từ riêng ............................................................................101
Bảng 3.4. Tần suất danh từ chung ...........................................................................101
Bảng 3.5. Thời của động từ trong điện tín tiểu loại thông tin hàng hải ................105
Bảng 3.6. Thời động từ trong điện tín tiểu loại dịch vụ thời tiết ............................107
Bảng 3.7. Thời của động từ trong điện tín hàng hải an toàn ...................................108
Bảng 3.8. Thức trong các loại văn bản điện tín hàng hải ........................................110
Bảng 3.9. Tần suất giới từ trong điện tín hàng hải ..................................................111
Bảng 3.10. Đặc điểm danh từ ghép trong điện tín hàng hải tiếng Anh ...................117
Bảng 3.11.Thống kê loại từ tắt ................................................................................119
Bảng 3.12. Kiểu cấu trúc ghép câu trong điện tín hàng hải ...................................122
Bảng 3.13. Loại câu trong điện tín hàng hải theo quan điểm của Quirk ................123
Bảng 3.14. Loại cú trong điện tín hàng hải theo quan điểm của Quirk ..................124
Bảng 3.15. Đặc điểm cú SV trong điện tín hàng hải ..............................................127
Bảng 3.16. Đặc điểm cú SVC trong điện tín hàng hải ...........................................128
Bảng 3.17. Đặc điểm kiểu cú SVA trong điện tín hàng hải ....................................129
Sơ đồ 2.2. Phân loại điện tín hàng hải.......................................................................58
Sơ đồ 2.3. Tóm tắt quy trình phát điện tín ...............................................................59
Sơ đồ 2.4. Tóm tắt quy trình ĐTHH âm và dương ...................................................60
1
MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Thông tin liên lạc trên biển đặc biệt quan trọng đối với việc đảm bảo một
chuyến đi biển an toàn. Nó được thực hiện bằng nhiều hình thức, phương tiện khác
nhau và mỗi loại lại có vai trò, thế mạnh nhất định. Khi tàu gần nhau, người ta sử
dụng lời nói. Khi ở vị trí xa nhau nhưng quan sát được bằng mắt, phương tiện phi
ngôn ngữ như cờ hiệu, đuốc hiệu hay pháo sáng được sử dụng. Khi ở khoảng cách
xa không thể quan sát bằng mắt, người ta phải sử dụng phương tiện duy nhất là điện
tín hàng hải (ĐTHH) dưới dạng chữ viết.
Năm 1973, Ủy ban An toàn hàng hải [126, tr.12] đã chọn tiếng Anh làm ngôn
ngữ giao dịch trong ngành hàng hải. Do trình độ giao tiếp bằng tiếng Anh của thủy
thủ còn hạn chế và thủy thủ lại nói thứ tiếng mẹ đẻ khác nhau nhiều khi xảy ra sự
bất đồng trong giao tiếp. Để khắc phục vấn đề này, Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO
- International Maritime Organization) cho xuất bản cuốn cẩm nang “Từ vựng hàng
hải tiêu chuẩn” (Standard Marine Navigational Vocabulary). Cuốn sách giới thiệu
các câu chuẩn mực đối với các tình huống giao tiếp và yêu cầu thủy thủ phải nói
theo đúng như thế. Tuy vậy, IMO mới chỉ giải quyết được khó khăn khi giao tiếp
bằng khẩu ngữ. Hiện nay việc soạn thảo ĐTHH bằng tiếng Anh dưới dạng chữ viết
còn bỏ trống các quy định nên việc soạn điện tín hết sức tùy tiện, dễ gây hiểu nhầm
dẫn đến tổn thất hàng hải. Việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ ĐTHH tiếng Anh để
biển với nhau và với đất liền. Để đảm bảo tính khách quan và các bức ĐTHH thuộc
ngành hàng hải Việt Nam, chúng tôi sưu tầm các bức ĐTHH này từ đài phát vô
tuyến hàng hải ven bờ biển, tàu biển trên vùng biển Việt Nam và từ thuyền trưởng
và nhân viên người Việt Nam công tác tại đài phát vô tuyến điện ven biển trực tiếp
làm công việc đọc và soạn điện tín. Cụ thể là các bức điện được nhận từ giám đốc
đài vô tuyến ven bờ khu vực Bắc Bộ Inmarsat Hải Phòng.v.v… và các cán bộ công
tác trên các tàu như M/S Maple; M/S Mashall,: M/S Double Providence.v.v…trong
các năm 2010, 2011,2012,2013. Từ nguồn ngữ liệu trên, chúng tôi lựa chọn được
1530 bức điện chủ yếu có kèm văn bản phục hồi từ NNĐ. Đối với một số bức điện
không có bản phục hồi, chúng tôi hợp đồng với nhân viên công ty dịch vụ thông tin
hàng hải và thuyền trưởng công ty vận tải biển đang nghỉ phép trên đất liền phục
hồi toàn văn bức điện.
Theo quy trình soạn điện tín [123, tr.96], người soạn điện (NSĐ) phải lập một
văn bản đầy đủ sau đó dùng các thủ pháp ngôn ngữ học lược bỏ những phần có thể
3
hiểu ngầm. Văn bản lưu hành là văn bản siêu ngắn gọn. Khi nhận được điện tín,
người nhận điện (NNĐ) phải phục hồi bức điện về nguyên dạng ban đầu. Trong
thực tế, quy trình này chỉ áp dụng trong đào tạo và giai đoạn thực tập. Khi có kinh
nghiệm, NSĐ chỉ hoạch định sẵn trong đầu rồi soạn ngay ra văn bản điện đã rút
ngắn. NNĐ cũng đọc hiểu ngay nội dung văn bản điện và chỉ tái lập các bản điện
quan trọng để phục vụ khiếu nại hay các vấn đề liên quan đến pháp lý. Các nhà
chuyên môn hàng hải gọi văn bản giao dịch là điện tín dương và văn bản phục hồi là
điện tín âm. Luận án lấy ngữ liệu khảo sát là 1530 văn bản điện tín dương. Mặc dù
vậy, do luận án nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ có liên quan đến câu nên chúng tôi
dựa vào điện tín âm để thống kê loại câu và xác lập cấu trúc đầy đủ của nó. Để ngắn
gọn và tránh lặp lại từ, trong luận án này, chúng tôi dùng thuật ngữ điện tín hàng
hải có hàm ý trong ngành hàng hải Việt Nam và cụm từ “ nghiên cứu điện tín hàng
hải” được sử dụng thay cho “nghiên cứu ngôn ngữ điện tín hàng hải”
6.
Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án
Về lí thuyết: Luận án chứng minh điện tín hàng hải là một tiểu loại thư tín
thương mại đặc biệt không bao gồm các yếu tố lịch sự rào đón như thường thấy
trong thư tín thương mại thông thường khác. Điện tín hàng hải là một loại văn bản
rút ngắn điển hình ở cấu trúc vĩ mô và vi mô. Việc rút gọn được thực hiện triệt để, ở
vi mô, điện tín hàng hải chủ yếu chỉ giữ lại từ vựng quan trọng và việc rút gọn được
thực hiện tới cấp độ kí tự trong việc sử dụng từ tắt,một đặc điểm phổ biến trong văn
bản điện tín hàng hải. Ở vĩ mô, điện tín hàng hải bao gồm một đoạn văn chỉ có
thành phần triển khai. Các thành phần khác trong cấu trúc vĩ mô được lược bỏ.
Về thực tiễn: Kết quả của luận án là cơ sở để biên soạn cẩm nang ĐTHH
chuẩn hóa, giúp rút ngắn quá trình đào tạo và biên soạn điện. Ngoài ra, luận án còn
hữu ích đối với các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực thư tín nói chung và ĐTHH
nói riêng. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp rút ngắn văn bản điện một cách khoa học hơn
và người nhận điện sẽ đọc hiểu chính xác hơn. Ngoài ra, việc rút ngắn văn bản điện
còn giúp chủ tàu giảm được tiền cước phải trả và giúp thuyền trưởng đọc hiểu
nhanh nội dung văn bản điện tín để kịp ra quyết định nhanh chóng và kip thời.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài các phần Mở đầu và Kết luận, luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu ngôn ngữ điện tín hàng hải và cơ
sở lí luận của luận án
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ điện tín hàng hải về cấu trúc vĩ mô
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ điện tín hàng hải về cấu trúc vi mô
5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐIỆN TÍN HÀNG HẢI VÀ CƠ SỞ
Việc nghiên cứu thư tín thương mại nói chung đã thu hút được giới nghiên cứu
ngôn ngữ học Việt Nam chủ yếu chỉ từ thời kỳ sau Đổi mới (1986) do yêu cầu của
nền kinh tế thị trường. Có thể nêu một số tác giả tiêu biểu như sau:
Hoàng Anh [1], trình bày chi tiết văn bản, kết cấu văn bản và phân loại thư tín
và thư công vụ. Đây là cuốn sách tham khảo quý đối với những nghiên cứu chuyên
sâu về văn bản, kết cấu văn bản. Ngoài ra, cuốn sách còn cung cấp cơ sở lí thuyết để
phân biệt thư tín công vụ với thư từ giao dịch thương mại.
Nguyễn Trọng Đàn [23] viết luận án tiến sĩ nghiên cứu “Phân tích diễn ngôn
thư tín thương mại”.Luận án đã phân tích đối chiếu một số đặc điểm về ngữ vực của
thư tín giữa tiếng Anh và tiếng Việt.
Nguyễn Đức Hoạt [105],trong luận án tiến sĩ“Politeness Markers in
Vietnamese requests”(Chỉ dấu lịch sự trong lời đề nghị tiếng Việt) đã phân tích sự
khác biệt về một số chiến lược sử dụng câu để thể hiện chiến lược lịch sự trong diễn
ngôn thương mại tiếng Việt và tiếng Anh.
Trần Thị Thu Hương [44] nghiên cứu chi tiết, phân loại thư tín. Đây là cuốn
sách cung cấp cho độc giả cơ sở để phân biệt thư từ, thư công vụ và thư tín cũng
như điện tín. Cuốn sách [1] và [44] hiện được sử dụng làm giáo trình giảng dạy
trong một số trường đại học và học viện hành chính.
Nguyễn Thành Lân [50] đã bảo vệ luận án tiến sĩ “Phương pháp xây dựng và
chuyển dịch văn bản thương mại Anh- Việt, Việt – Anh”, nghiên cứu nguyên tắc và
mô hình xây dựng văn bản thư tín thương mại bằng tiếng Anh dành cho người
Phương Đông.
Nguyễn Xuân Thơm [68] trong luận án tiến sĩ “Các yếu tố ngôn ngữ trong
đàm phán thương mại quốc tế (Anh - Việt đối chiếu).” đã so sánh đối chiếu đặc
điểm về ngữ vực bằng tiếng Anh và tiếng Việt trong đàm phán thương mại.
Lê Hùng Tiến [70], trong luận án tiến sĩ “Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật
pháp tiếng Việt”, đã phân tích diễn ngôn văn bản luật pháp, trong đó có các văn bản
hợp đồng thương mại.
8
Cuốn “English for nautical students and shipofficers” (Tiếng Anh dành cho sinh
viên hàng hải và sĩ quan tàu biển) [124] do Nguyễn Tường Luân biên soạn, bao gồm
một số đoạn đọc hiểu tiếng Anh hàng hải, trong đó có một số bức ĐTHH. Đây cũng chỉ
là tài liệu giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên hàng hải chứ không phải là
một nghiên cứu ngôn ngữ học.
Cuốn “Ship’s correspondence” (Thư- Điện- Kháng cáo) [125] do Nguyễn Tường
Luân biên soạn năm 1991 là cuốn sách sưu tầm các bức thư tín hàng hải, ĐTHH và
kháng cáo hàng hải cũng chỉ dùng làm tài liệu giảng dạy.
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Khái niệm diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
1.2.1.1. Khái niệm diễn ngôn
Khi nghiên cứu văn bản, các nhà nghiên cứu đều thấy cần thiết phải phân biệt
hai khái niệm “ văn bản” và “ diễn ngôn”, nhưng đây là công việc hết sức khó khăn
và còn đang tranh luận chưa dứt. Hiện nay có hai nhóm quan điểm. Nhóm quan
điểm thứ nhất cho rằng hai khái niệm này có thể dùng thay cho nhau. Nhóm quan
điểm ngược lại cho rằng hai thuật ngữ này không thể đồng nhất. Chúng tôi xin bắt
đầu bằng việc phân tích khái niệm “văn bản” như sau:
Việc nghiên cứu văn bản (text) với tư cách là một đơn vị ngôn ngữ trên câu
được bắt đầu bởi J.R Firth - nhà nghiên cứu ngôn ngữ người Anh. Đến nay đã có
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới vấn đề này, chẳng hạn, Haris (1952),Mitchell
(1957),Halliday và Hasan (1976),G.Brown và G.Yule (1983) I.R.Galperin (1987),
David Nunan (1993), Hoàng Văn Vân (2006). Dưới đây là một số định nghĩa về
văn bản được dẫn theo Diệp Quang Ban [5, tr.5]:
Từ điển Bách khoa thư : “ Văn bản là (1) một quãng viết hay phát ngôn, lớn hay
nhỏ, mà do cấu trúc đề tài chủ đề của nó hình thành nên một đơn vị, loại như một
truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường, v.v… (2) Văn học: trước hết
được coi như một tài liệu viết, thường đồng nghĩa với sách… (3) Trong phân tích diễn
ngôn, đôi khi được đánh đồng với ngôn ngữ viết, còn diễn ngôn thì được dành cho
làm tăng hiệu quả giao tiếp. Văn bản viết cũng có những nét khác biệt. Ngôn ngữ
được tổ chức tốt hơn, người tạo ra văn bản không chịu áp lực lượt lời, v.v…và đặc
10
biệt hơn là có thể nhấn mạnh bằng các thủ pháp như gạch chân, in nghiêng, chữ viết
hoa hay viết tắt.
Quan điểm đồng nhất hai thuật ngữ văn bản và diễn ngôn cũng có những lý do
thuyết phục vì chúng đều được tạo ra trong một ngữ cảnh nhất định và đều nhằm đạt
được một mục đích nhất định. Chẳng hạn, ở văn bản nói người ta nhấn mạnh bằng
ngữ điệu thì trong văn bản viết bằng cách gạch chân hay in nghiêng. Ví dụ: Người
phát biểu tại cuộc họp quan trọng đã chuẩn bị viết sẵn bài phát biểu để đọc. Đây là
sự kết hợp cả hai loại văn bản.
Như vừa trình bày, khi đối tượng đang được tranh luận ở hai dạng thức khác
nhau là nói và viết thì lẽ dĩ nhiên sẽ có những nét khác biệt, nhưng tựu trung chúng có
cùng chức năng giao tiếp, tuy không thể trùng khít nhau được về mọi phương diện.
Chúng tôi dựa theo quan điểm của Halliday và Hasan coi hai thuật ngữ văn bản và
diễn ngôn chỉ là đồng nghĩa để phân tích văn bản ĐTHH. Như vậy trong luận án này,
chúng tôi dùng hai thuật ngữ này như nhau.
1.2.1.2. Phân tích diễn ngôn
Theo Nguyễn Hòa [34, tr.13], sự phân tích diễn ngôn mới phát triển khoảng 50
năm trở lại đây, đặc biệt mạnh mẽ vào những năm gần đây. Tác giả nêu rằng phân
tích diễn ngôn trải qua hai giai đoạn phát triển là ngữ pháp văn bản và hậu ngữ
pháp văn bản [34, tr.14]. Ở giai đoạn phát triển ban đầu, vấn đề được tập trung
nghiên cứu chủ yếu là liên kết (Cohesion). Ở giai đoạn sau, các nhà nghiên cứu chú
trọng đến vấn đề mạch lạc và cấu trúc của văn bản và vấn đề này được gọi là phân
tích diễn ngôn (Discourse analysis). Thực tế, sự ra đời của phân tích diễn ngôn là
một tất yếu khách quan khi mà việc nghiên cứu cấu trúc câu độc lập đã đạt đến mức
hoàn chỉnh và trở thành chật hẹp trong cách nhìn là đối tượng nghiên cứu của ngôn
ngữ học. Thực tế đòi hỏi phải có đối tượng nghiên cứu lớn hơn câu và những yếu tố
tích diễn ngôn phê phán nghiên cứu mối quan hệ xã hội theo quan hệ quyền – thế, các
quan hệ không bình đẳng trong diễn ngôn. Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp
phân tích toàn bộ một chỉnh thể diễn ngôn dựa trên mạch lạc. Ngôn ngữ học xã hội
tương tác tập trung vào việc sử dụng ngôn ngữ và miêu tả ngữ cảnh mà ở đó ngôn ngữ
được sử dụng. Đường hướng biến đổi ngôn ngữ xây dựng trên giả thiết diễn ngôn có
tính tổ chức và đi sâu xem xét sự đa dạng của các biến từ vựng, biến ngữ pháp trong
12
một hệ thống chặt chẽ.
Theo Nguyễn Hòa [34, tr.156], các đường hướng phân tích diễn ngôn đều đặt
trọng tâm vào nghiên cứu ngôn ngữ hành chức trong mối quan hệ với ngữ cảnh và
có chung cơ sở lý luận là hoặc lấy cấu trúc làm xuất phát điểm để đi đến chức năng
hoặc ngược lại.
Như trên đã trình bày, mỗi đường hướng phân tích diễn ngôn đều có những giá
trị riêng tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu cụ thể. Do luận án nghiên cứu đối
tượng là văn bản ĐTHH ở dạng viết và có chung một hoàn cảnh giao tiếp trên biển
nên các đường hướng nghiên cứu hành động ngôn từ như đường hướng dụng học,
dân tộc học giao tiếp, Ngôn ngữ học xã hội tương tác hay phân tích hội thoại không
phù hợp và chỉ có giá trị tham khảo. Văn bản ĐTHH sử dụng ngôn ngữ trong lĩnh
vực chuyên ngành công nghiệp dịch vụ hẹp nên ngôn ngữ mang phong cách trung
tính, đặc trưng văn hóa không rõ ràng, quan hệ giữa người soạn điện và người nhận
điện là bình đẳng vì đây là lĩnh vực thương mại hợp tác cùng có lợi. Vì vậy, các
đường hướng nghiên cứu phân tích phê phán và các đường hướng có liên quan đến
tâm lý hay văn hóa chỉ được tham khảo khi triển khai nghiên cứu luận án này.
Đề tài luận án này mang tính ứng dụng cao trong lao động sản xuất. Mục
đích cuối cùng là xác lập được các mô hình điện tín tiêu chuẩn dựa trên đặc điểm
ngôn ngữ của các văn bản ĐTHH đã có. Đối tượng nghiên cứu của luận án là các
văn bản viết đã có sẵn và chúng tôi phân tích ngôn ngữ bề mặt trong các văn bản
này chứ không đi sâu nghiên cứu quá trình tạo dựng văn bản. Sau khi nghiên cứu từ
văn bản viết nên không có yếu tố âm thanh của người sử dụng ngôn ngữ mà chỉ có
hình thức ngôn ngữ. Như vậy, theo đường hướng này, chúng tôi tập trung phân tích
từ vựng và ngữ pháp của văn bản ĐTHH.
Kết quả phân tích diễn ngôn ĐTHH theo đường hướng biến đổi ngôn ngữ giúp
chúng tôi nắm vững đặc điểm ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản ĐTHH, cơ sở
để rút ra được mô hình điện tín theo mục đích đề ra khi triển khai đề tài luận án..
1.2.3.2. Đường hướng phân tích diễn ngôn tổng hợp
Phương pháp phân tích diễn ngôn tổng hợp (integrated method) được Nguyễn
Hòa đề xuất trong cuốn sách “Phân tích diễn ngôn và một số vấn đề lí luận và
phương pháp” [34,tr.157]. Tác giả cho rằng đây là “phương pháp phân tích toàn bộ
14
một chỉnh thể diễn ngôn dựa trên mạch lạc.” Ngôn ngữ có chức năng giao tiếp vŕ
chức năng giao tiếp của nó được thể hiện bằng nhiều hình thức trong đó có văn bản.
Nhiệm vụ của văn bản hay bất cứ hình thức thực hiện chức năng giao tiếp nào của
ngôn ngữ là phải truyền tải nội dung cần thông báo của các bên tạo dựng văn bản.
Mạch lạc là yếu tố mà không có nó cái gọi là văn bản chỉ là các câu văn đứng cạnh
nhau. Ngoài ra, mạch lạc còn giúp người tiếp nhận văn bản hiểu chính xác được
trọng tâm thông báo, làm hoàn thiện chức năng thông báo của văn bản. Đây là vấn
đề rất quan trọng giúp chúng tôi nghiên cứu yếu tố nào giúp thủy thủ đọc những bức
điện siêu rút gọn mà vẫn chính xác tuyệt đối.
Nguyễn Hòa nhận xét về đường hướng này như sau: “Đây là đường hướng
chức năng coi diễn ngôn như là một quá trình giao tiếp tương tác giữa các thành
viên của xã hội”. Tác giả cũng nhấn mạnh“để giải thích rõ ràng tính chất giao tiếp
tương tác của diễn ngôn, cần phải dựa vào mạch lạc. Và đến lượt nó, mạch lạc lại
được dựa trên cơ sở cấu trúc hình thức.”
Halliday cho rằng “…đôi khi có người cho rằng có thể tiến hành phân tích
diễn ngôn mà không cần đến ngữ pháp. Đấy chỉ là một ảo tưởng mà thôi. Không
dựa trên ngữ pháp, phân tích diễn ngôn không phải là sự phân tích, mà chỉ thuần
ngữ pháp điển hình. Việc phân tích đặc điểm từ vựng và ngữ pháp cũng là điểm gặp
nhau của hai đường hướng phân tích diễn ngôn được lựa chọn để triển khai luận án
này. Đề tài mà chúng tôi đang triển khai nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của một
loại hình văn bản đặc biệt ngắn gọn. Chính mạch lạc trong văn bản điện tín đã giúp
thủy thủ đọc một văn bản ngắn gọn đến biến dạng mà vẫn hiểu chính xác nội dung
thông báo. Vì vậy, chúng tôi chọn đường hướng phân tích diễn ngôn tổng hợp để
phân tích diễn ngôn ĐTHH.
1.2.4. Yếu tố đặc trưng chung của văn bản.
1.2.4.1. Cấu trúc văn bản
Mỗi loại văn bản đều có một cấu trúc nhất định, tức là có sự tổ chức, sắp xếp
các bộ phận có nghĩa theo một hình thức nào đó để đạt được mục đích giao tiếp hiệu
quả nhất. Các kết cấu hay còn gọi là bố cục này tạo lên các khuôn hình văn bản.
Một số văn bản trong hành chính công vụ như công văn, đơn từ, tờ khai, công hàm,
điều lệnh, v.v…được qui định sẵn theo mẫu. Đây là những văn bản có khuôn hình
16
cố định cứng nhắc. Khác biệt với văn bản có khuôn hình cố định cứng nhắc này là
các văn bản có khuôn hình linh hoạt. Văn bản có khuôn hình linh hoạt được chia
nhỏ thành văn bản có khuôn hình thường dùng và tùy chọn.
-
Cấu trúc khuôn hình văn bản cứng nhắc
Diệp Quang Ban [5,tr.103] chi tiết hóa loại hình văn bản cứng nhắc như sau :
“ Văn bản có khuôn hình cố định cứng nhắc, đã được định sẵn, loại như các văn
bản quy thức dùng trong công vụ hành chính…cụ thể là các công văn, đơn từ, tờ
khai, công hàm, điều lệnh,v.v…” Những văn bản này có mẫu qui định sẵn. Người
dùng chỉ việc điền thông tin liên quan vào chỗ trống hay chế bản lại các phần quy
định cứng. Theo Hoàng Anh [1, tr.13] các văn bản có khuôn hình cứng nhắc bao
nghĩa được tên truyện. Diệp Quang Ban [5, tr.105] khẳng định: “Kết cấu của văn
bản có khuôn hình thường dùng gồm có bốn thành tố - đó là ĐẦU ĐỀ, PHẦN MỞ,
PHẦN THÂN, PHẦN KẾT”
Kết cấu khuôn hình văn bản tùy chọn. Kết cấu khuôn hình văn bản tùy chọn
không có quy định chính thức. Các phần được linh hoạt theo ý người soạn và theo
Diệp Quang Ban [5, tr.104] loại văn bản này thường thấy trong các loại hình văn
bản văn học nghệ thuật. Để một chuỗi câu đứng cạnh nhau trở thành văn bản thì
nhất thiết nó phải có yếu tố mạch lạc và tính mạch lạc này được tăng cường bởi yếu
tố liên kết. Dưới đây, chúng tôi trình bày chi tiết về hai yếu tố kể trên.
1.2.4.2. Liên kết
- Khái niệm về liên kết
Liên kết (Cohesion) là một yếu tố quan trọng của văn bản (text). Chính vì vậy,
khi nghiên cứu văn bản, các nhà nghiên cứu không thể không tìm hiểu yếu tố liên
kết trong văn bản đó.
Halliday cho rằng: “hiện tượng liên kết xảy ra trong trường hợp việc hiểu
được một yếu tố nào đó trong diễn ngôn phụ thuộc vào yếu tố của một diễn ngôn
khác” (Cohesion occurs where the INTERPRETATION of some element in the
discourse is dependent on that of another [101, tr.4]).Theo Halliday, liên kết được
hiểu là sự liên hệ ràng buộc giữa các câu trong một văn bản. Để hiểu được yếu tố
nào đó trong câu văn này phải liên hệ với câu văn khác.
Diệp Quang Ban [6, tr.347] định nghĩa như sau: “Liên kết, xét tổng thể, là một
bộ (tập hợp) các hệ thống ngữ pháp – từ vựng phát triển một cách chuyên biệt
thành một nguồn lực có thể vượt qua các biên giới của câu, giúp cho các câu trở
18
thành một chỉnh thể. Liên kết, xét cụ thể, là quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn
ngữ nằm trong hai câu (hai mệnh đề) theo cách giải thích nghĩa cho nhau. Nói rõ
hơn, liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu mà
muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và
ngữ và cách sử dụng chúng đúng cách càng làm tăng tính liên kết cho văn bản. Một
văn bản có chủ đề thống nhất là một văn bản có nhiều yếu tố từ vựng có nghĩa liên
quan với nhau hay có quan hệ nghĩa với nhau.
Trần Ngọc Thêm và Diệp Quang Ban trong các công trình nghiên cứu riêng
của mình đều thừa nhận có hai loại liên kết, đó là (1) liên kết nội dung và (2) liên
kết hình thức.
Liên kết nội dung: Theo Trần Ngọc Thêm [66, tr.20], một văn bản có liên kết
nội dung là một văn bản, “ tất cả các câu trong đó đều phối hợp một cách hài hòa
bổ sung cho nhau để cùng thể hiện một nội dung ”. Theo tác giả, một văn bản được
đánh giá là có liên kết nội dung khi và chỉ khi sự xuất hiện của tất cả các câu trong
văn bản đó phục vụ mục đích diễn đạt thống nhất một nội dung xuyên suốt. Liên kết
nội dung được Trần Ngọc Thêm chia nhỏ thành hai tiểu loại là liên kết chủ đề và
liên kết logic. Trong hai tiểu loại của liên kết nội dung, liên kết chủ đề đóng vai trò
quan trọng hơn cả. Để có được tiểu loại này, các câu trong văn bản phải “xoay
quanh” một chủ đề hay chủ đề của văn bản được thống nhất thông qua việc nhắc lại
cùng sự vật hay một việc nào đó trong các câu có liên kết với nhau. Liên kết lô-gích
là sản phẩm của sự ăn khớp giữa các câu theo một logic chặt chẽ.
Diệp Quang Ban cho rằng liên kết lô-gích xảy ra ở hai phạm vi rộng hẹp khác
nhau. Phạm vi hẹp là nội trong một câu, và phạm vi rộng là giữa các câu văn khác,
giữa các cụm câu này với cụm câu khác và thậm chí giữa phần này với phần khác
trong cùng một văn bản.
Liên kết hình thức: Diệp Quang Ban [5, tr.134] cho rằng “Liên kết hình thức
phải được hiểu là liên kết bằng các phương tiện hình thức của ngôn ngữ”. Theo
Diệp Quang Ban, liên kết hình thức có thuộc tính khá hạn hẹp, chỉ diễn ra bằng
phương thức lặp ngữ âm và lặp cấu trúc ngữ pháp. Cả hai tác giả đều thống nhất cho
rằng tuyệt đại đa số các trường hợp đều phải căn cứ vào mặt nghĩa của các yếu tố
được liên kết với nhau.
20
Phép nối
Phép phối hợp
Phép tỉnh lược
Phép thế